|
|
2008
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2007
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2006
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2005
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2004
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2003
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2002
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
c
NEW POSTING THÁNG
8-2004
 |
 |
Sự
vô thường biến thiên từng sát na hoàn toàn đi ngược lại
với lòng trông mong ước vọng của con người. Ở đời, ai
lại không muốn trẻ mãi sống hoài, ai lại không muốn được
vinh hoa phú quý. Nhưng trên thực tế sự sinh diệt biến hoại
xảy ra trong từng giây từng phút. Bởi vậy chỉ trong một
khắc thôi thử hỏi con người làm sao có thể tầm cầu được
một sự an định và vui sướng thường hằng như ước mong
kỳ vọng? Mặt khác, sự kiện “chư hành vô thường” là
căn cứ phủ định cái ngã thường hằng, tương đồng với
cái gọi là “vô ngã.” Vô ngã có nghĩa là đời không có
cái gì chân chính gọi là tự chủ. Như vậy, ở đâu có vô
thường thời ở đó không có sự tự chủ. Đã không có sự
tự chủ thời không có cái ta, cái của ta, không có sự tự
do của ngã, ngã sở. Kết luận: Trong thế gian, con người
hằng mong tầm cầu được sự tự chủ nhưng không được
nên không thể không nhận là khổ. Xem
Chi Tiếp: Hữu
Thể và Thời Gian, Hồng Dương
Ấn
độ là xứ có rất nhiều tôn giáo. Tôn giáo gắn liền với
đời sống và trở nên một động lực rất mạnh làm chủ
mọi sinh hoạt người dân xứ này. Người Ấn thường tự
hào rằng văn hoá của họ là một thứ văn minh tôn giáo và
dân xứ này được thừa hưởng một kho tàng minh triết thiêng
liêng không đâu có. Vì thế Hội Khoa Học Hoàng Gia đã bảo
trợ cho phái đoàn đến Ấn độ để nghiên cứu những hiện
tượng huyền bí này. Xem
Chi Tiếp: Hành
Trình Về Phương Đông, Nguyên Tác: Blair T. Spalding - Việt dịch:
Nguyên Phong
Hôm
nay bầu trời ở ngoài mưa to như vậy, cũng chính là lúc phải
giảng kinh Quán Vô Lượng Thọ này. Mưa là biểu thị cho Phật
Pháp thấm nhuận đến mọi loài chúng sanh, tùy mọi căn cơ
mỗi người mà nhận lãnh được mùi vị của nó. Cây cỏ
ở ngoài nhờ trận mưa này sinh tươi nảy nở, vì đã được
trận mưa này tưới nhuận vào từng mỗi cây. Cây nhỏ thì
hút ít một chút, cây lớn thời hút được nhiều một chút,
tóm lại, mỗi mỗi loại cây bình đẵng đều được lợi
ích, mà không loại nào mà không được thấm nhuần trận
mưa pháp này. Cũng vậy, hôm nay cơ duyên của chúng ta
đã được chín mùi, nên nay mọi người đều về đây để
tham dự Pháp hội mà không bị trận mưa lớn như thế làm
trở ngại. Phật Pháp thật mầu nhiệm như là trận mưa này
sẽ cho quí vị được lợi ích lớn. Lợi ích lớn như thế
nào? Có phải là cho quí vị trúng lô tô, cho quí vị danh lợi
thì gọi là lợi ích hay không?. Xem
Chi Tiếp:Kinh
Quán Vô lượng Thọ Giảng Thích, Tỳ Kheo Thích Hằng Quang
Hưng
cầm thơ mẹ trên tay thật lâu, nghe lòng thương yêu tràn ngập,
rồi mới từ từ mở ra nghiền ngẫm từng giòng chữ
ngọt ngào của mẹ. Mẹ là nhà giáo, chữ viết của bà đều
đặn mẫu mực mà vẫn mang nét ẻo lả mềm mại dịu hiền
của người đàn bà Đông phương thuần hậu. Bà thường gói
ghém tình thương của mình vỏn vẹn trong hai trang giấy, nâng
niu gởi đến con những lời thăm hỏi sức khỏe, nhắc nhở
con gìn giữ đạo đức gia phong, khuyên con nhớ đi chùa lễ
Phật, bà tuyệt nhiên chẳng bao giờ kể lể những chuyện
thị phi, chuyện làng trên xóm dưới, cũng không bao giờ đòi
hỏi con cung cấp tiền bạc. Ngay trường hợp lâm bệnh thình
lình, tiền bạc eo hẹp bà vẫn lẵng lặng chịu đựng chớ
chẳng hề thở than khiến con cái phải bận tâm lo lắng. Dầu
biết nội dung thơ cũ rích nhưng chàng vẫn nôn nóng mở thơ,
đọc những giòng chữ thương yêu của mẹ, để đón nhận
tình mẫu tử dạt dào vượt qua bờ đại dương sang ấp ủ
chàng. Ngờ đâu lần nầy thơ bà có vẻ khác thường, chẳng
những dài đến bốn trang, mà cũng không có những cụm từ
thương nhớ dặn dò thường nhật. Thơ viết :.. Xem
Chi Tiếp: Bồ Tát Đưa Thơ, Truyện
Ngắn của Huỳnh Trung Chánh
Luân
hồi là một hình thức biểu hiện hiện tượng sinh diệt
của các pháp qua định thức duyên khởi từ nhân qua quả.
Qua đó nghiệp lực là sức mạnh chủ động hình thành sự
sinh diệt biến đổi lưu chuyển được thể hiện qua quá
khứ-hiện tại-tương lai theo thời gian, tuỳ thuộc vào từng
thuộc tính của mỗi cá nhân và Cộng đồng xứ sở (biệt
nghiệp và cộng nghiệp) và tuỳ thuộc vào sức nhanh chậm,
mạnh yếu của tác nhân nghiệp đã được tạo ra bỡi thân-khẩu-ý
do ba độc tham-sân-si từ vô minh phát khởi của chúng ta trong
quá khứ, trong hiện tại, hay trong tương lai mà luân chuyển
theo chúng. Vậy luân hồi có được và hiện hữu tuỳ thuộc
vào lực dụng của nghiệp nhân đã được tạo ra từ hành
vi của mỗi chúng ta và, theo đó mà biến chuyển từ nơi này
sang nơi khác, từ cõi này sang cõi nọ, trong ba cõi sáu đường
để nhận lãnh báo thọ quả mà mình đã tạo ra trước đó. Xem
Chi Tiếp:Luân
Hồi Nghiệp Báo, TT. Thích đức Thắng
Nhân
quả là một định luật tất yếu trong sự hình thành nhân
sinh quan và vũ trụ quan qua liên hệ duyên khởi của cuộc
sống con người, mà qua đó nhân quả được coi như là một
luật tắc không thể thiếu được khi hình thành một xã hội
nhân bản đạo đức. Nhân quả vì thế không chỉ có riêng
của Phật giáo, mà trước đó và ngay trong thời kỳ đức
Phật còn tại thế, các luận sư ngoại đạo cũng đã lập
thành luận thuyết chủ trương rõ ràng rồi, nhưng cũng vì
kiến giải quá nhiều về nhân quả, nên mọi kiến giải trở
thành đa thù sai biệt và chống đối nhau trên quan điểm nảy
sinh ra bốn loại mà đức Phật gọi là tà chấp. Đức Phật,
chỉ kết hợp lại những gì khế cơ khế lý mà thành lập
nhân quả Phật giáo. Nhân quả Phật giáo vì thế đã trở
thành hai hệ thống qua Phật giáo phát triển của các hệ
phái sau này, đó là nhân quả Tiểu thừa và nhân quả Đại
thừa trong việc kết hợp với định thức duyên khởi tùy
thuộc vào thời gian và không gian mà hình thành cơ sở lý
luận cho tất cả mọi quan hệ duyên khởi trong thế giới. Xem
Chi Tiếp:Nhân
Quả, TT. Thích đức Thắng
Nhị
đế là nhất thể, hay dị thể, khi chúng ta giải quyết những
mâu thuẫn cấu kết ngôn ngữ qua danh và giả danh này rốt
ráo thì con đường trung đạo của Nhị đế sẽ hiển hiện
ra dưới dạng không nhất không dị. Khi mà tự ngôn ngữ phủ
định những xác định trói buộc cũng do ngôn ngữ tạo ra,
thì lúc đó con đường trung đạo sẽ tự hiện. Trước hết
sự hiện hữu của bản thể có được là nhờ vào sự hiện
hữu của biểu tượng ngôn ngữ qua cái danh. Vì bản thể
là một thực tại tuyệt đối, nên thực tại tuyệt đối
luôn luôn là bất khả thuyết, nhưng ngay bản chất của ngôn
ngữ biểu tượng cũng là bất khả thuyết, cho nên có một
sự tương ứng giữa tiến trình biểu tượng và tiến trình
bản thể thực tại, chúng không những không đánh mất tinh
thể của ngôn ngữ, mà còn mang lại cho ngôn ngữ một giá
trị như là một con đường đi đến tuyệt đối của bản
thể qua giả danh. Xem
Chi Tiếp:Nhị
Đế Từ Hiện Tượng Đến Bản Thể, TT. Thích đức Thắng
Tứ
đế là pháp nguyên thỉ đầu tiên được đức Phật chuyển
pháp luân nơi vườn lộc dã cho năm vị tỳ kheo, sau khi Ngài
thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Là giáo nghĩa cơ
bản dùng để giải thích mọi hiện tượng nhân sinh vũ trụ
được quy nạp từ thập nhị nhân duyên, cũng là con đường
trung đạo duy nhất giải thoát sinh tử luân hồi, là những
lời dạy đại cương trên đại thể của giáo nghĩa nguyên
thỉ của đức Phật cho cả Tiều thừa lẫn Đại thừa sau
này. Nhưng trên thực tế, như kinh Diệu pháp Liên hoa[1]
(Puṇḍarika) đã nói rõ là có sự nhận thức sai biệt quan
trọng về các Thánh đế (āryasatayā) cũng như lý Duyên khởi
(Pratītyasamutpāda) trong việc chứng đắc Niết-bàn (Nirvāna)
giữa các nhà Tiểu thừa và Đại thừa, nghĩa là một chúng
sanh theo các nhà Tiểu thừa, muốn đạt được Niết-bàn thì
phải vượt qua khỏi sinh tử (samsāra) mới đạt được cảnh
giới Niết-bàn ngoài sinh tử, hay đi từ trạng thái thế gian
(laukika) đến một trạng thái xuất thế gian (lokuttara). Còn
theo các nhà Đại thừa thì giữa sinh tử và Niết-bàn không
có sự sai khác nào. Thế gian có được chỉ là một sự hiện
hữu tương đối, giả tạm không thật có, nhờ nhận thức
và thực hành như vậy nên chứng được Niết-bàn chân thật,
còn gọi là Tathatā (như thật tánh) hay Sūnyatā (không tánh). Xem
Chi Tiếp:Tứ
Đế, TT. Thích đức Thắng
Tôi
có đọc quyển "Hồi dương nhân quả" trong đó có "Ngọc
lịch minh kinh" đề cập đến 10 cửa địa ngục với 10 vị
(Thập điện) Diêm vương, cũng đồng thời tôi có đến một
số chùa có vẽ 10 cửa ngục bằng tranh. Không biết quyển
sách này có phải của Phật giáo không, tôi có hỏi một số
vị, có vị nói không phải Phật giáo, có vị giải thích
chung chung khiến tôi khó xác định, xin cho biết ý kiến về
vấn đề này ?. Xem
Chi Tiếp: Trả Lời Câu Hỏi
Về Cuốn Sách Hồi Dương Nhân Quả
 Sách
này được nhà xuất bản An Tiêm tại Việt nam xuất bản
lần thứ nhất vào tháng hai năm 1975, dưới nhan đề là Ý
THỨC EM MẶT TRỜI TỎ RẠNG. Đến nay, sách được tái
bản nhiều lần tại Hoa Kỳ và đã được dịch và xuất
bản bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau. Xem
Chi Tiếp: Phép
Lạ Của Sự Tỉnh Thức, HT. Thích Nhất Hạnh
Tiếng
Pali của "tám pháp thế gian" là "atthalokadhamma". "Attha" là tám,
"loka" là thế gian, và "dhamma" là pháp. Atthalokadhamma còn được
dịch là Bát Pháp, hay Bát Phong, là tám ngọn gió làm rung chuyển
thế gian. Đó là: được (làbha) và mất (alàbha), danh thơm
(yasa) và tiếng xấu (ayasa), ca tụng (pasamsà) và khiển trách
(nindà), hạnh phúc (sukha) và đau khổ (dukkha). Xem
Chi Tiếp:Tám
Pháp Thế Gian, Bình Anson
New
York (Reuters Health) - Chức năng bộ phận thận của những người
bị bệnh tiểu đường loại 2 có vẻ như được cải thiện
nhờ một chế độ dinh dưỡng bằng chất đạm (protein) đậu
nành, kèm thêm một lợi ích khác nữa là hàm lượng cholesterol
tốt cũng được gia tăng.
Chức
năng của bộ phận thận thường bị suy sau một thời gian
dài mắc bệnh tiểu đường. Nghiên cứu mới đây trên
14 nam giới bị yếu thận do bệnh tiểu đường cho thấy,
một chế độ dinh dưỡng giàu protein từ đậu nành có thể
giúp kiểm soát tình trạng trên. Đây là bằng chứng đầu
tiên về tác dụng bổ thận của đậu nành đối với bệnh
nhân loại này. Xem
Chi Tiếp:Protein Đậu Nành Giúp
Người Bệnh Tiểu Đường Loại 2
Trước
những luận đề triết học lớn nhất của con người như
vũ trụ này do đâu mà có, thế giới hiện tượng này do những
gì cấu tạo nên, quy luật vận động của nó là gì..., đạo
Phật cho ta một số lý giải đáng chú ý. Thế nhưng, Đức
Phật cũng như các vị thánh nhân Phật giáo xưa nay chưa bao
giờ khuyên ta dùng đầu óc của tri thức và lý luận để
đi tìm thực tính của thế giới. Các vị đó cho rằng, tự
tính của vạn pháp có thể liễu ngộ được, nhưng thông
qua con đường của tu tập, của thiền quán, của sự thăng
hoa ý thức. Đến một lúc nào đó, con người sẽ đạt một
mức độ chuyển hóa của trí tuệ và tuệ giác sẽ nhận
thức tự tính của thế giới một cách trực tiếp(1).
Đức Phật là người thực chứng điều đó và Ngài được
gọi là bậc “giác ngộ” Xem
Chi Tiếp:Chẳng
Đến Chẳng Đi, Nguyễn Tường Bách
Pháp
Sư Thái Hư cũng như Hòa thượng Thích Minh Châu đều dùng
các từ Như Lai Thiền để chỉ Thiền Nguyên thủy và Tổ
sư Thiền để chỉ các hình thức Thiền Phát triển sau này.
Hai dòng thiền này do Tổ sư các Thiền phái nổi danh đề
xướng và truyền lại cho đệ tử của mình. Cũng có người
dùng các từ Thiền Tiểu giáo (tức Thiền Tiểu thừa) và
Thiền Đại giáo (tức Thiền Đại thừa) để nói lên đặc
điểm của hai dòng thiền trên như Trần Thái Tông trong bài
“Tọa Thiền luận” của “Khóa hư lục”.
Là
những người hậu học, chúng ta hãy thử không chấp nê vào
từ ngữ, và nghiên cứu xem những gì là mới, là sáng tạo
mà các Tổ sư đã đem lại cho nội dung và hình thức của
Như Lai Thiền, tức là Thiền Nguyên thủy, như chúng ta đã
biết trong các bài kinh nổi danh, như kinh Tứ Niệm Xứ (Satipatthanautta,
Trung Bộ I, tr.96), kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm, Thân Hành
Niệm, Đại Kinh Bốn Mươi (Trung Bộ III, tr. 194, 206, 184), v.v.. Xem
Chi Tiếp:.Bàn
Về Thiền Nguyên Thuỷ và Thiền Phát Triển, Minh Chi
Theo
Phật giáo, có được thân người là ta đã được cung cấp
những điều kiện cho sự tự do và thuận lợi để thực
hành pháp. Không những ta phải có những tiền đề thuộc
về vật lý (thân thể) cần thiết cho sự thực hành Pháp,
mà ta cũng phải có một tâm thức bao gồm ba loại niềm tin.
Sự
tự do mà ta nói đến chính là tự do không hoàn toàn bị bận
tâm bởi những vấn đề khác. Ví dụ nếu bị sinh ra trong
những cõi có quá nhiều nỗi khổ, ta sẽ hoàn toàn bị chiếm
lĩnh bởi những tình huống đó đến nỗi không có chút cơ
hội nhỏ bé nào để thực hành Pháp hay dành thì giờ cho
những sự việc tích cực khác.
Đức
Phật đã giảng về tám cảnh giới khác nhau không có sự
tự do để thực hành Pháp. Ngài giảng dạy bằng cách tương
ứng vói cách con người suy tưởng trong thời gian đó (thời
đại khi Đức Phật còn tại thế). Tuy nhiên ngày nay chúng
ta nên hiểu rằng những cõi đó không được coi như những
nơi chốn đặc biệt, mà đúng hơn chúng là những loại kinh
nghiệm mà chúng sinh có được từ kết quả chín muồi nơi
nghiệp của riêng họ. Xem
Chi Tiếp: Đừng
Bỏ Phí Cơ Hội Thực Hành Pháp, Thanh Liên dịch
Như
khoa học, như tất cả các ngành học thuật và nghệ thuật
khác, Phật giáo cũng đi tìm thực tại tối hậu, thể tính
tối hậu của con người, ngoại vật. Chỉ nói riêng phương
diện thí nghiệm, đối với Phật giáo, phòng thí nghiệm chính
là thân tâm của con người, người thí nghiệm và đối tượng
thí nghiệm cũng là thân tâm ấy. Thân tâm chúng ta có đủ
các nguyên tố căn bản của vũ trụ, từ thô đến tế, cho
nên thí nghiệm với đối tượng là thân tâm cũng chính là
thí nghiệm với đối tượng là vũ trụ.. Xem
Chi Tiếp:.Khoa
Học Hiện đại và Con Đường Phật Giáo, Nguyễn Thế Đăng
Hồi
Ký Cứu Trợ Bão Lụt Miền Bắc Ấn, Thích Thông Lý
Phật
Giáo là một hệ thống tín ngưỡng có tính bao dung đối với
các tín ngưỡng hay tôn giáo khác. Phật Giáo chấp nhận các
lời giảng đạo đức của các tôn giáo khác, nhưng Phật
Giáo còn tiến xa hơn, bằng cách cung ứng một mục tiêu dài
hạn trong sự hiện hữu của chúng ta, qua trí tuệ và sự
hiểu biết thật sự. Phật Giáo chân chính thì rất bao dung,
và không quan tâm chi đến các nhãn hiệu như là "tín hữu
Ky-tô giáo", "tín hữu Hồi giáo", "tín hữu Ấn-độ giáo",
hay "Phật tử". Vì vậy, trong lịch sử, không bao giờ có các
cuộc thánh chiến mang danh Phật Giáo. Cũng vì thế mà những
người Phật tử không đi truyền giảng hay cải đạo người
khác; họ chỉ giảng giải nếu được ai hỏi đến. Xem
Chi Tiếp:Tóm
Tắt Căn Bản Phật Giáo, Bhikku Dhammika - Việt dịch Bình Anson
Mỗi
năm cứ gần đến trăng tròn tháng 7 âm lịch và cũng là cuôi
mùa hạ, bát dầu sang thu lá vàng rụng xuống, lá xanh trồi
lên, bông hoa lá bát dầu chớm nở, sau một mùa oi bức, nóng
nực của cái nóng mùa hè. Thời tiết thay đổi thì lòng người
cũng đổi thay để chuẩn bị tổ chức đại lễ Vu Lan, đó
là mùa “Báo ân cha Mẹ”, lễ Vu-Lan đã để lại từ ngàn
xưa mà Đức Mục-Kiền-Liên là tiêu biểu, gương mầu,
suốt cả nghìn đời mà Đức Phật đã để lại, cho hàng
Phật tử để lấy đó làm gương noi theo Xem
Chi Tiếp. Ý
Nghĩa Đại Lễ Vu Lan, Nguyễn đức Can
Muốn
đem lại hòa bình cho thế giới , trước hết mỗi người
chúng ta phải tự chuyển hoá chính mình. Đó là con đường
cam go nhưng không còn con đường nào khác. Đi tới đâu tôi
cũng nhắc nhở điều đó và tôi sung sướng khi thấy nhiều
người từ nhiều tầng lớp cũng đồng quan điểm này. An
Lạc phải bắt đầu từ nơi mỗi chúng ta mà , từ , bi, hỉ
, xả là nền tảng . Có từ, bi, hỉ , xả , thì đi đâu ta
cũng gieo rắc tình thương và sự hoà hợp, đi dâu ta cũng
đem an lạc, hạnh phúc đến cho mọi người và mọi lòai.
Cuốn
sách An Lạc Từng Bước Chân của thầy Nhất Hạnh là kim
chỉ nam cho mỗi chúng ta trên con đường cam go ấy. Thầy dạy
phép quán niệm hơi thở để giúp ta giữ sự an lạc của
thân tâm và thấy được sự liên hệ mật thiết giữa sự
an lạc của thân tâm ta và của thế giới . Đây là một cuốn
sách giá trị, có thể thay đổi được hoàn cảnh xã hội
và đời sống một con người.. Xem
Chi Tiếp An
Lạc Từng Bước Chân, HT Nhất Hạnh
Đúng
vào hôm tôi vừa ở Phật Học Đường Báo Quốc về thì Vĩnh
đến thăm. Anh đến mang cho tôi một chồng sách Phật viết
bằng tiếng Pháp mà anh mới gởi mua ở tận xứ xạ Anh cũng
không quên mang tặng chú Tâm Mãn một cuốn tự điển Pháp
Việt mới xuất bản, bởi vì anh biết chú Mãn đang cần cuốn
này để học thêm Pháp văn.. Xem
Chi Tiếp:Giọt
Nước Cành Dương

|