|
|
2008
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2007
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2006
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2005
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2004
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2003
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2002
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
c
NEW POSTING THÁNG
9-2004
 |
 |
Ở
sự hài hoà của kiến trúc và phong cảnh những ngôi chùa
trên đất Cố đô xưa, đâu đó là huyền thoại, sử thi và
chuyện đời, chuyện đạo… để mỗi ai nặng lòng với mảnh
đất này, không khỏi tơ vương một phần văn hoá Huế, dưới
những mái chùa đã đi qua phong sương thời gian. Ở đấy nơi
cửa thiền, ngoài tín ngưỡng và ấn đạo… còn là tâm thức
nhân văn. Trong số ấy có chùa Huyền Không.
Chùa
xưa người cũ vạn đời
Đất
thiêng liêng dựng khoảng trời linh thiêng
Theo
con đường ven sông Hương ngược về nguồn ta tìm đến chùa
Huyền Không ở thôn Nham Biền, Hương Trà ngoại vi Thành phố
Huế. Đây là ngôi chùa Phật Giáo Nam Tông, hậu thân của
chùa Huyền Không ở Lăng Cô, Phú Lộc xưa...
. Xem
Chi Tiếp:Chùa Huyền
Không Ở Huế
Con
em của bạn đi học xa từ mùa thu năm nay. Có thể là ở các
đại học xa tận Miền Đông như New York, Pennsylvania, vân vân...
Thỉnh thoảng, bạn điện thoại, và hỏi xem cô cậu này có
còn đi chùa mỗi tuần không. Mọi chuyện lúc đầu vẫn như
bình thường ở đây, California. Cho tới một hôm, bạn được
trả lời rằng con không vào chùa nữa. Bạn tưởng rằng con
em bạn bận học, nhưng khi hỏi vặn, thì biết rằng không
đi chỉ vì không muốn đi. Chỗ này phức tạp hơn là chúng
ta nghĩ, bởi vì có thể đây là một vùng đất thật xa, nằm
ngoài thế giới của bạn trước giờ hình dung. Bởi vì sẽ
có nhiều nghĩa hàm hồ nơi đây, mà con em bạn không muốn
nói rõ. Không phải vì cô cậu đã mất hay nhạt đi tín ngưỡng,
nhưng có thể vì đây là một miền đất mới của xã hội
Hoa Kỳ... Xem
Chi Tiếp:.Bên
Ngoài Giáo Hội, Nguyên Giác
Sự
phát triển của khoa học hiện đại đã tiến tới rất cao,
nhưng chỉ hướng về mặt công trình hiển tánh mà phát triển,
đối với mặt công trình ẩn tánh, hình như chẳng biết gì
cả. Vì chẳng biết nên phủ nhận sự tồn tại của nó.
Kỳ thật, cấu tạo con người chia làm 2 bộ phận: Thể
xác và tinh thần. Như thấy hình ảnh trong gương của ta chỉ
là bề ngoài của ta, giải phẩu sinh lý của ta chỉ là thể
xác của ta, đều chẳng phải chân thật ta. Chân thật ta là
thể tinh thần, cũng gọi là tâm linh. Trí tuệ của thể tinh
thần thông qua của ngũ giác quan (xem, nghe, ngửi, nếm, tiếp
xúc) thì có thể cảm nhận hiện tượng bên ngoài. Vật lý
khoa học hiện đại đều lấy ngũ giác quan làm chủ, những
máy móc tối tân chỉ là khuếch trương thêm sự cảm nhận
của ngũ giác quan, nghĩa là có thể nhìn xa hơn và nghe xa hơn
mà thôi. Nhưng trong thể tinh thần còn có bộ phận cảm
nhận siêu ngũ giác quan ẩn bên trong, nhà khoa học lại phủ
nhận sự tồn tại của nó, ấy cũng là phạm vi nhận thức
hợp lý của người địa cầu trong không gian ba chiều. Lập
trường của chúng tôi biên soạn quyển sách này là muốn
kiến lập toàn diện về vũ trụ vô cực, mở mang không gian
ba chiều tiến lên không gian bốn chiều, cho đến nhiều chiều….. Xem
Chi Tiếp:Tâm
Linh Khoa Học Trong Phật Pháp, HT, Thích Duy Lực
Trong
Phật pháp có nói “nhứt thiết duy tâm tạo”, tâm lực mình
mạnh có ảnh hưởng đến cha mẹ được sửa đổi tâm, mới
là báo ân. Nếu tâm tham thiền, không những báo ân cha mẹ
đời nay, mà báo ân cha mẹ nhiều kiếp trước. Tâm lực của
mình yếu thì không thể báo ân, tụng kinh để báo ân thấy
rất khó, ở thời Phật không có tụng kinh. Ngày xưa Phật
bảo Mục Kiền Liên muốn báo ân mẹ, nên thiết trai cúng
dường trai tăng 1.000 vị Tỳ kheo chứng quả A la hán. Việc
ấy, Phật muốn người ta cúng dường chư Tăng để có thì
giờ tu hành độ chúng sanh giải thoát khổ, nên sức đó mới
lớn. Trong nhà Phật có báo tứ ân: ân Phật, ân chúng sanh,
ân sư trưởng, ân cha mẹ. Tại sao chúng sanh là ân? Vì tất
cả chúng sanh đều là cha mẹ, vô lượng kiếp chúng sanh đều
làm cha mẹ mình; chứ không phải chỉ có cha mẹ kiếp này.
Sư trưởng dạy mình biết tu giải thoát. Phật cũng vậy,
dạy cho mình biết tu giải thoát, cho nên gọi là tứ ân. Quyết
tâm tham thiền thì tứ ân đều báo hết, nếu tụng kinh để
báo ân là do người tụng kinh ấy có thật chân tu cảm ứng
tâm người đó có thể sửa đổi... Xem
Chi Tiếp:Vấn
Đáp Thiền Và Phật Pháp, HT. Thích Duy Lực
BỬU
TẠNG LUẬN tác giả là Tăng Triệu, bài luận này và bộ TRIỆU
LUẬN đều có ghi trong tập 96 của TỤC TẠNG KINH, nhưng bộ
Triệu Luận đã lưu hành từ xưa nay, mà trong đó lại
sót bài luận này, chúng tôi xét thấy bài luận này diễn
tả thể dụng của tự tánh rất hay, nhất là dùng hai chữ
ly vi để sáng tỏ bản thể của tự tánh. Tự tánh vốn chẳng
thể dùng lời nói để diễn tả được mà tác giả lại
phương tiện giải thích rất kỹ càng.
Chúng
tôi hy vọng: độc giả nhờ bài luận này được tăng cường
lòng tin đối với tự tâm, do đó quyết chí tu hành cho
đến kiến tánh, chớ nên lầm tưởng, chấp thật lời phương
tiện cho là chẳng cần tu, cũng như tự tánh chẳng cần ăn
cơm mặc áo, nhưng người học đạo vẫn cần ăn cơm, mặc
áo vậy. (Thích Duy Lực). Xem
Chi Tiếp: Bửu
Tạng Luận, Đại Sư Tăng Triệu - HT. Thích Duy Lực Việt dịch
Hằng
ngày, vào buổi sáng sớm và buổi tối, các Phật tử trong
truyền thống Nam tông thường tụng các bài kinh văn căn bản,
trong đó, có bài tụng về các ân đức Tam Bảo, Phật-Pháp-Tăng.
Ở đây, xin mạo muội trình bày sơ lược về ý nghĩa các
lời tán dương Tam Bảo đó, dựa theo một tập sách dạy Pàli
của Tỳ-khưu Nguyệt Thiên IndacandaNiệm
Ân Đức Tam Bảo, Bình Anson
Lời
dẫn nhập của người biên dịch: Tây Du Ký tiêu biểu
cho tiểu thuyết chương hồi bình dân Trung Quốc, có ảnh hưởng
sâu sắc đến sinh hoạt xã hội các dân tộc Á Châu. Không
những nó đã có mặt từ lâu trong khu vực văn hóa chữ Hán
(Trung, Đài, Hàn, Việt, Nhật) mà từ cuối thế kỷ 19, qua
các bản tuồng các gánh hát lưu diễn và văn dịch, Tây Du
Ký (TDK) đã theo ngọn gió mùa và quang thúng Hoa Kiều đến
Thái, Mã Lai, In-đô-nê-xia và các nơi khác trên thế giới.
Âu Mỹ cũng đánh giá cao TDK, bằng cớ là Pháp đã cho in bản
dịch TDK Le Pèlerin vers l’Ouest trong tuyển tập Pléiade trên
giấy quyến và học giả A. Waley đã dịch TDK ra Anh ngữ từ
lâu ( Monkey, by Wu Ch’eng-en, Allen & Unwin, London, 1942). Ngoài
ra, việc so sánh Tây Du Ký và tác phẩm Tây Phương The Pilgrim’s
Progress (Thiên Lộ Lịch Trình) cũng là một đề tài thú vị
cho người nghiên cứu văn học đối chiếu. . Xem
Chi Tiếp:Quá
trình xây dựng nhân vật Tôn Ngộ Không, tiểu thuyết Tây
Du Ký dưới cái nhìn dân thoại học, NAKANO MIYOKO - Nguyễn
Nam Trân biên dịch và chú thích Tây du ký
Mỗi
năm tháng 7 về, lại nhắc chúng ta nhớ đến Lễ Vu Lan, nhớ
đến Mùa Báo Hiếu. Từ câu chuyện cứu Mẹ của Ngài
Mục Kiền Liên mà Phật Giáo có truyền thống báo hiếu đối
với Ông Bà, Cha Mẹ, Tổ Tiên….Những người con, nhất là
những người Phật Tử nhớ đến công sinh thành, dưỡng dục
của cha mẹ và muốn làm cái gì tốt đẹp đễ bày tỏ một
phần lòng biết ơn của mình dành các đấng sinh thànhï. Nói
vậy không có nghĩa là phải đợi tới Mùa Vu Lan tháng 7 chúng
ta mới nhớ đến công ơn cha mẹ mà sự nhớ ơn đó
luôn ở trong ta không giới hạn thời gian. Vu Lan chỉ là một
thời điểm chung để chúng ta cùng nhắc nhở nhau về ý nghĩa
cao đẹp của sự biết ơn và tỏ lộ lòng biết ơn đó. Xem
Chi Tiếp:Ý
Nghĩa Vu Lan, Toàn Diệu
Có
phải anh đạo diễn này chỉ muốn giỡn cho vui? Hay đó là
một độc chiêu tiếp thị để cho Phật Tử toàn cầu chú
ý tới? Hay tệ hơn, đó chỉ là do vô minh, do kỳ thị, do
căm thù Phật Giáo? Dù thế nào đi nữa, đạo diễn Philippe
Caland cũng đã làm tổn thương, xúc phạm nhiều Phật Tử.
Câu
chuyện mới xảy ra mấy hôm thôi, các lãnh tụ Phật Giáo
Thái Lan đã thúc giục chính phủ phản đối về chuyện một
tấm bích chương quảng cáo phim Mỹ "Hollywood Buddha," trong đó
có hình đạo diễn Philippe Caland ngồi trên đầu một tượng
Phật.
Câu
chuyện thoạt trông có vẻ giống như công án "Rắc Tro Trên
Tượng Phật" trong cuốn sách do thiền sư Triều Tiên Seung
Sahn in năm 1976 tại Hoa Kỳ - trong cuốn "Dropping Ashes on the
Buddha," thiền sư hỏi học trò phản ứng ra sao khi có một
người bước vào chùa, hút thuốc lá và rắc tàn thuốc lá
lên đầu tượng Phật. Xem
Chi Tiếp:Giỡn
Với Tượng Phật, Nguyên Giác
Trong
Tạng Luật, phần Duyên khởi hay những mẫu chuyện xảy ra
trong Tăng dẫn đến đức Phật chế giới, chiếm một số
lượng trang khá lớn, có thể lên đến một nửa hay hơn.
Cho nên, phần này được coi như cái nền của Luật Phật.
Qua những câu chuyện ở đây, cho thấy tham, sân, si, ái dục
và các kiết sử là trục chính được cụ thể theo diễn
biến chủ đạo của tâm thức, hiện ra nơi con người bằng
hành vi vừa tục, vừa thanh và bao giờ cũng sinh động trong
đời sống của kẻ đầy tham vọng ích kỷ nào đó. Chấm
dứt được các thứ hữu lậu này không hề đơn giản, bởi
vì tính cách vi tế của nó. Tuy nhiên, khả năng con người
để loại trừ được các phiền não này cũng không hề thiếu,
bởi thế, hàng Thánh Tăng luôn luôn hiện hữu trong sự chế
phục kia. Và chính những hình ảnh này hay là hình ảnh của
điều thiện mới thắng nổi cái xấu ác, mới xây dựng,
hướng dẫn cái xấu ác qui hồi. Chứ không phải cái xấu
ác bạo ngược, lôïng hành không nghe theo điều thiện để
cải hóa. Nhưng không phải bao giờ cũng được thế, lịch
sử loài người cho thấy cái xấu ác thường thắng thế và
những giai đoạn như thế thì cái độc ác trở thành hình
ảnh của khổ ải và đọa đày, kiếp khổ đau cho chính họ
mà họ không hề ý thức được. Xem
Chi Tiếp:Những
Truyện Duyên Khởi Trong Luật Ngũ Phần
Trở
Về Cội Nguồn, Tuệ Minh Đạo (Sách xuất bản năm 2000)
Tôn
Giáo và Dân Tộc, Tuệ Minh Đạo (Sách xuất bản năm 2004)
Ngoài
việc thọ trì, tuân giữ 5 điều giới căn bản trong đời
sống hằng ngày, thỉnh thoảng, trong các ngày trai giới, các
dịp lễ lớn, hay trong các khóa tu thiền tịnh tâm, người
Phật tử cư sĩ chúng ta thường giữ thêm Bát Quan Trai Giới.
Tám giới đó dựa vào năm giới căn bản, nhưng được khai
triển thêm để giúp tạo một đời sống tịnh hạnh, đơn
giản, giúp tạo các điều kiện thuận lợi để tu dưỡng
tâm trí. Đó là: Xem
Chi Tiếp:Về
Bát Quan Trai Giới, Bình Anson
Nhắc
đến xóm Giá, không một người dân nào ở Q.6, Q.5 là không
biết bởi đặc trưng nơi đây chỉ bán mỗi một loại thức
ăn chay. Con đường 702 Hồng Bàng P.1, Q.11 dài độ 100 mét
nhưng có đến mười lăm quán. Vào những ngày mùng một, rằm,
khách đến ăn nườm nượp không dưới 1.500 lượt khách mỗi
ngày, chật cả hẻm ra vào. Xóm chay này được hình thành
từ trước năm 1975, lúc đầu chỉ một hai quán nhằm đáp
ứng nhu cầu số đông người đi dâng hương lễ phật ở
những đền chùa gần đó. Từ năm 1977 đến 1990 cả xóm lần
lượt mở quán bán thức ăn chay. Có người gọi đùa là giai
đoạn "nhà nhà bán hủ tiếu chay, người người bán hủ tiếu
chay". Điều đặc biệt, quán nào cũng bán một loại hủ tiếu
chay được chế biến bởi một công thức riêng biệt. Ngoài
những phụ liệu thông thường, hủ tiếu nơi đây nổi tiếng
nhờ vào loại chả chay tự làm của các quán, thay vì dùng
loại chả bán sẵn ngoài thị trường. Một chủ quán tiết
lộ: muốn hủ tiếu ngon phải nấu nước lèo thật ngon, dùng
nhiều đường, nhiều loại rau củ như cải trắng, cải đỏ,
củ sắn... nước lèo sẽ ngon hơn và có mùi thơm đặc trưng.
Thật vậy, anh Phạm Đoàn Phú nhà Q.11 nhận xét: dùng hủ
tiếu nơi đây vừa ngon lạ vừa rẻ và có mùi vị rất riêng...
Thực khách đến đây đa phần là học sinh, công nhân lao động
và khách vãng lai, đi chùa.. Xem
Chi Tiếp:Phố Chay Xóm Giá
Một
hiện tượng không bình thường đang dần phát triển
trong giới Phật giáo Đài Loan, đó là việc ni giới Đài Loan
mấy năm gần đây vận động huỷ bỏ "Bát Kỉnh Pháp".
Hiện tượng này do sư cô Thích Chiếu Huệ khởi xướng và
ngày càng lan rộng, nhận định về hiện tượng này và tìm
hiểu nguyên nhân mà nó phát sinh cần có cái nhìn toàn diện
về xã hội và Phật giáo Đài Loan.... Xem
Chi Tiếp: Ni
Giới Đài Loan Vận Động Huỷ Bỏ "Bát Kỉnh Pháp", Thích
Giải Hiền
Vai
trò và vị trí của nữ giới và nam giới trong xã hội thường
được ấn định khác nhau trong các vùng văn hóa khác nhau.
Vì các lý do chính trị, xã hội hay tôn giáo, từ xưa nam giới
thường được đề cao, nữ giới thì giữ một vị trí khiêm
tốn hơn, có nơi bị xem nhẹ, như ở các xã hội chủ trương
"đa thê", "phụ thê", "nam nhất viết hữu, nữ thập viết
vô", phụ nữ ra đường phải che mặt, chỉ đảm nhiệm công
việc gia đình, hay phải chịu tổn phí cưới hỏi.... Thậm
chí thiếu mất quyền làm chủ gia đình và quyền lợi về
giáo dục. Ngày nay, trong các xã hội dân chủ và ở nhiều
nước ở Âu, Mỹ thì chủ trương "nam nữ bình quyền" hay
"nam, nữ bình đẳng"; một số nơi khác thì hiện tượng kỳ
thị giới tính trở nên bớt gay gắt. Tuy thế, ý nghĩa về
"nam, nữ bình đẳng" vẫn tiếp tục được bàn cãi, tranh
luận. Thỉnh thoảng đây đó vấn đề lại được đặt ra
đối với giáo lý của đức Phật, khi mà xã hội chứng kiến
sự kiện không có Ni chúng ở các nước Phật giáo Nguyên
thủy thuộc hệ Theravada (Thượng tọa bộ), hay Ni chúng phải
nhận thêm "Bát Kỉnh pháp" ở các nước Phật giáo Phát triển
(hay Ðại thừa). Phải chăng hiện tượng thiếu bình đẳng
giữa nam giới và nữ giới vẫn còn vương sót lại ở văn
hóa Phật giáo?
Ðây
là vấn đề mà bài giảng hôm nay đề cập đến. Xem
Chi Tiếp:Ni
Giới và Những Lời Phật Dạy, Thích Chơn Thiện
Chánh
ngữ là lời nói chân chánh, không tạo nghiệp bất thiện
bằng lời nói, mà trái lại, dùng lời nói để tạo các nghiệp
thiện lành. Trong Bát Chánh Đạo, Chánh Ngữ là chi thứ ba,
và được định nghĩa như sau, như đã ghi trong Tương Ưng
Bộ: "Thế nào là chánh ngữ? Đó là từ bỏ nói láo, từ
bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói
lời phù phiếm". Đó là về mặt tiêu cực. Về mặt tích
cực, Đức Phật cũng dạy rằng chúng ta phải cố gắng tu
tập để có những lời nói chân thật, hòa hợp, dịu dàng,
và có ý nghĩa. Khi ta thực tập được những lời nói
nầy, ta được nhiều người quý mến. Để đáp lại, họ
sẽ lắng nghe những gì ta nói ra, và sẽ đáp ứng thân thiện
và xây dựng. . Xem
Chi Tiếp: Chánh
Ngữ, Bình Anson
Dự
lưu là quả vị đầu tiên của bốn quả vị thánh giải thoát
(Dự lưu, Nhất lai, Bất lai, A-la-hán). Danh từ "Dự lưu" có
nghĩa là nhập dòng, để chỉ một người đã nhập dòng thánh
giải thoát chắc chắn đưa đến Niết-bàn. Vị đó sẽ hoàn
toàn giác ngộ, chậm nhất là trong bảy kiếp sống, và trong
các kiếp đó sẽ không bao giờ tái sinh tại các đọa xứ
(thú vật, địa ngục, ngạ quỷ, a-tu-la). Xem
Chi Tiếp: Quả
Dự Lưu, Bình Anson biên dịch
Hằng
năm, cứ vào tháng bảy mùa Vu Lan trở lại về với hàng trăm
triệu người con Phật trên khắp năm châu bốn biển. Tại
Việt Nam chúng ta, Vu Lan thắng hội đã trở thành mùa báo
hiếu chung cho mọi người. Hôm nay, trong không khí trang nghiêm,
trầm lắng, tại tổ đình Linh Quang, chư Tăng cùng tín đồ
Phật tử hoà chung một nhịp hành lễ tự tứ lễ báo ân
cha mẹ bảy đời và bà con nhiều kiếp. Để buổi lễ có
thêm ý nghĩa sâu sắc và thêm phần phong phú, trước hết,
tôi thấy cần phải nhắc lại một vài ý nghĩa liên quan đến
thắng hội Vu Lan. Đó là vấn đề an cư, tự tứ và ý nghĩa
của vu lan báo hiếu. Tuy những vấn đề này đã được nhắc
đi nhắc lại nhiều lần, nhưng không phải vì thế mà trở
nên nhàm chán và ý nghĩa của nó bị lu mờ đi. Ngược lại,
chúng ta phải thấm sâu, phải làm cho nó càng ngày càng sáng
tỏ. Nói cách khác, những ý nghĩa này chính là nghĩa vụ,
bổn phận, là sự sống, đời sống lý tưởng của mỗi một
người chúng ta. Chính vì vậy nên chúng luôn luôn hiện hữu
với chúng ta. Vấn đề là tuỳ thuộc vào nhận thức
của mỗi người. Do vậy, đề nghị tất cả quý vị tăng
sĩ trẻ và quý đạo hữu, hãy lắng lòng suy nghĩ để đừng
cho mọi việc trôi qua trong hời hợt, trong lãng quên khiến
không đạt được một lợi ích nào đáng kể trong khi đã
bỏ ra không biết bao nhiêu công sức, tiền của và tâm trí.
Trong khi cống hiến cả cuộc đời mình vào công việc phật
sự. Xem
Chi Tiếp: Ý
Nghĩa An Cư, Vu Lan và Tự Tứ, Thích Phước Viên

|