THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
 
2008
2007
2006
2005
2004
2003
2002

 
c
NEW POSTING THÁNG 3-2005
Xe chạy vào đường núi. Nắng đã lên. Tin thời tiết bảo, hôm nay có mưa. Vậy mà, nắng đã lên kìa. Nhìn quanh quất, chẳng thấy bóng mây đen mây xám nào. Nhưng dẫu mưa, hôm nay tôi cũng phải lên núi. Tôi phải gặp Ông Thầy, thiền sư Tịnh-Mặc. Tôi phải gặp ông, không vì những huyền thoại quanh ông. Tôi cần gặp ông vì một chuyện riêng của tôi. Chuyện riêng của tôi mà tôi lại phải tìm gặp một ông thầy tu tôi chưa từng gặp bao giờ. Tôi cảm thấy hơi lúng túng. Nhưng sự tình chắc không mấy khó khăn vì mỗi cuối tuần, rất đông Phật tử quanh vùng lên núi sớm để được cùng đi thiền hành với ông. Tôi sẽ nhập vào đoàn người rồi chờ dịp, thưa với ông điều tôi muốn hỏi.Xem Tiếp Tâm Hương Tải Đạo, Linh Linh Ngọc

Những chén trà hạt mít thong thả vơi dần qua câu chuyện “Đế Thích tán hoa” thường được kể để minh chứng “Vô tự thị chân kinh”; mà muốn liễu ngộ “chân kinh vốn không lời” hành giả phải đạt tới bản tâm chân thật. Ngài Tu Bồ Đề là một, trong những đại đệ tử của Phật, một hôm lặng lẽ ngồi thiền dưới chân núi. Mây rất xanh, nắng rất ấm, suối róc rách ven đồi, chim líu lo ca hát, ngài cứ an tịnh kiết già. Dáng ngồi thật thẳng trên phiến đá bằng, như nét chấm phá của bức tranh “Tung Hoành” tuyệt kỷ. Ngài ngồi lâu, rất lâu, không biết bao lâu, thì bỗng hoa trời rơi xuống như mưa. Phút chốc, cả không gian thơm ngát hương hoa như ôm trọn nhà sư khắc khổ, ngồi thiền đẹp như tranh vẽ. Ngài Tu Bồ Đề xả thiền và khẽ hỏi: Xem Tiếp  Vô Tự Thị Chân Kinh, Diệu Trân

Tất cả chúng ta cũng ở trạng thái bất tử, nhưng vì chúng ta để vô minh, vọng kiến ngăn che, sinh khởi, mà có hiện tượng sinh tử khổ đau. Nhận chân được con người thực không có sinh tử và chúng ta cũng hành đạo trên con người không có sinh tử, không có vọng kiến thì mới đạt đến quả vị Phật được......    Xem Tiếp Đúng Như Pháp Tu Hành Là Tối Thượng Cúng Dường Phật, HT. Thích Trí Quảng
Thăm Chùa Sơn Thuỷ ở huyện A Lưới A sao
Tượng Phật Trong Nền điêu Khắc Cổ Việt Nam, Trần Mạnh Phú
Một người VN đã tình nguyện đứng ra làm trung gian hòa giải cho Nepal là Hòa thượng Huyền Diệu. Và một lần nữa, đất nước VN được đề cao trong giới Phật giáo quốc tế. Xem Tiếp  Nhà Trung Gian Hoà Gỉai Người Việt Ở Nepal
Người bạn đạo nói với tôi rằng, đọc sách về gương tu học của người xưa, lòng chỉ biết ngưỡng phục chứ theo thì làm sao theo nổi. Tôi nói bạn cho một thí dụ thì bạn bảo “Tam bộ nhất bái.”  Chiều hôm đó, bạn ghé tôi để mượn một cuốn sách. Tôi cũng có chút thì giờ nên pha bình trà và chúng tôi ra vườn sau, ngồi trong lều trúc, cùng trao đổi về “Tam bộ nhất bái”, là hạnh nguyện của Đại lão Hòa Thượng Hư Vân năm ngài 43 tuổi, muốn báo đáp công ơn sanh thành của cha mẹ..Xem Tiếp Tam Bộ Nhất Bái, Diệu Trân

Nằm ở khoảng giữa thành phố Hạ Long và thị xã Uông Bí, cách quốc lộ 18 chừng dăm cây số, trên một ngọn núi cao bên hồ nhân tạo Yên Lập có một ngôi chùa mang cái tên rất ... “Tây du” - Lôi Âm tự.Xem Tiếp Lên Chùa Lôi Âm

Mặc dầu còn trẻ, Tăng Triệu được liệt vào hàng tứ kiệt của La Thập - gồm Đạo Sanh, Huệ Quán, Tăng Triệu và Tăng Duệ - và rất tích cực trong việc dịch thuật. Tăng Triệu giữ việc “chấp bút” cho thầy, tức là tập thành bản Hán văn những kinh điển do La Thập giải thích theo khẩu truyền, và cả ghi lại những chú thích hay phê bình mà La Thập thỉnh thoảng thêm vào. Chính dựa trên những cuộc tham dự vào việc dịch thuật kinh điển này mà Tăng Triệu tạo nên các bản luận, nay được tập thành gọi là Triệu luận.  Với một tâm hồn tinh khiết, không bị buộc ràng bởi thành kiến hay học thuyết thiên chấp nào, Tăng Triệu đã thấu triệt ngay bản ý của Long Thọ khi nghe thầy giảng Trung luận, nên ngay sau đó, liền trước tác Bát Nhã Vô Tri luận, vào khoảng 404 sau TL, hơn hai ngàn lời, trình lên thầy và được tán thán: “Ta hiểu không thua ngươi nhưng văn từ phải nhường ngươi”(1). Đến Lưu Di Dân cũng phải kinh dị: “Không ngờ trong Tăng giới lại có bậc Bình Thúc”(2); và Huệ Viễn phải ca ngợi: “Thật là độc đáo”. Tăng Triệu bấy giờ chỉ mới hai mươi tuổi. Sau đó, Tăng Triệu sáng tác Vật Bất Thiên, Bất Chân Không và Niết Bàn Vô Danh luận, từng được Diêu Hưng hoàng đế nhà Hậu Tần, 393-416, hạ bút chú giải từng chi tiết một và ngự đề tựa cho, lập thành một “Trung Quán luận Trung Hoa”, tức “Triệu luận”, vừa triển khai ý chỉ của vị Bồ tát Luận sư vĩ đại Long Thọ, vừa minh chứng sở ngộ của riêng Tăng Triệu để tự tạo nên một địa vị độc đáo trong văn học Phật giáo Đại thừa, và từ đó, lập nên một học thuyết Tánh Không mang văn thể Đạo gia, dùng từ ngữ Quách Tượng, trích dẫn Lão Trang để nói về chân lý tự chứng: Niết bàn có thể đạt đến ngay trong chính cuộc sống này chứ không phải ở một thế giới khác. Chân lý vốn là nguyên lý căn bản và là mục đích của Trung đạo vậy. .Xem Tiếp Tăng Triệu và Tánh Không Học Đông Phương, Tuệ Hạnh Dịch

Khi tư tưởng Trung Quốc tiếp xúc với Phật giáo Ấn Độ trong khoảng thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên, thời đó có hai trào lưu phát triển. Một bên là bản dịch các kinh sách Phật giáo kích thích các nhà tư tưởng Trung Quốc để họ lấy ánh sáng của triết lý mình mà soi sáng giáo pháp của Đức Phật Ấn Độ.  Thời đó nảy sinh một sự trao đổi văn hóa lớn lao và mang lại nhiều thành quả mà như đã nói, tông Hoa Nghiêm tại Trung Quốc và tại Nhật đã đạt tới đỉnh cao..Xem Tiếp Thiền Tông, Fritjof Capra - Nguyễn Tường Bách biên dịch

Trong những ngày vừa qua, giới Phật tử cũng như không là Phật tử trong nước và ngoài nước được nghe nói đến hai chữ Bố Tát qua các cơ quan truyền thông loan tin về một quyết định quan trọng của Phật giáo tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế trong việc tổ chức lễ Bố Tát chung vào ngày 14 tháng Giêng năm Ất Dậu (tức ngày 22/2/2005) và các kỳ Bố Tát sau đó, giữa chư vị tôn đức Tăng, Ni cùng các chúng Thập Thiện, Bồ Tát tại gia thuộc tỉnh Thừa Thiên và Thành phố Huế.  Đây là lần đầu tiên trong hơn một thập niên qua, tất cả chúng Tỳ Kheo trú xứ tại Thừa Thiên-Huế cùng nhau bố tát trong một giới trường thay vì phân chia làm hai giới trường như trước đây.  Nhân quyết định quan trọng có tính cách lịch sử của Phật giáo Thừa Thiên - Huế, cái nôi của Phật Giáo Việt Nam cận đại, chúng tôi thấy cần trình bày về ý nghĩa lễ Bố Tát trong Phật Giáo...Xem Tiếp Ý Nghĩa Lễ Bố Tát Trong Phật Giáo

Nhiều người mới học Phật chỉ được chút ít kiến thức về tư tưởng của Thiền Tông hay là triết lý Tánh Không trong Kinh Bát Nhã mà hễ thấy ai nói gì về sự tướng thì nói là Chấp.
Tất cả lời dạy của Chư Phật, Chư Tổ đều có hai phần Sự và Lý.
Sự là nói tất cả các Hiện Tượng sanh diệt trong thế gian. 
Lý là nói về Bản Thể của Hiện Tượng.
Sự là nói về Tướng Sanh Diệt của các Pháp, Lý là nói về Thể Bất Sanh Bất Diệt của các Pháp. 
Trong Kinh thí dụ Sự như là sóng biển còn Lý như là cái ướt của nước. Nhìn theo Tướng của sóng mà nói thì có muôn ngàn sự sai biệt không đồng, nhìn theo cái ướt của nước mà nói thì tất cả sóng đều cùng một Thể. Trên Lý thì các ngọn sóng đổng cùng Thể là ướt nhưng mà trên Sự thì mỗi ngọn sóng đều có Tướng khác nhau. .Xem Tiếp  Sự và Lý Trong Đạo Phật, Vajra

Khác với môn Logic học phương Tây, Nhân minh học (Logic học) Phật giáo bao gồm hai mục lớn là Nhận thức luận và Tam đoạn luận (syllogium), trong đó mục Nhận thức luận là chủ yếu, mục Tam đoạn luận là thứ yếu. Bởi lẽ, Tam đoạn luận chỉ là nhận thức đúng đắn, được diễn đạt một cách logic, có sức thuyết phục mà thôi..Xem Tiếp .Nhận Thức Luận Theo Nhân Minh Học Phật Giáo, Minh Chi

 
TVHS
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap