THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
2008
2007
2006
2005
2004
2003
2002
 
  
 
c

JUNE 2007
Tiếng người nói chuyện ngoài sân đã đánh thức tôi dậy. Hình như có khách, tôi nghĩ vậy nhưng vẫn không rời khỏi giường. Bên ngoài cửa sổ, mặt trời chiếu những tia nắng đầu ngày lên những tàn cây xơ xác. Gió nam năm này về sớm, khô khốc tràn qua cái thị trấn nhỏ bé này, tung lên những lớp bụi mù mịt. Tôi ngồi dậy, thấy đầu vưng và mắt đau nhức. Lê người đến cửa, tôi nhặt lấy mẩu giấy mà Hiền nhét qua khe cửa: “Anh Nguyên, hôm ni thầy đi vắng, còn em thi nên về trễ. Anh coi chùa và trưa nhớ nấu cơm giúp em....Xem chi tiếtMùa Gió Nam Về, Truyện ngắn của Nguyên Hiệp
...Đối với người Việt Nam chúng ta, bà mẹ nào cũng là suối nguồn của tình thương, bao dung chở che con cháu như trời cao biển rộng, ngọt ngào đậm đà như “chuối ba hương, như xôi nếp một, như đường mía lau...” Riêng tôi, một hôm ngắm nhìn mẹ, tôi bỗng khám phá rằng mẹ tôi chính thực là một “Quan Thế Âm Bồ Tát”, người lúc nào cũng thường trực nghe ngóng theo dõi từng đứa con, đứa cháu cùng bao kẻ thân sơ khác để sẵn sàng xả thân mình chở che, chăm sóc mọi người. ...Xem chi tiếtCẢM NIỆM VỀ MẸ (Bút ký của Huỳnh Trung Chánh)
Những cuộc nghiên cứu cho thấy những người trúng số độc đắc hay hững người bị tai biến não lúc đầu họ rất sung sướng hay khổ đau. Nhưng trong vòng một năm sau niềm vui cạn đi và nổi khổ vơi hết, họ trở về với mức độ cảm xúc bình thường trước đó. Tuy nhiên, nơi những người thực hành thiền, như các vị thiền sư thuộc các tông phái Phật Giáo hay các vị Lạt Ma Tây Tạng thì hoạt động vùng não trước trán bên trái – tức là vùng biểu lộ hạnh phúc thâm sâu – càng lúc càng gia tăng với sự thực hành chứ không giảm đi theo thời gian..Xem chi tiếtNgài Đạt Lai Lạt Ma Giúp các Nhà Thần Kinh Học Tìm Ra Suối Nguồn Hạnh Phúc, TT. Thích Phụng Sơn biên dịch
Suốt từ vô thuỷ vô chung, không có một chúng sinh nào trong biển luân hồi đau khổ mênh mông này chưa từng là cha hay mẹ của chúng ta [trong một kiếp nào đó].  Khi là cha là mẹ của chúng ta,  ý tưởng duy nhất  mà họ canh cánh bên lòng là nuôi nấng ta với lòng nhân từ to lớn nhất mà họ có thể có được, bảo vệ chúng ta với tình yêu thương vĩ đại và ban phát cho ta những gì tốt lành nhất trong số thực phẩm và áo quần của họ. Tất cả những chúng sinh này, là những người đã quá tử tế với chúng ta.  Những chúng sinh ấy đều muốn được hạnh phúc, tuy nhiên họ không biết làm thế nào để thực hiện những điều mang lại hạnh phúc...Xem chi tiếtCách Thức Đúng Đắn Để Lắng Nghe Giáo Pháp, Patrul Rinpoche
...Không phải người ta không dự tri về những bất trắc xảy ra trong cuộc đời. Người ta đã chuẩn bị rất kỹ: viết di chúc, mua bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm nhân mạng; lên xe hoặc lên máy bay thì tự động thắt dây an toàn—không thắt cũng được nhắc nhở hoặc ép buộc phải thắt bằng sự nghiêm phạt. Những chuẩn bị như thế đều cho thấy người ta luôn ý thức về một tai nạn, hoặc cái chết, có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Nhưng khi tai nạn chưa xảy ra, nhiều lần, nhiều ngày như thế, ý thức kia lờn đi và nhường chỗ cho vô thức, để rồi, khi thắt dây an toàn, người ta chỉ thắt theo thói quen, và thắt để khỏi bị cảnh sát phạt tiền. Người ta thực sự không muốn nhắc đến cái chết dù rằng trong hành động mỗi ngày đều chuẩn bị cho cái chết...Xem chi tiếtSanh Tử Đại Sự, Vĩnh Hảo

Năm nay, mùa An Cư kiết hạ tại Thừa Thiên-Huế diễn ra theo đúng tinh thần của giới luật Phật chế “ thúc liễm thân tâm, trau dồi giới hạnh” và thực hiện theo đúng truyền thống An cư tại vùng đất “Thiền kinh-Kinh đô Phật giáo” có nhiều ảnh hưởng trong quá trình phát triển của Phật giáo. Như mọi năm, mùa An cư của Chư Tăng Ni tại Thừa Thiên-Huế không có sự tập trung theo hình thức Trường Hạ như các địa phương khác, mà “An cư tại chỗ” chùa nào kiến lập giới trường An cư tại trú xứ của chùa đó, đây là một nét riêng của truyền thống An cư ở Huế. .Xem chi tiếtMùa An Cư Ở Xứ Huế, Trí Năng

Nghiên cứu những văn bản Kinh Phật, chúng ta biết rằng có sáu loại phép Thần Thông (abhiññā) hay là những sức mạnh tâm linh siêu thế, tức là: Biến hoá thông, Thiên nhĩ thông, Tha tâm thông, Túc mạng thông, Thiên nhãn thông,  Lậu tận thông. Đây là danh sách được mô tả trong các bản văn Kinh Phật. Tuy nhiên trong các trang dịch tiếp theo sau đây thứ tự danh sách trên không được tuân theo một cách triệt để. Tác giả nghĩ rằng Thần thông đầu tiên tỏ ra thích hợp và liên quan nhiều đến hoàn cảnh thực tế ngày nay lại là thần thông thứ tư, tức là hồi tưởng lại tiền kiếp của (chính chúng ta). Tiếp theo sau là thần thông thứ năm, tức là Thiên nhãn thông hay là tri giác hiện tượng diệt sanh của chúng sanh tức là biết được tiền kiếp của họ...Xem chi tiếtTìm Hiểu Pháp Thần Thông Trong Phật Giáo, Phorn Ratanasuwan - Dịch giả: Tỳ khưu Thiện Minh (sách)
Thiền Viện Sùng Phúc – Hà Nội, 9h30 ngày chủ nhật 17/6/2007. Hơn 30 bạn trẻ đang nghe giảng, tập những động tác thiền căn bản, từ nhập thiền, trụ thiền đến xả thiền dưới sự hướng dẫn cụ thể của quý thầy bản tự. Sau hơn 45 phút nghe hướng dẫn và thực hành từng động tác riêng lẻ và 15 phút “nhập” thiền chính thức, mỗi người đã có những cảm giác, trải nghiệm ban đầu. Có thể chân tê cứng, lưng mỏi... nhưng ít nhiều mỗi bạn trẻ đã trở về để khám phá chính mình, lắng nghe hơi thở, tìm thấy sự tĩnh lặng, bình an sau một tuần làm việc mệt mỏi. ..Xem chi tiếtNhân viên trẻ thực tập thiền, Bài và ảnh: Trần Trọng Hoàng
Nhiều người cho rằng Phật Giáo mang tư tưởng xuất thế nên không chủ trương có gia đình, không khuyến khích kết hôn, cũng tương đồng với việc cho rằng người theo đạo Phật đều phải xuất gia. Thật ra, đây là một quan niệm sai lầm. Vào thời Đường, thời Tống cư sĩ tại gia của Phật Giáo rất phát triển, điều này được chứng minh bởi các tác phẩm nghệ thuật điêu khắc Phật Giáo như văn bia, tranh họa, tác phẩm điêu khắc, Đôn Hoàng Thạch Quật... đã miêu tả rất đậm nét các mối quan hệ trong cuộc sống gia đình, quan hệ hôn nhân... Sau thời Nguyên Phật Giáo từ từ lui vào chốn sơn lâm, xa rời quần chúng, điều này càng làm cho quần chúng ngộ nhận cho rằng Phật Giáo là tiêu cực và chạy trốn hiện thực...Xem chi tiếtXây dựng hôn nhân theo con đường Phật giáo, Thích Giải Hiền

Giáo dục thiếu nhi theo quan điểm Phật giáo, Thích Phước Đạt 

HƯƠNG CỦA NGƯỜI ĐÃ CHẾT là vài mẫu chuyện nhỏ ghi lại những gì tôi đã gặp trong cuộc sống của mình liên quan đến những người đã chết. Như đời sống của bao người bình thường khác, tôi cũng lớn lên giữa vòng tay của cha, mẹ, người thân cùng bạn bè, cũng không thoát khỏi những thương, ghét, khóc, cười … không tránh được phiền não và cả những thù nghịch. Song dưới ánh sáng của ĐẠO, những thứ mà ta cho là bất hạnh và ngược đãi lại là những bài học vô cùng quí giá trong cuộc đời mình. Chưa một lần như thật biết thế nào là KHỔ, bạn sẽ không bao giờ thấy được giá trị thật sự của ĐẠO. Không như thật biết thế nào là ĐẠO, bạn cũng không thể chiêm nghiệm được cái gọi là DIỆT mà dừng đi TẬP và KHỔ, là 4 chân đế ở cuộc đời này...Xem chi tiếtHương Người Đã Chết, Chân Hiền Tâm (sách)

Phật giáo với sứ mạng xây dựng nền tảng đạo đức....., Thích Giải Hiền

Nói theo phép thường tình thế gian thì tôi đến với đạo Phật có phần hơi trễ hơn so với nhiều bạn đồng niên, đồng đạo khác, cũng tức là trễ đối với tuổi tác của mình. Nghĩa là khi vừa đủ lớn để có chút trí khôn biết suy xét, thay vì có được cơ duyên tìm đến ngay với Phật đạo bằng nhiều con đường, dưới nhiều hình thức khác nhau như những người đồng trang lứa, thì tôi lại bị mất đi một thời gian dài để một mình tự loay hoay suy ngẫm về cuộc đời, tức trăn trở, bức rức về cái "tôi" đang hiện hữu, cùng mối quan hệ hiện hữu quanh tôi. ..Xem chi tiếtMột Đời Cũng Tu - Một Ngày Cũng Tu, Nhuận Bảo

Tôi  thấy  trong  vòng  thiền  chúng  ta  có  truyền  cho nhau một huyền thoại này, là khi chánh niệm của ta càng  sâu  sắc  bao  nhiêu,  ta  sẽ  lại  càng  có  khả  năng nhìn  thấy  được  những  cái  đẹp  trong  những  vật  bình thường  nhất  bấy  nhiêu. Với  một  tâm  “chú  ý đơn thuần”, thì ngay cả bọt xà phòng trong nước rửa bát - khi những bọt bong bóng lấp lánh trong nắng - cũng là một thực  tại toả sáng nhiệm mầu.   Đó chỉ là một huyền thoại.  Mà sự thật là ngược lại như thế: thật ra, khi ta càng có chánh niệm bao  nhiêu,  thì  những  đối tượng  cảm  giác  của  ta  lại  càng  ít  hấp  dẫn  đi  bấy nhiêu.   Cho đến một lúc ta sẽ không còn ham muốn chúng nữa...Xem chi tiếtCó Gì là Nhiệm Mầu Trong Giây Phút Hiện Tại?, Nguyễn Duy Nhiên  phỏng dịch

Kinh THẮNG MAN PHU NHÂN HỘI là bản dịch từ Phạn sang Hán của ngài Bồ Đề Lưu Chí. Nội dung của kinh không khác với bản dịch Thắng Man Sư Tử Hống của ngài Cầu Na Bạt Đà La. Song khi dịch và giải, tôi chỉ có trong tay bản kinh Thắng Man Phu Nhân Hội, thành cứ y theo đó mà làm. Sau mới gặp được bản Giảng Luận của thầy Tuệ Sĩ, trong đó có đầy đủ cả hai bản tiếng Hán, nhờ đó có tài liệu để so sánh. Việc dịch giải cũng có điều kiện để  hoàn thiện hơn. .Xem chi tiếtKinh Thắng Man Phu Nhân Hội, Chân Hiền Tâm dịch và giải (sách)
Nói đến tu hành là nói đến tội phước, nếu không rõ tội phước tức là không rõ sự tu hành. Nếu người tu mà cứ lao mình trong tội lỗi, ấy là người tạo tội cho không phải là người tu hành. Mọi sự an vui và đau khổ gốc từ tội phước mà sanh ra. Vì thế muốn thấu hiểu sự tu hành chúng ta phải thấu hiểu tội phước. Tội phước là những hành động thiết thực trong cuộc sống nầy, không phải là chuyện siêu huyền mờ ảo đâu đâu. Thế nên người tu hành phải thấu đáo, phải phân rành vấn đề tội phước..Xem chi tiếtVào Cổng Chùa, HT. Thích Thanh Từ (sách)

Luận ĐẠI THỪA KHỞI TÍN được Bồ tát Mã Minh làm vào khoảng 600 năm sau khi Phật nhập diệt, nhằm phá bỏ cái thấy thiên lệch của Tiểu thừa cũng như những định kiến sai lầm của Ngoại đạo. Ngày nay bộ luận không chỉ mang ý nghĩa ấy mà nó còn có giá trị tích cực đối với người tu Đại thừa. Giá trị ấy nằm ở chỗ : Ngoài phần thâm nghĩa được trình bày bao quát đầy đủ trong phần Lập Nghĩa và Giải Thích, còn có phần Phân Biệt Tướng Đạo Phát Tâm, là phần giúp người tu chúng ta phân biệt và xác định được vị trí cũng như mức độ tu hành của chính mình, tránh tình trạng lầm lẫn giữa LÝ và SỰ, giữa kiến giải với chỗ thực chứng, được ít cho là nhiều, chưa được mà tưởng được v.v…Bản dịch đây được dịch từ bản Hán văn của ngài Hám Sơn..Xem chi tiếtÐại Thừa Khởi Tín Luận, Dịch Và Giải, Chân Hiền Tâm (sách)

Thế giới và con người đây đều hình thành và phát sinh theo qui luật đó, phú quí có nguyên do của phú quí, bệnh tật có nguyên do của bệnh tật v.v… Tất cả mọi sự vật, mọi hiện tượng đều có nhân duyên. Nhưng do không nắm được mặt nhân duyên này, không biết được thứ gì là nhân, thứ gì là quả, nhân đó sẽ cho ra quả gì, trong quá trình đi từ nhân đến quả còn bị sự chi phối của duyên ra sao, cứ lộn nhân này với quả kia, nên trong mọi hành xử đời thường, nhiều việc đáng tiếc xảy ra. Đó là nguyên nhân đưa đến tranh tàn và bất hạnh cho thế giới này. CHUYỆN XƯA CHUYỆN NAY là đọc chuyện xưa mà ngẫm thành chuyện ngày nay, hy vọng qua đó làm sáng tỏ ít nhiều về thực lý Nhân Duyên đang chi phối thế giới này, để cuộc sống của mình và người được yên vui. .Xem chi tiếtChuyện Xưa Chuyện Nay, Chân Hiền Tâm (sách)

Sanh trưởng trong hoàn cảnh một dân tộc bị thống trị bởi ngoại bang, Hungkar Dorje đã phải phấn đấu không ngừng nghĩ, can trường đào thoát Tây Tạng trong 1 ngày rét buốt mùa đông 1990, bộ hành vượt đỉnh tuyết Hy Mã Lạp Sơn tìm đến đất Ấn Độ, thực hiện chí nguyện cầu pháp độ sanh.  Ngài được Đức Đại Lai Lạt Ma bảo trợ vào học tập trong tu viện Drepung của phái Hoàng Mão và chỉ  5 năm sau Hungkar Rinpoche đã tốt nghiệp tối ưu bằng Tiến Sĩ Phật Học (Geshe).   Năm 1994, Ngài được chánh thức đăng quang trong 1 buổi lễ long trọng cử hành tại Bồ Đề Đạo Tràng (Bodhigaya) dưới sự bảo trợ của dòng Nyingma cùng chứng nhận của HH Dalai Lama và những vị lãnh đạo cao cấp nhất của những dòng truyền thừa Phật Giáo đương thời.  Bài “Lời Nguyện Trường Thọ cho Hungkar Dorje Rinpoche” đã do đích thân HH Dalai Lama biên soạn, biểu thị nghiêm túc mối liên hệ của Hungkar Rinpoche với tiền thân chư Thánh Tổ, cùng tiên đoán thành tựu tương lai của Ngài..Xem chi tiếtĐạo Sư Hungkar Dorje Rinpoche, viện trưởng  tu viện Thubten Chokor Ling tại Golok - Tây Tạng đến cùng người dân Houston trong mùa hè năm nay: Thứ bảy 6/16 & Chủ Nhật 6/17/2007
Milarepa là một trong những đạo sư tâm linh nổi tiếng nhất của mọi thời. Ngài không những là một nhà lãnh đạo kiệt xuất của dòng phái Kagyu, mà cũng là một đạo sư rất quan trọng đối với mọi trường phái của Phật giáo Tây Tạng. Ngài là một ngôi sao của Phật giáo sơ thời Tây Tạng, và là một ngôi sao sáng chói của Thiền, soi sáng con đường Phật pháp ngày nay. Chắc chắn ngài không phải là một người hoang tưởng bỏ xã hội và ẩn nơi những chỗ hiểm hóc động sâu. Thật ra, ngài là một người phiêu lưu đã đạt đến chót đỉnh của ngọn núi cao với một cái nhìn toàn cuộc về sanh tử. Ngài là một chiến sĩ đích thật đã thành công trong việc chiến thắng kẻ thù thật sự, như thế trở thành một người cứu độ cho chúng sanh..Xem chi tiếtUống Dòng Suối Núi, Những Bài Ca của vị Thánh được Mến Yêu của Tây Tạng, Milarepa - Tha Nhân dịch (sách)
Công cuộc vận động cho bình đẳng và tự do tôn giáo của Phật Giáo Việt Nam bắt đầu vào ngày lễ Phật Đản 8 tháng 5 năm 1963 tại Huế và sau đúng 106 ngày tranh đấu cam go đã thực sự kết thúc vào đêm khuya ngày 20 rạng sáng ngày 21 tháng 8 năm 1963 khi chính phủ của Tổng thống Ngô đình Diệm thi hành kế hoạch Nước Lũ tổng đột kích toàn thể chùa chiền triệt hết các thành phần lãnh đạo và những người tham gia phong trào vận động. Cao điểm của công cuộc vận động là hành động tự thiêu để phản đối chế độ Ngô Đình Diệm của Hòa thượng Thích Quảng Đức vào ngày 20-4 năm Quý Mão (tức ngày 11-6-1963) ngay trên đường phố Sài Gòn đã làm xúc động hàng triệu đồng bào, tăng ni, và phật tử cả nước lúc bấy giờ và là tấm gương cho hàng triệu tín đồ, phật tử trong cả nước noi theo.  Hình ảnh của Ngài đã in một dấu ấn không bao giờ phai nhòa trong lòng người và trong lịch sử chiến tranh Việt Nam.  Hôm nay ngày 11 tháng 6 năm 2007 chúng ta thành tâm tưởng niệm lần thứ 44 ngày cố Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu vì đạo pháp. .Xem chi tiếtBồ Tát Quảng Đức Vị Pháp Thiêu Thân - Đối Chiếu qua Kinh Điển Nam Tông và Bắc Tông (Bài tham luận)
Sự kiện đức Phật đưa cành hoa sen trên hội Linh Sơn cho tới nay, Tổ Tổ truyền trao cũng chỉ một việc này. Con đường hướng thượng không có lối khác, hành giả đi được liền tới, đi không được thì thôi.Ở đây, ngôn ngữ không ngoài phương tiện, chẳng phải là chỗ của Tổ sư nhắm đến. Ngài Hoàng Bá là cháu đời thứ tư của Lục Tổ, đã dùng tâm ấn tâm. Tâm tâm ấn nhau, mãi mãi tiếp nối cho đến ngày nay. Tác phẩm Truyền Tâm Pháp Yếu chính là một chút dấu vết còn lại của gia phong ấy. Tướng quốc Bùi Hưu cẩn trọng tập thành và dâng lên các bậc lão túc trong tông môn kiểm chứng, ngõ hầu lưu truyền cho đời sau. .Xem chi tiếtTruyền Tâm Pháp Yếu Giảng Giải, Ht. Thanh Từ (sách)
Đạo Phật là đạo của con người. Đức Phật ra đời vì muôn loài, trong đó chủ yếu là loài người. Cho nên mọi hành động của Ngài đều nhắm đến con người. Đạo Phật dạy chúng ta phải thấy được chân lý, đạt được lẽ thực, nên nói tới đạo Phật là nói tới đạo giác ngộ. Tôi nhấn mạnh lại, đạo Phật là đạo giác ngộ chớ không phải đạo của lòng tin. Chúng ta theo đạo Phật là để tìm cầu sự giác ngộ, mà muốn được giác ngộ thì phải vào đạo bằng trí tuệ, bằng cái nhìn đúng như thật, chớ không thể nhìn khác hơn được. .Xem chi tiếtTinh thần xuất trần của đạo Phật, HT. Thích Thanh Từ

Đây là chuyện bà ngoại của tôi: Bà thường nằm trên gác một mình, tới giờ ăn thì bà xuống ăn hoặc có người bưng cơm cho bà. Hôm đó tôi mộng thấy bà nằm trong tư thế sắp chết và nói với tôi “Ta đi đây!” Tôi mộng lúc 6 giờ rưỡi sáng. Đến 12 giờ rưỡi trưa không thấy bà xuống, tôi lên xem thì thấy bà ngoại đã chết trong tư thế mà tôi đã nằm mộng thấy. Như vậy mộng gắn liền với cuộc sống. Mình nghĩ mộng như là một sự gián đoạn nhưng thực ra không phải mà là tiếp tục cuộc sống. Mộng nói chuyện với mình nhưng mình không nghĩ tới. .Xem chi tiếtThân Trung Hữu, TT. Thích Hằng Trường

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa đưa người ta đến một sự chuyển hóa toàn triệt và toàn diện cuộc đời sanh tử khổ đau manh mún bởi chia cắt, phân biệt, oán ghét và xung đột của mình bằng cái thấy biết chân thật của Phật (tri kiến Phật). Sự chuyển hóa rất mạnh mẽ, bùng nổ, toàn triệt như rất nhiều chữ trong kinh đã nói lên điều đó. Có lẽ vì théá mà kinh được xưng là “vua của các kinh”, với rất nhiều đoạn ca ngợi sự ích lợi, công đức của người thọ trì kinh. Ví dụ chữ Hoa Sen trong đầu đề kinh. Chữ này khi để nói về con người, nó chỉ cho Phật tánh nơi mỗi chúng sanh, bởi thế khi đức Phật nói “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” có nghĩa là mỗi chúng sanh đều là một hoa sen..Xem chi tiếtMười Tư Tưởng Pháp Hoa Trong Đời Sống Hàng Ngày, Đương Đạo (sách)
...Trước hết tôi xin đề nghị thêm cho hai bên giáo hội Công giáo và Phật giáo phải có những văn bản rõ rệt về vấn đề hôn nhân dị giáo này. Nếu tôi là pháp chủ Phật giáo Việt Nam thì tôi sẽ cho phép những người con trai hay con gái Phật giáo lấy những người con trai hay con gái Công giáo và hai người  được học truyền thống của nhau, hai người cùng đi nhà thờ một lần, hai người cùng đi chùa một lần, hai người cùng được rửa tội một lần và hai người đều được quy y. .Xem chi tiếtThiền Sư Thích Nhất Hạnh và Linh Mục Phạm Ngọc Khuê, đại diện cho tòa Giám mục Phát Diệm trả lời về vấn đề hôn nhân khác tôn giáo và việc giao lưu giữa Phật giáo và Cơ Đốc giáo trong buổi viếng thăm nhà thờ Phát Diệm, Ninh Bình ngày 30/04/2007 lúc 9 giờ sáng.
Metta is a Pali word meaning loving-kindness. Metta chanting is the radiation of loving-kindness towards all beings: May they all be happy and peaceful. Imee Ooi chants the Pali beautifully. Metta chanting is soothing, uplifting, joyful and a great healing for the world - pervading it with waves of love. Truly, may all beings be happy. May they live always in peace and harmony. Bản nhạc sau đây dựa theo Kinh Từ Bi trong Tạng Pali. Dịch Việt bởi Cư sĩ Nguyên Giác. Ca khúc của nhạc sĩ Miến Điện Imee Ooi, hát bằng tiếng Pali..Xem chi tiếtCa Khúc Từ Bi (The Chant of Metta) Text and Audio
Luật tạng là một trong ba tạng giáo điển của Phật giáo, và giới luật đóng một vai trò hết sức quan trọng trong sự duy trì cũng như sự phát triển giáo đoàn Phật giáo trong suốt hơn hai nghìn năm trăm năm qua. Điều này đã được khẳng định bằng chính lời của Đức Thế Tôn khi Ngài trả lời tôn giả A Nan về câu hỏi rằng : “Sau khi như lai diệt độ chúng con biết nương tựa vào đâu và thờ ai làm thầy ?” Lúc ấy Đức Thế Tôn đã ôn tồn mà nói cùng đại chúng: “Này A Nan! sau khi ta diệt độ các ông hãy nương tựa vào chính mình và hãy lấy giới luật làm thầy.” Lời phó chúc ấy hẳn là một minh chứng hùng hồn khẳng định tính trọng yếu của giới luật đối với sự tồn vong của đạo pháp..Xem chi tiếtGiới luật: Tiếng nói từ nguồn tâm, Thích Quảng Văn
Phật giáo phân chia ra hai loại vô thường, thô và tế. Thô bao gồm tất cả những đổi thay hiển nhiên của cả con người và sự vật mà chúng ta chứng kiến trong cuộc sống hàng ngày: sự đổi mùa, núi mòn sông lở, quá trình biến đổi từ tuổi trẻ đến tuổi già, những tình cảm luôn biến chuyển trong ta.Thể vi tế của vô thường cụ thể như: trong mỗi sát na, bất cứ những gì có vẻ hiện hữu đều thay đổi. Vũ trụ không phải được tạo thành bởi những thực thể riêng biệt, rắn chắc mà ngược lại, giống như một dòng suối bao la của những sự kiện, và những dòng chảy năng động mà trong đó tất cả đều được nối kết và liên tục tác động lẫn nhau. Khái niệm về sự thay đổi không ngừng và khắp nơi trong Phật giáo tương ứng với chủ đề quan trọng về thuyết tiến hoá trong mọi lãnh vực khoa học của thế kỷ XX..Xem chi tiếtVô thường giữa lòng thực tại, Trịnh Xuân Thuận
Trong bữa cơm trầm lắng nơi cửa chùa của những mảnh đời bị bỏ rơi luôn lắng đọng một nỗi niềm sâu thẳm. Có được chốn ăn, ngủ nhưng những trái tim nhỏ bé vẫn khát vọng cháy bỏng về một người mẹ, một gia đình của mình. Chùa Thanh Sơn nằm trên địa phận thôn Thủy Triều, xã Cam Hải Đông, huyện Cam Ranh, cách thành phố Nha Trang khoảng 30 km về phía nam. Hơn 10 năm trước, Hòa thượng Thích Thanh Quang đã biến ngôi ngôi chùa bỏ hoang cũ nát nơi đây thành mái ấm cho những mảnh đời bất hạnh. ..Xem Tiếp Trẻ em bất hạnh và mảnh đời ở chùa, Phương Nga

Nghiên cứu đầu tiên để xếp hạng các nước trên thế giới theo tiêu thức hòa bình và duy trì hòa bình vừa được công bố. Điều gây nhạc nhiên là những nước đại đa số theo Phật giáo như Thái Lan, Miến Điện và Campuchia lại đứng ở nửa cuối của bảng xếp hạng. Có lẽ lý do chính là vì nội chiến nên Sri Lanka đứng thấp nhất (trong số các quốc gia Phật giáo) với vị trí 111. Chỉ số hòa bình toàn cầu nghiên cứu 121 quốc gia từ Algeria đến Zimbabwe  và đã công bố kết quả một tuần trước Hội nghị thượng đỉnh G8 tổ chức Đức để bàn về những vấn đề toàn cầu...Xem chi tiếtXếp hạng mức độ hòa bình của các quốc gia Phật giáo, Trọng Hoàng dịch

Một người đàn ông đang nói. Đó là một tiếng nói của một truyền thống tâm linh của hơn hai ngàn năm, chánh pháp mà Đức Phật đã giảng dạy.Các môn đồ của Đức Ki Tô tụ họp chung quanh ông. Họ đã mời ông đọc và chú giải “Tin Mừng”, Phúc Âm mà Đức Giêsu đã loan báo.Một cuộc đối thoại hình thành giữa hai bên và hơn thế nữa, đây là một thời điểm thuận lợi để cho sự thống nhất nền tảng của nhân loại được khẳng định và cảm nhận bằng lời cũng như bằng sự im lặng. Vấn đề không phải là xóa bỏ hoặc che dấu những điểm khác nhau nhưng là nêu rõ chúng bởi lẽ xuyên qua các điểm dị biệt, những điểm đồng quy mới kể cả bổ túc cho nhau sẽ được phác họa. ...Xem chi tiếtĐức Đạt Lai Lạt Ma Nói Về Chúa Jesus, Vĩnh An dịch (sách)

Tác phẩm này là một bản dịch những câu kệ gốc của Bức Thư của Bồ tát Long Thọ gởi cho Vua Gautami-putra cùng với những ghi chú giải thích căn cứ trên ba bình giảng của Jetsun Rendawa Shonnu Lodo, Đại Đức Lozang Jinpa và Đại Đức Rongton Sheja Kunrig. Jetsun Rendawa Shonnu Lodo (1349-1412) là một học giả nổi tiếng của phái Sakya và là một trong những vị thầy của Tôn Giả Je Tsongkhapa. Bình giảng của ngài về Suhrïllekha của Thánh Long Thọ, được hầu hết học giả Tây Tạng xem là một trong những bản uy tín nhất. Bình giảng của Đại Đức Lozang Jinpa, một vị tăng của phái Gelug ở Tu viện Tashi Lhunpo được sách này dựa vào rất nhiều. ...Xem chi tiếtBức Thư Của Bồ Tát Long Thọ Gửi cho Vua Gautamiputra, Peter Della Santina - Thiện Trí Thức Việt dịch (sách)

J.Krishnamurti, cuộc sống và những lời dạy của ông trải dài trong phần lớn thế kỷ hai mươi, được nhiều người tôn vinh là một con người có ảnh hưởng sâu sắc nhất vào ý thức của nhân loại trong thời đại hiện nay. Là một hiền nhân, triết gia và tư tưởng gia, ông soi sáng cuộc sống của hàng triệu người khắp thế giới: những người trí thức và những người bình thường, cả người già lẫn người trẻ. Ông tạo ra ý nghĩa căn bản và mới mẻ cho tôn giáo bằng cách chỉ rõ một cách sống vượt khỏi tất cả những tôn giáo có tổ chức. Ông can đảm đối diện những vấn đề của xã hội hiện nay và phân tích bằng sự rõ ràng có khoa học những hoạt động của cái trí con người. Tuyên bố rằng sự quan tâm duy nhất của ông là “làm cho con người được tự do một cách tuyệt đối và không điều kiện”, ông  tìm kiếm sự giải thoát con người khỏi tình trạng bị điều kiện sâu thẳm của tánh ích kỷ và đau khổ. ...Xem chi tiếtNói Chuyện Cuối Cùng 1985, Jiddu Krishnamurti - Việt dịch: Ông Không (sách)
 

Tu là gì? Nói đến chữ tu, có người lầm tưởng rằng phải bỏ nhà, bỏ cửa, bỏ vợ con để tìm nơi non cao thanh vắng, hoặc ở chùa, ở am mới gọi là tu. Không phải như thế đâu, tu có nghĩa là sửa đổi, trau dồi. Sửa là sửa hư, sửa sai, sửa lạc lầm, sửa xấu thành tốt, sửa dữ thành hiền, tà vạy thành ngay thẳng, tối tăm thành sáng suốt, si mê thành giác ngộ, phàm phu thành thánh hiền, chúng sanh thành Phật, sanh-tử thành Niết-Bàn.  ...Xem chi tiếtTu Mau Kẻo Trễ, Cư Sĩ B.Đ.

Những lá thư này không viết ra để được đọc một cách cẩu thả khi các bạn rãnh rỗi không làm những việc khác, chúng cũng không nên được đối xử như một giải khuây. Những lá thư này được viết nghiêm túc và nếu bạn lưu tâm đọc chúng, đọc chúng với dự tính học hỏi điều gì được viết ra như bạn chú ý một bông hoa bằng cách quan sát bông hoa đó rất cẩn thận, nhụy của nó, cành của nó, mầu sắc của nó, hương thơm của nó, và vẻ đẹp của nó. Những lá thư này nên được nghiền ngẫm trong cùng một cách như vậy, không phải được đọc vào buổi sáng và quên nó trong suốt thời gian còn lại trong ngày. Người ta phải dành thời gian cho nó, chơi đùa với nó, nghi vấn nó, tìm hiểu nó mà không có sự chấp nhận; sống với nó trong một khoảng thời gian; lãnh hội nó để cho nó là những lá thư của bạn và không phải là những lá thư của tác giả. ...Xem chi tiếtThư Gửi Trường Học, Jiddu Krishnamurti - Việt dịch: Ông Không (sách)

Trong Thiền luận Bộ Trung này, điểm cốt yếu là trình bày về lối “Thực hành Công án”, vốn là điểm thủy chung chí yếu của pháp môn Thiền, nhất là được hành trì nơi phái Thiền Lâm Tế. Thủ thuật công án dẫy đầy những hiểm trở, nhưng sự phát triển của nó là lý đương nhiên; nếu không, Thiền đã chẳng tồn tại. Việc khảo cứu về thực hành công án của tôi trong Tập này chưa phải là đầy đủ lắm, nhưng tôi hy vọng mang đến cho độc giả một ý tưởng đại quan về tinh thể của nó. Tôi cũng mong rằng nhà tâm lý học và triết học sẽ coi khảo cứu này như những sự kiện của kinh nghiệm được khai triển riêng biệt nơi các tâm hồn Viễn Đông. ..Xem chi tiếtThiền Luận Quyển Trung, Daisetz Taitaro Suzuki - Tuệ Sỹ Việt dịch (sách)

Bài giảng của đức Ðạt-lai Lạt-ma nhắc đến đầy đủ mọi điểm trọng yếu trong Phật pháp, vạch ra phương pháp tu giản dị và rõ ràng nhằm giúp Phật tử xây dựng công phu tu tập mỗi ngày. Ðức Ðạt-lai Lạt-ma còn giải thích cặn kẽ về phương pháp phát tâm từ bi, khai mở tuệ giác tánh Không ngay trong đời sống hằng ngày. Cuối mỗi bài giảng có phần hỏi đáp. Câu hỏi nêu ra rất đa dạng, liên quan đến những vấn đề thực tiễn Phật tử đã gặp trong quá trình tu học. Vào đến chương ba, đức Ðạt-lai Lạt-ma giải thích về hai phương pháp tu dựa trên hai bài pháp ngắn. Bài thứ nhất là Tám Bài Kệ Chuyển Hóa Tâm [Eight Verses for Training the Mind], do một vị cao tăng dòng Kadampa sống vào thế kỷ thứ 12 soạn....Xem chi tiếtPháp Tu Tây Tạng Dành Cho Phật Tử Nhập Môn, Đức Đạt Lai Lạt Ma - Hồng Như dịch HTM (sách)(PDF sách) 1.680MB

Tất cả chư Phật kể cả Đức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất hiện trong thế giới này là để khai thị cho ta con đường giải thoát khỏi nỗi đau khổ này. Để đạt được mục tiêu là sự Giác ngộ, một hành giả cần phải phát triển trí tuệ và những phẩm tính của Đức Phật. Trong giai đoạn phát triển, hành giả tu tập Bồ Tát hạnh nương tựa vào chư Phật và Bồ Tát để nhận được những giáo lý, sự ban phước, gia hộ và quán đảnh của các Ngài. Bằng sự viên mãn của sáu Ba la mật, những Đấng Vĩ đại hay Bồ Tát này tích tập công đức, lòng bi mẫn, trí tuệ và phẩm tính khổng lồ, nhờ đó các Ngài đủ năng lực để cứu giúp chúng sinh. Một trong những vị Bồ Tát được tôn kính nhất ở Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật bản, Hàn Quốc và Đông Nam Á là Đức Avalokiteshvara (Đức Quán Thế Âm). Người Tây Tạng gọi Ngài là Chenrezig, người Trung Quốc gọi là Kuan Yin Pu Sa....Xem chi tiếtĐức Avalokiteshvara và Thần Chú Sáu Âm, Shangpa Tulku Rinpoche- dịch Việt Thanh Liên

Trong suốt bốn mươi năm tôi đã lang thang khắp Phù Tang tìm thầy học đạo. Tôi đã theo học với nhiều danh sư của các môn phái khác nhau nhưng không tìm được điều tôi muốn. Điều tôi muốn là con đường đưa đến sự chấm dứt mọi đau khổ, một con đường đã được khám phá hơn hai ngàn năm trăm năm nay nhưng mãi đến thời gian gần đây tôi mới ý thức được nó. Có lẽ các bạn tự hỏi tại sao một người sinh trưởng trong một quốc gia sùng mộ đạo Phật như Nhật Bản lại không biết đến điều này? Quả thật như thế, mặc dù vẫn đi chùa, tụng kinh, niệm Phật nhưng tôi như người ngủ mê, không ý thức một chút gì về con đường thoát khổ này. Giống như kẻ Cùng Tử trong kinh Pháp Hoa, có hạt châu quí trong túi áo mà không biết, cứ cam chịu cuộc sống nghèo hèn, thì tôi cũng thế, cứ mê mải tìm kiếm hết thầy này đến thầy khác, hết lý thuyết này đến lý thuyết nọ. ...Xem chi tiếtHoa Trôi Trên Sóng Nước, Tỳ kheo ni Satomi Myodo - Nguyên Phong dịch (sách)

Vào một đêm tối tăm năm 1950 tôi phóng ra khỏi giường và chạy đến cửa phòng cha mẹ tôi, khiếp hãi và nửa thức nửa tỉnh. Lúc đó tôi mới năm tuổi, và hình ảnh sống động của cơn ác mộng vẫn còn đậm nét. Thật quá thực : một con rắn cuộn tròn trong giường tôi – và những lời làm yên tâm của cha mẹ tôi rằng đó chỉ là một giấc mộng đối với tôi chỉ là sự an ủi nho nhỏ. Đây là một trong những ký ức sớm nhất của tôi về giấc mộng. Đó là một giấc mộng đã lập đi lập lại suốt thời thơ ấu, thiếu niên và thậm chí đôi khi có cả bây giờ lúc tôi đã vào tuổi trung niên. Một giấc mộng là gì ? Có một ý nghĩa đặc biệt nào trong một giấc mộng thấy rắn cứ lập đi lập lại ? Những con rắn có phải là những sứ giả của tiềm thức, hay những kích thích tình dục thời nhỏ của một đứa bé hay là một tiếp thông với một loại chúng sanh gọi là naga (rồng) theo người Tây Tạng ? Có lẽ giấc mộng chỉ có thể được hiểu trong bối cảnh cuộc đời của người nằm mộng, và như thế có một ý nghĩa đặc biệt cá nhân...Xem chi tiếtYoga Giấc Mộng và Sự Thức Hành Về Ánh Sáng Tự Nhiên, Namkhai Norbu - Michael Katz biên tập, Thiện Tri Thức (sách)

Con Chó và Chiếc Áo Da, Truyện ngắn của Thuỷ Lâm Sinh
Vết Thương Tiền Kiếp, Truyện ngằn của Thuỷ Lâm Synh

Dù thế nào chăng nữa thì mọi cuộc đời đều quý báu. Trước hết, quý báu có nghĩa là gì? Trong Phạn ngữ, từ ratna để chỉ cho sự quý báu. Trong tiếng Tây Tạng, ratna đôi khi được dịch là konchog và có lúc được dịch là rinpoche. Đôi khi từ này được dịch ngắn gọn là rinchen. Những lúc khác được dịch là norbu, có nghĩa là viên ngọc quý...Xem chi tiếtSinh Ra Làm Người Quý Báu, Lạt ma Gursam - Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên

Đúng 6 giờ ngày 15/4/ Đinh Hợi – 2007, (31-5-2007) Đại lễ Phật đản lần thứ 2631 ở Thừa Thiên - Huế được chính thức khai mạc. Xung quanh lễ đài trước chùa Diệu Đế, ước chừng có khoảng gần một vạn Phật tử ở 8 huyện, thành trong tỉnh Thừa Thiên - Huế và Phật tử gần xa, được xếp theo các khối có tổ chức rất trật tự...Xem chi tiếtĐại Lễ Phật Đản ở Thừa Thiên- Huế - và ..Đại Lễ Phật Đản tại TP. Hồ Chí Minh  và ..Đại lễ Phật đản tại Hà Nội

Hoa đàm nở cho ngàn năm vang bóng, Phật đản sanh đặng muôn thuở ca mừng. Cách đây hai ngàn sáu trăm ba mươi năm, vào ngày rằm tháng tư âm lịch, tại miền Trung nước Ấn Độ, Bồ tát Hộ Minh đã giáng trần, qua hiện thân của thái tử Sĩ - Đạt – Ta, con của vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Maya. Ngài đã vì lòng từ bi, sự an lạc, hạnh phúc, giải thoát cho chúng sanh và thế gian, nên xuất hiện ở cõi Ta bà nầy. Về sau xuất gia, tu hành và thành đạo dưới cội Bồ Đề hiệu là Thích Ca Mâu Ni, giáo chủ của ba cõi, bậc thầy của chư thiên và loài người.  Qua bốn mươi lăm năm thuyết pháp độ sinh, Ngài đã để lại cho nhân loại một kho tàng giáo lý vô tận, những quy luật đạo đức để hướng dẫn con người hướng thiện và giải thoát. Nguồn ánh sáng vô lượng ấy đã soi sáng cho hành động, cho tư duy trên lộ trình giác ngộ và giải thoát của con người. Chan hòa với niềm vui chung của Phật giáo đồ trên khắp năm châu bốn biển. Đại lễ Phật Đản Liên Hiệp Quốc lần thứ 4 đã được tổ chức tại Buddhamonthon, Nakhon Pathom và văn phòng Liên Hiệp Quốc ở Bangkok, Thái Lan vào ngày 26 – 29/5/2007 (Phật lịch 2550).Đại Lễ Phật Đản Liên Hiệp Quốc lần thứ 4 2007 tại Bangkok

TVHS
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap