23-12-2003
tới 1-1-2004
Tu
viện Kong Meng San Phor Kark See, Singapore
Khóa
Tối 23-12-2003
Bắt
đầu bài giảng, Rinpoche nói rằng Singapore là một địa điểm
rất linh thiêng đối với Phật Giáo. Con người ở đây hết
sức tử tế và nơi đây quả là một địa điểm đặc biệt.
Thậm chí nó tốt lành đến nỗi chúng ta đang sử dụng một
địa điểm linh thiêng như thế để thực hành. Công đức
của việc thực hiện trì tụng 100 triệu Thần chú Sáu-Âm
thì không thể nghĩ bàn. Trong khoảng thời gian này, chúng ta
phải tích cực khắc phục những trở ngại và khó khăn. Ta
cũng cần tuân giữ kỷ luật và đúng giờ. Bởi chúng ta đang
thực hiện cuộc nhập thất này để làm lợi lạc người
khác và bản thân ta, chúng ta phải vượt qua bất kỳ khó
khăn nào xuất hiện. Chúng ta cần thức dậy sớm và ngủ
trễ. Không nên ngủ gà ngủ gật hay tham dự những cuộc trò
chuyện vô ích.
Rinpoche
nói tiếp rằng tất cả chúng sinh đều từng có lần là cha
mẹ chúng ta. Vì thế, trong thời gian nhập thất, chúng ta phải
ước nguyện làm lợi ích cho tất cả chúng sinh để đền
đáp thiện tâm của họ đối với ta. Chúng ta phải hồi hướng
những công đức có được từ cuộc nhập thất này để
làm Giáo Pháp nở rộ, và để việc truyền bá Pháp không
bị những chướng ngại. Chúng ta cần tẩy trừ mọi nghiệp
tiêu cực ta đã tạo nên trong sinh tử từ vô thuỷ. Chúng
ta cần phải hối tiếc mọi hành vi tiêu cực của ta. Những
cảm xúc phiền não và những che chướng của ta ngăn trở
không cho ta nhận ra chân tánh, hay Phật tánh của ta. Tuy nhiên,
những che chướng này thì nhất thời, không thường hằng,
và chúng có thể được tịnh hóa. Nhờ thực hành Thần chú
Sáu-Âm, chúng ta sẽ có thể thoát khỏi luân hồi sinh tử,
tái sinh trong cõi Tịnh độ và cuối cùng đạt được Giác
ngộ. Chúng ta phải mong muốn làm lợi lạc tất cả chúng
sinh. Tất cả chúng sinh trong sáu cõi phải trải qua nỗi đau
khổ ghê gớm. Chúng sinh trong các cõi thấp có rất ít cơ
hội thoát khỏi những cõi này. Do đó, chúng ta phải hồi
hướng công đức cho chúng sinh để họ được tái sinh trong
cõi Tịnh độ và thoát khỏi đau khổ. Đây là trách nhiệm
của chúng ta.
Rinpoche
nói rằng nhờ chứng ngộ tánh Không, người đạt được
giác ngộ sẽ có cái thấy (kiến) về sự xả bỏ. Người
ấy sẽ thấy tất cả chúng sinh đều bình đẳng bởi tất
cả chúng sinh đều có Phật tánh. Khi ấy lòng đại bi sẽ
phát khởi một cách tự nhiên. Lòng đại bi và ước nguyện
thì rất cần thiết khi ta thực hiện cuộc nhập thất này.
Về sau chúng ta sẽ hiểu được rằng không có sự khác biệt
giữa sinh tử và Niết bàn. Chúng sinh và Đức Phật thì đồng
nhất. Thần chú Sáu-Âm là trí tuệ của tất cả chư Phật
và Bồ Tát và nó bao gồm toàn bộ giáo lý của Đức Phật.
Bởi có nhiều người tham dự nên chúng ta sẽ có thể trì
tụng thần chú này nhiều lần. Ta nên nghiêm cẩn khi thực
hành trì tụng Thần chú Sáu-Âm. Chúng ta phải tụng âm “OM”
và “HUNG” thật rõ ràng.
Khóa
Sáng 24-12-2003
Sau
một bài cầu nguyện ngắn guru gốc của ngài, Rinpoche bắt
đầu bài giảng bằng cách lưu ý rằng là những Phật tử,
tất cả chúng ta có một ít hiểu biết về Phật Giáo. Những
người tham dự cuộc nhập thất này cũng hiểu rõ ý nghĩa
của thần chú. Trong quá khứ, Phật Giáo đã phát triển ở
Tây Tạng. Từ Tây Tạng, giờ đây truyền thống Kim Cương
thừa của thực hành Phật Giáo đã phổ biến tới những
phần khác của thế giới.
Rinpoche
nói rằng luân hồi sinh tử không có chút ý nghĩa chân thực
nào. Bất kỳ hoạt động nào mà chúng ta dấn mình vào trong
đời sống hàng ngày, dù là công việc hay việc kinh doanh,
những hoạt động này không có ý nghĩa chân thực. Cho dù
chúng ta đổ bao nhiêu nỗ lực vào những hoạt động sinh
tử nhưng những hoạt động ấy không có ý nghĩa chân thực.
Chúng ta thường đi nghịch lại định luật nhân quả và mắc
phạm nhiều hành vi vô đạo đức khi tham dự vào những hoạt
động sinh tử. Sau đó Rinpoche hát một bài đạo ca. Bài ca
này nói rằng trì tụng một lần duy nhất Thần chú Sáu-Âm
thì còn quý báu hơn một con ngựa, một con bò, mọi tài sản
mà ta sở hữu và tất cả những bạn bè thân thiết của
ta. Đó là bởi tất cả những điều này không thể đi theo
chúng ta khi ta chết và chúng không thể dẫn dắt ta tới cõi
Tịnh độ. Chỉ duy nhất Thần chú Sáu-Âm là có thể làm
được điều đó vì thế không có gì tốt hơn nó. Thần chú
này là cốt tuỷ của toàn bộ 84.000 giáo lý của Đức Phật,
là cốt tuỷ của truyền thống Kim Cương thừa và là tâm
chú của chư Phật trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Khi
trì tụng thần chú, chúng ta phải tụng với lòng từ ái và
bi mẫn. Giáo Pháp nhấn mạnh việc thực hành lòng từ ái.
Lòng từ ái giống như mặt đất nâng đỡ để mọi sự vật
đứng vững và có thể chuyển động. Mọi thực hành và những
thiện hạnh được thực hiện của chúng ta, cả những hành
vi không hình tướng lẫn những hành vi có sắc tướng, thì
tùy thuộc vào lòng từ ái. Khi chúng ta trì tụng với lòng
từ ái, ta có thể làm lợi lạc chúng sinh. Chúng ta có thể
giải thoát chúng sinh trong ba cõi thấp khỏi nỗi đau khổ.
Do đó chúng ta nên trì tụng Thần chú Sáu-Âm với lòng từ
ái và hồi hướng những công đức của việc trì tụng cho
tất cả chúng sinh. Chúng ta phải thấu hiểu rằng tất cả
chúng sinh trong ba cõi thấp và chúng sinh đau khổ bởi sự
vô minh đều từng là cha mẹ của chúng ta vào lúc này hay
lúc khác. Họ phải trải qua những đau khổ ghê gớm và rơi
vào ba cõi thấp do bởi nghiệp tiêu cực của họ. Do đó,
điều quan trọng là chúng ta hồi hướng công đức của ta
cho họ. Những chúng sinh đó đau khổ bởi vô minh và không
biết làm cách nào để giải trừ sự vô minh này. Do
đó họ phải là những đối tượng của lòng bi mẫn của
ta. Nếu chúng ta có thể phát triển lòng bi mẫn đối với
họ một cách tự nhiên thì ta có thể nói rằng chúng ta thực
sự bi mẫn. Trước tiên, ta phát triển lòng bi mẫn đối với
chúng sinh trong ba cõi thấp, sau đó ta mở rộng lòng bi mẫn
này tới tất cả chúng sinh trong sáu cõi luân hồi sinh tử.
Chúng ta cũng cần thấu suốt cái thấy về tánh Không và sự
xả bỏ.
Rinpoche
nói rằng trong cuộc nhập thất này, chúng ta nên thương yêu
và kính trọng lẫn nhau. Nếu ngay cả điều này chúng ta cũng
không làm được thì chắc chắn là ta không thể khẳng định
là ta có lòng từ ái đối với tất cả chúng sinh. Trong khi
trì tụng Thần chú Sáu-Âm, chúng ta cũng nên trì tụng nó
với tâm từ ái. Mục đích của việc thực hành của ta là
giải thoát ta và chúng sinh khỏi luân hồi sinh tử. Chúng ta
cũng nên khao khát phát triển Bồ Đề tâm. Trước tiên, hãy
ước nguyện tất cả chúng sinh đau khổ trong ba cõi thấp
được tái sinh trong ba cõi cao. Sau khi nhận sự tái sinh tốt
đẹp hơn trong ba cõi, cầu mong tất cả chúng sinh tái sinh
trong những cõi Tịnh độ và cuối cùng đạt được Giác
ngộ. Khi ước nguyện theo cách thức như thế, chúng ta đang
đền đáp thiện tâm của tất cả những bà mẹ chúng sinh.
Chúng ta cũng sẽ có cơ hội để chứng ngộ tánh Không và
sự xả bỏ. Khi đã chứng ngộ Phật tánh của ta, ta sẽ nhận
ra rằng tất cả chúng sinh cũng đều có Phật tánh. Do đó,
không có ý niệm nhị nguyên giữa ta và người – đây là
sự xả bỏ. Rinpoche khẩn cầu chúng ta ghi nhớ lời khuyên
dạy của ngài và thực hành trì tụng Thần chú Sáu-Âm một
cách nghiêm mật để làm lợi lạc bản thân và những người
khác. Ý nghĩa đứng sau việc thực hành Thần chú Sáu-Âm là
lòng từ ái, bi mẫn và Bồ Đề tâm. Nếu chúng ta trì tụng
thần chú mà không có lòng từ ái và bi mẫn thì những sự
ban phước của thần chú sẽ không có tác dụng. Chúng ta nên
trân trọng cơ hội hy hữu này để thật nhiều người cùng
tới thực hành cuộc nhập thất này. Do đó, chúng ta phải
nỗ lực nghiêm mật trong khi thực hành để mang lại lợi
lạc cho tất cả chúng sinh.
Khóa
Chiều 24-12-2003
Một
cuộc nhập thất như thế này có được là nhờ sự kết
hợp của nhiều nhân duyên tốt lành. Những người tham dự
cuộc nhập thất có thể được chia làm ba hạng: hạ căn,
trung căn và thượng căn. Nhưng trong Pháp thân thì mọi người
đều là hiện thân của ba kaya (thân) trong bản thân họ. Thân
thể vật lý của ta là Đức Chenrezig (Quán Thế Âm), sự trì
tụng Thần chú Sáu-Âm của ta là ngữ của Đức Chenrezig trong
khi tâm ta là Phật tánh. Chúng ta phải có niềm tin nơiû điều
này. Chúng ta cần tịnh hóa thân, khẩu và ý của ta trong thời
gian nhập thất. Trong quá khứ, khi những cuộc nhập thất
thuộc loại này được duy trì ở Tây Tạng, những người
nam và nữ ngủ đêm trong những khu vực riêng biệt. Bởi cuộc
nhập thất này chỉ có tám ngày, nếu chúng ta có thể tuân
thủ truyền thống như Tây Tạng trước đây thì tốt nhất.
Trong khi nhập thất, khói hương được dùng để tịnh hóa
thân, khẩu và ý. Chúng ta cần phải tẩy trừ tham, sân và
si trong cuộc nhập thất. Nếu không, việc phát triển công
đức sẽ bị ảnh hưởng giống như ta sẽ không được an
toàn khi uống nước bị nhiễm bùn dơ.
Khóa
Sáng 25-12-2003
Bởi
trong Phật Giáo, hầu hết chúng ta là những người sơ cơ,
ta không hiểu biết sâu xa giáo lý đạo Phật. Dù thế nào
chăng nữa thì chúng ta cũng phải nghiêm túc trong cách hành
xử hàng ngày và bảo đảm là chúng ta tuân theo luật nhân
quả trong những hành vi của chúng ta. Nếu ta phải thảo luận
về giáo lý của Đức Phật trong cuộc chuyển Pháp luân lần
thứ ba, chúng ta sẽ không thể lãnh hội toàn bộ nội dung
bao la của nó. Do đó, chúng ta trì tụng Thần chú Sáu-Âm,
nó là tâm yếu của tất cả chư Phật và Bồ Tát và chứa
đựng toàn bộ 84.000 giáo lý của Đức Phật. Điều tối
quan trọng là chúng ta phải có động lực tốt đẹp, một
trái tim thiện lành và nỗ lực nghiêm mật khi tiến tới mục
tiêu 100 triệu lần trì tụng Thần chú Sáu-Âm. Nếu chúng
ta tỉnh giác và tuân theo luật nhân quả trong cách ta hành
xử hàng ngày, và nhận được những sự ban phước của việc
thực hành Thần chú Sáu-Âm, thì chúng ta không cần lệ thuộc
người khác. Nếu chúng ta từ bỏ việc thực hành Thần chú
Sáu-Âm và vô trách nhiệm trong hành vi của ta, thì nhất định
là ta sẽ phải chịu nỗi đau khổ ghê gớm vào lúc chết.
Sau kỳ nhập thất này, chúng ta cũng nên quả quyết rằng
ta tuân theo luật nhân quả trong đời sống hàng ngày và trì
tụng Thần chú Sáu-Âm càng nhiều càng tốt. Khi ta trì tụng
Thần chú Sáu-Âm, ta nên cố trụ tâm trong Phật tánh của
ta. Ta làm điều đó như thế nào? Bằng cách đặt niềm tin
vào thần chú khi ta trì tụng và tẩy trừ năm độc của ta.
Nếu những hành động của ta bị tác động bởi năm độc
thì nghiệp tích cực của ta sẽ bị tác động. Công đức
của thực hành của ta thì thuần tịnh nhưng những công đức
này có thể bị tổn hại nếu ta không tịnh hóa các hành
động. Một lần nữa, điều quan trọng là cầu nguyện ba
kaya (ba thân: hình thức Pháp Thân Đức Phật A Di Đà, hình
thức Báo thân Bồ Tát Chenrezig và hình thức Hóa Thân Đức
Liên Hoa Sanh) khi chúng ta ước nguyện tất cả chúng sinh được
tái sinh trong cõi Tịnh độ.
Dòng
truyền thừa của Thần chú Sáu-Âm bắt nguồn từ Đại Vương
Tây Tạng Songtsen Gampo. Từ thời đại của ngài tới nay, dòng
truyền đã truyền xuống không đứt đoạn. Có hai cách thực
hành trì tụng Thần chú Sáu-Âm. Cách thứ nhất là trì tụng
Thần chú Sáu-Âm với âm “HRIH” ở cuối câu. Cách thứ
hai là chỉ tụng Thần chú Sáu-Âm, không có âm “HRIH”. Về
cơ bản thì cả hai phương pháp đều giống nhau bởi khi ta
không tụng âm “HRIH”, ta quán tưởng chữ này nơi tim Đức
Chenrezig. “HRIH” là chủng tự của thần chú sáu-âm. Theo
giảng dạy về thực hành Thần chú Sáu-Âm của một đạo
sư của dòng truyền thừa là Guru Chinang Lodre thì “HRIH”
là chủng tự của Đức Chenrezig. Nếu chúng ta dấn mình nghiêm
mật vào việc thực hành Thần chú Sáu-Âm trong đời sống
hàng ngày của ta, chúng ta sẽ có thể tái sinh vào cõi Tịnh
độ bởi thần chú đóng lại cánh cửa dẫn vào sáu cõi luân
hồi sinh tử. Trong những giai đoạn bardo, nhiều sự lầm lạc
sẽ xuất hiện và dẫn ta tới việc tái sinh trong sinh tử.
Tuy nhiên, Thần chú Sáu-Âm có thể tiệt trừ những lầm lạc
này. Sẽ không khó khăn để được tái sinh trong cõi Tịnh
độ. Ta có thể tái sinh vào Tây phương Tịnh độ của Đức
Phật A Di Đà, cõi Tịnh độ phương Đông của Đức Phật
Bất Động, Tịnh độ của Đức Liên Hoa Sanh hay những cõi
Tịnh độ khác, tuỳ theo những mối liên hệ nghiệp của
chúng ta.
Tâm
thức chúng ta có hai phương diện: phương diện tánh Không
và phương diện quang minh. Phương diện quang minh của tâm thì
thường xuyên ở trong sự lưu chuyển không bị chướng ngại.
Chúng ta nên phát triển lòng bi mẫn và từ ái với phương
diện này của tâm ta. Đối tượng của lòng bi mẫn của ta
nên là chúng sinh trong sáu cõi. Nếu chúng ta có thể duy trì
một động lực như thế mà không bị ô nhiễm bởi ba độc
(tham, sân, si), chúng ta sẽ có thể tịnh hoá nghiệp tiêu cực
của ta.
Khóa
Chiều 25-12-2003
Trong
khi trì tụng chúng ta nên nghiêm mật và khao khát tất cả
chúng sinh đều được giải thoát khỏi sinh tử. Chúng ta không
nên ngủ gà ngủ gật, tham dự những cuộc trò chuyện vô
ích hay để trí tưởng tượng của ta lang thang đây đó. Nỗi
đau khổ của ta xuất hiện là do bởi những cảm xúc phiền
não và những lầm lạc của ta. Do đó chúng ta nên thực hành
trì tụng Thần chú Sáu-Âm một cách nghiêm mật để tịnh
hóa tâm ta. Chúng ta phải khắc phục mọi khó khăn nếu ta
muốn đạt được giải thoát.
Khóa
Tối 25-12-2003
Singapore
là một địa điểm rất linh thánh, nơi mọi người tràn đầy
thiện tâm. Tất cả chúng ta đều có Phật tánh. Để nhận
ra được Phật tánh này, chúng ta cần phải trì tụng Thần
chú Sáu-Âm và hồi hướng công đức của việc thực hành.
Khóa
Sáng 26-12-2003
Tất
cả những người tham dự cuộc nhập thất đều có nghiệp
tích cực. Nhờ nguyện ước và sự tích tập nghiệp tích
cực của ta trong quá khứ mà chúng ta có thể thực hiện cuộc
nhập thất này. Chúng ta cần tụng lời nguyện Quy y và Bồ
Đề tâm khi thực hành. Tất cả chúng sinh đều có tiềm năng
trở thành một vị Phật và bản tánh của ta là Phật tánh.
Không cần phải nghi ngờ hay tra vấn về điều này. Đây là
lý do vì sao Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng dạy theo sự
chứng ngộ của Ngài, và không điều gì được giải thích.
Chúng ta phải tin tưởng vào điều đó. Hiện nay chúng ta không
thể nhận ra Phật tánh của mình do bởi những che chướng
nhất thời. Rinpoche chia sẻ với chúng ta một số kinh nghiệm
của ngài. Trước đây, tim, phổi và gan của ngài có vấn
đề. Tuy nhiên, nhờ sự thực hành, ngài đã hồi phục mà
không dùng tới thuốc men. Nhưng một hôm ngài khám phá ra rằng
vẫn còn sót lại ít bệnh. Đó là bởi ngài đã không tẩy
trừ hết những khuynh hướng quen thuộc và những che chướng
của ngài. Do đó, điều tối quan trọng là chúng ta phải chặt
đứt gốc rễ của sinh tử bằng cách tẩy trừ những cảm
xúc phiền não và những lầm lạc của ta. Sau đó Rinpoche hát
một bài đạo ca, nó nói rằng mọi chúng sinh đều có tiềm
năng trở thành một vị Phật nhưng họ bị vô minh ngăn che.
Tất cả những người tham dự và mọi chúng sinh đều có
Phật tánh. Giống như Rinpoche, chúng ta có thể tịnh hóa những
che chướng để hiển lộ Phật tánh của ta. Nhờ sự thực
hành, chúng ta có thể đạt được Giác ngộ. Do đó, chúng
ta phải mong mỏi và hồi hướng công đức để tất cả chúng
sinh được giải thoát khỏi sinh tử. Chúng ta phải cầu nguyện
ba thân: Đức Phật A Di Đà, Đức Chenrezig và Đức Liên Hoa
Sanh. Chúng ta phải thực hành thật nghiêm mật để tẩy sạch
năm độc là những nhiễm ô của tâm ta. Một khi tâm được
tịnh hoá, ta không cần mọi sự tìm cầu vị Phật bên ngoài
bởi Phật tánh của ta sẽ xuất hiện một cách tự nhiên.
Mọi
chúng sinh đều có những căn cơ khác biệt nhau: cao, trung bình
và thấp. Một vài người đã từng thực hành và tích tập
trí tuệ và công đức trong những đời trước. Nhờ sự thực
hành, họ có thể giải thoát khỏi sinh tử trong đời này.
Đối với những người trung căn, họ có thể đạt được
những thành tựu vĩ đại trong đời này. Đối với những
người hạ căn, họ nên hiểu rằng họ phải tích tập nghiệp
tích cực và gặp những điều kiện hết sức tốt lành để
có thể có cơ hội thực hành Pháp. Chúng sinh trung và hạ
căn nên ước nguyện tái sinh vào cõi Tịnh độ và giải thoát
khỏi sinh tử. Mọi người nên bảo đảm rằng mọi hành động
của họ phù hợp với Pháp. Tất cả chúng ta phải hiểu rằng
sinh tử là nỗi nhọc nhằn và đau khổ, do đó ta phải ước
nguyện được giải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử. Nguyện
ước thì rất quan trọng. Chúng ta không nên bám luyến vào
hạnh phúc của cuộc đời này.
Khóa
Chiều 26-12-2003
Câu
cuối cùng của “Bốn Tâm Vô lượng” viết: “Cầu mong
tất cả chúng sinh an trú trong sự xả bỏ, thoát khỏi sự
ganh ghét và dính mắc.” Khi trụ tâm trong sự xả bỏ, chúng
ta quán tưởng môi trường quanh ta là một cung điện tráng
lệ. Trong cung điện, ta quán tưởng Đức Chenrezig và những
âm thanh ta nghe được là Pháp âm của Đức Chenrezig.
Điều
then chốt của thực hành ba thân này là bản thân chúng ta.
Chúng ta phải tránh không làm điều xấu và thực hiện những
điều tốt lành. Hãy ân hận về mọi nghiệp tiêu cực ta
đã làm trước đây. Nếu ta không thể nhớ những nghiệp
tiêu cực được tạo nên từ những đời trước thì ít nhất
ta nên nhớ lại những việc đã làm trong đời này và hối
tiếc vì đã làm những điều đó. Ta nên nỗ lực phát triển
và bảo hộ những công đức của ta, đừng để nó bị tổn
hại.
Khóa
Tối 26-12-2003
Khi
ta thực hành, động lực và tâm ta phải trong sạch. Chúng
ta phải nhớ lại sự quan trọng của việc giải thoát khỏi
sinh tử. Chúng ta nên khắc phục những khó khăn như sự thiếu
tiện nghi và mệt nhọc của thân thể. Hãy tẩy trừ những
cảm xúc phiền não và ba độc của ta. Khi ta có thể làm được
điều đó, ba thân bẩm sinh và Như Lai tạng của ta sẽ hiển
lộ một cách tự nhiên. Khi ta đi tới đại sảnh nhập thất
và từ đó trở về nhà, chúng ta nên tiếp tục trì tụng
Thần chú Sáu-Âm để bù đắp cho những lúc ta không tụng
thần chú một cách rõ ràng và chính xác.
Khóa
Sáng 27-12-2003
Trong
sáu cõi sinh tử, việc có một đời người quý báu được
phú tặng tám tự do và mười điều thuận lợi (cũng được
gọi là mười sự phú bẩm) thì cực kỳ khó khăn. Một Phật
tử với một đời người quý báu thì hiếm có như một vì
sao được nhìn thấy vào ban ngày. Do đó, chúng ta không được
lãng phí đời ngưới quý báu của ta. Tận đáy lòng và trong
tâm ta, ta phải nhắm tới việc đạt được giải thoát bằng
sự thực hành Thần chú Sáu-Âm và chặt đứt gốc rễ của
sinh tử. Mỗi âm của thần chú chặt đứt gốc rễ của việc
tái sinh trong mỗi một trong sáu cõi sinh tử. Do đó, Thần
chú Sáu-Âm ngăn cản việc tái sinh trong sinh tử và khiến
chúng ta có thể tái sinh trong cõi Tịnh độ. Một khi ta chặt
đứt gốc rễ của sinh tử nhờ tiệt trừ những cảm xúc
phiền não của ta bằng việc thực hành Thần chú Sáu-Âm,
chúng ta có thể tái sinh trong cõi Tịnh độ. Môi trường xung
quanh trong cõi Tịnh độ thì khó có thể mô tả. Chúng ta không
thể hình dung cõi Tịnh độ như thế nào trừ phi ta tái sinh
ở đó. Rinpoche thường xuyên hồi hướng đức cho sự giải
thoát của tất cả chúng sinh. Nếu ta trì tụng Thần chú Sáu-Âm
mà không chặt đứt gốc rễ của sinh tử, thì việc thực
hành của ta không có ý nghĩa chân thật nào. Nếu ta không
thể chặt đứt gốc rễ của sinh tử bằng việc thực hành
Thần chú Sáu-Âm thì việc chặt đứt sinh tử bằng những
thực hành khác còn khó khăn hơn nữa. Chúng ta phải khao khát
được giải thoát bởi chúng ta phải trải qua nỗi khổ ghê
gớm trong đại dương sinh tử. Nguyện ước của ta phải hết
sức mạnh mẽ. Trong những đời trước của ta, ta đã có
ước nguyện và sự hồi hướng công đức tốt lành, nhờ
đó ta có thể có được cơ hội hi hữu để thực hành này.
Chúng ta không được để cho cuộc đời này trở nên phí
phạm. Thay vào đó, ta nên hết sức nỗ lực trong việc thực
hành để được tái sinh trong cõi Tịnh độ. Rinpoche nói rằng
ngài đã giảng cho chúng ta cốt tuỷ, nội dung mấu chốt của
việc thực hành Thần chú Sáu-Âm và khẩn cầu chúng ta nhớ
lại những lời giảng dạy của ngài.
Khóa
Tối 27-12-2003
Khi
ta đạt được mục tiêu của cuộc nhập thất, mỗi người
trong chúng ta sẽ có những công đức của việc trì tụng
một trăm triệu lần Thần chú Sáu-Âm. Chúng ta phải lưu ý
rằng phẩm tính của việc trì tụng của ta thì rất quan trọng.
Chúng ta cần phát âm mỗi âm tiết một cách rõ ràng, chính
xác và giữ tâm ta thư thản và thoát khỏi ba độc. Khi trì
tụng Thần chú Sáu-Âm, ta phải tụng một cách hoan hỉ, an
bình và quên đi sự bất hạnh của ta. Hãy tập trung vào việc
trì tụng và đừng để tư tưởng của ta đi rong. Bản tánh
của Thần chú Sáu-Âm thì thanh tịnh nhưng những cảm xúc
phiền não của ta sẽ gây ảnh hưởng bất lợi cho những
công đức của thần chú. Giống như nước bị ô nhiễm không
thể làm dứt cơn khát của ta bởi thậm chí nó không thể
uống được, một tâm thức bất tịnh cũng tác động tới
tâm thức của ta. Vào cuối thời khóa trì tụng, ta phải hồi
hướng công đức cho tất cả những bà mẹ chúng sinh để
tỏ lòng biết ơn họ. Chúng ta cũng phải hồi hướng công
đức cho sự phát triển của Giáo Pháp. Cuối cùng, chúng ta
phải hồi hướng công đức để tất cả chúng sinh đạt
được sự xả bỏ, giải thoát khỏi sự tham luyến và đạt
được Giác ngộ.
Khóa
Sáng 28-12-2003
Tất
cả chúng sinh đều mong muốn đạt được Giác ngộ. Để
đạt được điều đó, chúng ta phải làm điều thiện và
tránh không làm những hành vi vô đạo đức. Chúng ta phải
tự chế không mắc phạm mọi hành vi tạo nên nghiệp tiêu
cực. Bởi chúng ta đã có được một đời người cao quý
nên điều quan trọng là ta phải thực hành Thần chú Sáu-Âm.
Mọi đạo sư của dòng truyền thừa đã luôn luôn nhấn mạnh
vào tầm quan trọng của việc thực hành Thần chú Sáu-Âm.
Là một Phật tử trong tiến trình tu học Phật Giáo, ta có
nhiều điều để học chẳng hạn như các kinh điển và những
luận giảng về các Kinh điển của ba truyền thống. Bởi
chúng ta rất khó thấu suốt tất cả những giáo lý này cho
nên những đạo sư vĩ đại của dòng truyền thừa nhấn mạnh
vào Thần chú Sáu-Âm để làm lợi lạc bản thân ta và những
người khác. Việc thực hành trì tụng Thần chú Sáu-Âm một
cách nghiêm mật thì ngang bằng với việc thực hành tất cả
những giáo lý khác. Thần chú Sáu-Âm chứa đựng tinh tuý
trí tuệ của tất cả chư Phật và Bồ Tát. Trong việc trì
tụng, chúng ta phải nghiêm mật và tụng đọc một cách rõ
ràng và chính xác. Trong các hành động, ta phải chân thành
và thẳng thắn. Trong tâm thức, chúng ta phải tràn đầy nguyện
ước mà không có chút nghi ngờ nào. Để được tái sinh vào
cõi Tịnh độ, ta phải có nguyện ước lớn lao. Đừng hướng
tâm trở lại vòng luân hồi sinh tử. Hãy thoát khỏi sự tham
muốn và bám luyến bởi đây là những sự trói buộc không
cho chúng ta giải thoát. Chân hạnh phúc là cõi Tịnh độ.
Chỉ khi nào ta được tái sinh trong cõi Tịnh độ thì chúng
ta mới hiểu rõ được điều này. Đừng bỏ phí mối liên
hệ với Rinpoche. Tránh đừng phát triển sự tham muốn sinh
tử. Hãy để động lực và nguyện ước mạnh mẽ là năng
lực dẫn dắt những hành động của chúng ta. Hãy nhớ rằng
mục đích của thực hành của chúng ta là đạt được giải
thoát và tái sinh trong cõi Tịnh độ, chứ không phải là hạnh
phúc của đời này. Rinpoche nói rằng ngài đã hoàn tất nhiều
trăm triệu lần trì tụng Thần chú Sáu-Âm và ngài thường
xuyên hồi hướng công đức từ việc thực hành của ngài
để tất cả chúng sinh được tái sinh trong cõi Tịnh độ.
Khóa
Chiều 28-12-2003
Rinpoche
nói rằng điều quan trọng là ta thực hành trì tụng Thần
chú Sáu-Âm với một trái tim thuần tịnh và tốt lành. Chúng
ta nên biểu lộ lòng từ ái đối với nhau và giúp đỡ, quan
tâm lẫn nhau. Lòng từ ái là một thiện tâm hết sức mãnh
liệt đối với chúng sinh. Khi ta nhận ra rằng tất cả chúng
sinh phải chịu đựng nỗi đau khổ ghê gớm và ta ước nguyện
họ được giải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử, thì ước
nguyện ấy là Bồ Đề tâm. Chúng ta nên trì tụng Thần chú
Sáu-Âm với lòng từ ái, lòng bi mẫn và cầu nguyện rằng
tất cả chúng sinh sẽ được giải thoát khỏi ba cõi thấp,
tái sinh trong cõi Tịnh độ và cuối cùng đạt được Giác
ngộ. Nếu chúng ta trì tụng theo cách này thì kết quả tích
cực của việc thực hành sẽ rất to lớn. Việc trì tụng
này cũng rất cần thiết cho sự tích tập công đức của
ta.
Khóa
Tối 28-12-2003
Rinpoche
cảm ơn tất cả những người tham dự cuộc nhập thất này.
Ngài nói rằng việc thực hiện một cuộc nhập thất như
thế sẽ mang lại ý nghĩa chân thực cho đời người quý báu
của ta. Chúng ta có thể dễ dàng đạt được mục tiêu 100
triệu lần trì tụng nhờ những điều kiện tốt lành và
những sự ban phước của các đạo sư dòng truyền thừa trong
quá khứ. Thần chú Sáu-Âm bao gồm ba thân. Việc trì tụng
Thần chú Sáu-Âm giúp chúng ta đạt được ba thân. Rinpoche
khuyên tất cả những người tham dự có mối liên hệ nghiệp
lẫn nhau tuân thủ samaya (giới nguyện). Chúng ta nên làm điều
thiện và tránh những hành động vô đạo đức. Chúng ta cũng
nên hồi hướng công đức của việc thực hành cho sự giải
thoát của tất cả chúng sinh từng là cha mẹ của ta trong
quá khứ. Chúng ta nên khát khao giải thoát tất cả những
bà mẹ chúng sinh khỏi vòng sinh tử. Sự giải thoát khỏi
sinh tử là gì? Rinpoche giải thích rằng giải thoát khỏi sinh
tử là khi mọi cảm xúc phiền não và che chướng được tẩy
trừ khỏi tâm ta. Đức Phật nói rằng tất cả chúng sinh
vốn là Phật, chỉ trừ những người bị những cảm xúc
phiền não và những che chướng ngăn che. Khi những thứ ngăn
che này được tiệt trừ thì không cần tìm kiếm Phật ở
bên ngoài bởi Phật ở trong mỗi chúng ta. Vì thế, trong đời
sống hàng ngày và trong thực hành của ta, ta nên tịnh hóa
nghiệp tiêu cực, tiệt trừ những cảm xúc phiền não và
sự vô minh của ta. Một lần nữa, Rinpoche tỏ lời cảm ơn
tất cả những người tham dự nhập thất và hồi hướng
công đức của cuộc nhập thất cho tất cả chúng sinh.
Sau
đó Rinpoche tiếp tục giảng rõ nguồn gốc của những che
chướng của chúng ta. Rinpoche nói rằng những che chướng này
phát sinh là do chúng ta thiếu hiểu biết về ngũ uẩn. Do sự
thiếu hiểu biết này, chúng ta phát triển tham, sân và những
cảm xúc tiêu cực. Những điều này khiến cho chúng ta tạo
nên nghiệp tiêu cực. Chúng ta không thể nhận ra rằng môi
trường bên ngoài của ta thực ra là một cung điện thiêng
liêng trong khi chúng sinh ở trong cung điện là Chenrezig. Sau
đó chúng ta phát triển một ý niệm nhị nguyên về ta và
người, nó dẫn tới việc phát sinh năm độc. Điều này ngăn
cản không cho ta nhận ra Phật tánh của mình. Không nhận ra
Phật tánh của ta, chúng ta tạo nên nghiệp tiêu cực khiến
ta đau khổ trong sinh tử. Do đó ta phải tẩy trừ những cảm
xúc phiền não và tịnh hóa nghiệp tiêu cực của ta. Sau đó
ta sẽ có thể nhận ra chân tánh của mình.
Khóa
Sáng 29-12-2003
Rinpoche
giải thích rằng Phật tánh của ta thanh tịnh tự bổn nguyên.
Những cảm xúc phiền não ngăn trở không cho ta nhận ra Phật
tánh của mình. Do đó, những cảm xúc phiền não là cội gốc
của sinh tử. Chính nó đã khiến cho ta lang thang vô tận trong
sinh tử và phải chịu nỗi khổ ghê gớm. Ta có thể hiểu
những cảm xúc phiền não một cách dễ dàng. Chúng là năm
độc của ta: tham, sân, si, mạn (kiêu ngạo) và ganh tị. Những
cảm xúc này ngăn trở không cho ta nhận ra Phật tánh sẵn
có của ta. Bởi những cảm xúc phiền não này, chúng ta bị
lầm lạc trong việc phán đoán điều gì đúng và điều gì
sai. Chính điều này khiến cho chúng ta tạo nên nghiệp tiêu
cực. Do đó, chúng ta nên tránh những hành động vô đạo
đức và không để cho tham, sân và si khống chế. Những cảm
xúc phiền não chỉ gây cho ta sự lo lắng và đau khổ.
Rinpoche
nhấn mạnh rằng điều tối quan trọng là chuyển hóa tâm
thức ta. Chúng ta nên sử dụng trí tuệ và óc phán đoán trong
những tư tưởng và hành động của ta. Bởi tất cả chúng
ta đều ước muốn hạnh phúc, ta không nên tạo ra nguyên nhân
của đau khổ. Ta cần phải chuyển hóa tâm ta. Hãy thực hành
thiện tâm và tránh những tư tưởng và hành động vô đạo
đức. Thực hành thiện tâm có nghĩa là ta phải phát triển
lòng từ ái, bi mẫn và Bồ Đề tâm. Đức Chenrezig là Pháp
Vương của Lòng Đại Bi. Khi chúng ta tiệt trừ những cảm
xúc phiền não và phát triển lòng bi mẫn, khi ấy tâm ta là
một với Đức Chenrezig. Đức Chenrezig nhắm mục đích giải
thoát tất cả chúng sinh khỏi sinh tử. Tuy nhiên, điều này
đòi hỏi phải có mối liên hệ nghiệp. Do đó, ta nên phát
triển lòng từ ái, bi mẫn và Bồ Đề tâm nhằm thiết lập
mối liên hệ nghiệp để được Đức Chenrezig giải thoát.
Rinpoche nói rằng khi trì tụng, điều tối quan trọng đối
với ta là hết sức mong mỏi tất cả chúng sinh được tái
sinh trong cõi Tịnh độ và thoát khỏi vòng sinh tử. Với một
ước nguyện như thế, ta sẽ không bị lầm lạc trong việc
thấu hiểu điều gì đúng và điều gì sai. Ta không nên phát
triển sự tham muốn và bám luyến vào hạnh phúc trong sinh
tử. Rinpoche nhấn mạnh nhiều lần về sự quan trọng của
việc ước nguyện tất cả chúng sinh được tái sinh trong
cõi Tịnh độ. Chúng ta nên thường xuyên thiết lập nguyện
ước này.
Khóa
Chiều 29-12-2003
Rinpoche
giảng dạy rằng ý nghĩa nằm đằng sau câu thứ tư của “Bốn
Tâm Vô lượng”. Câu “Cầu mong tất cả chúng sinh an trú
trong sự xả bỏ, thoát khỏi sự ganh ghét và dính mắc”
có nghĩa là ta không nên phát triển sự tham muốn và bám luyến
đối với những người thân thiết với ta, chẳng hạn như
những thân quyến và bằng hữu. Thông thường thì ta rất
dính mắc với thân bằng quyến thuộc trong khi cứ khăng khăng
ghét bỏ hay căm thù những người khác. Mục đích của Thần
chú Sáu-Âm là để chỉnh sửa điều đó, giải thoát chúng
ta khỏi những cảm xúc phiền não. Nếu ta có sự bám luyến
và tham muốn hết sức mãnh liệt, nhiều sự mê lầm sẽ phát
sinh trong những giai đoạn bardo của ta. Những lầm lạc này
sẽ ngăn trở ta trong việc tái sinh vào cõi Tịnh độ. Do đó,
chúng ta nên nỗ lực tẩy trừ những bám luyến và tham muốn
này khi ta còn sống. Ta cũng thường rất dính mắc vào những
vật thuộc về ta, chẳng hạn như con cái, cha mẹ và gia đình
ta v.v.. Sự bám luyến như thế sẽ tiếp tục ngay cả trong
những giai đoạn bardo. Đối với những người trải nghiệm
nhiều cảm xúc phiền não trong khi còn sống, những cảm xúc
phiền não của họ thậm chí sẽ còn mạnh mẽ hơn trong các
giai đoạn bardo. Điều này sẽ làm cho họ tái sinh trong ba
cõi thấp. Do đó, điều quan trọng đối với ta là tẩy trừ
những cảm xúc phiền não này và phát triển lòng đại bi
và xả bỏ đối với tất cả chúng sinh.
Khóa
Tối 29-12-2003
Chúng
ta phải hoan hỉ trong quá trình nhập thất, hoan hỉ bởi ta
có thể đạt được mục tiêu của ta là trì tụng một trăm
triệu lần Thần chú Sáu-Âm. Trong thời đại và xã hội hiện
đại như thế, thật hiếm có một cuộc nhập thất thuộc
loại này đạt được mục tiêu. Điều này có thể thực
hiện được hoàn toàn chỉ nhờ có những điều kiện hết
sức hy hữu và tốt lành, vì thế chúng ta nên hoan hỉ. Những
năng lực của sự hoan hỉ này sẽ khiến ta tái sinh vào cõi
Tịnh độ một cách dễ dàng. Trong cõi Tịnh độ, không có
sự khác biệt giữa người nam và người nữ. Nó là nơi hiện
diện đầy đủ những điều kiện tốt lành và tất cả chư
Phật và Bồ Tát. Chúng ta muốn đi tới cõi Tịnh độ để
cuối cùng đạt được Giác ngộ. Trong những giai đoạn bardo
sau cái chết, Thần chú Sáu-Âm sẽ xuất hiện với ta như
Đức Chenrezig. Ngài sẽ dẫn dắt chúng ta thoát khỏi những
mê lầm xuất hiện trong những giai đoạn bardo và đưa chúng
ta tới cõi Tịnh độ. Do đó, việc ta phát triển ước nguyện
tái sinh trong cõi Tịnh độ thì hết sức cần thiết. Thần
chú Sáu-Âm là tinh tuý của tất cả các Pháp. Ta nên nguyện
trì tụng Thần chú Sáu-Âm để đóng cánh cửa dẫn tới sáu
cõi sinh tử. Ta cũng nên chặt đứt gốc rễ của những cảm
xúc phiền não và năm độc của ta để tái sinh trong cõi Tịnh
độ. Giờ đây chúng ta đã hoàn tất mỹ mãn một trăm triệu
lần trì tụng Thần chú Sáu-Âm và sở hữu mọi điều kiện
tốt lành thiết yếu, việc chúng ta bắt đầu từ đây ra
sao thì tùy thuộc vào chúng ta. Từ nay trở đi, chúng ta nên
tẩy trừ sự tham luyến những theo đuổi thế gian, và thấu
hiểu lẽ vô thường và nỗi đau khổ. Chúng ta không nên đòi
hỏi quá nhiều thành tựu thế gian, đừng có quá nhiều ba
độc, và tịnh hóa những cảm xúc phiền não của ta. Với
sự hiện diện của tất cả những điều kiện tốt lành
này, việc tái sinh vào cõi Tịnh độ có thể thực hiện dễ
dàng, Tuy nhiên, nếu ta không có ước nguyện tái sinh trong
cõi Tịnh độ, không thực hành nghiêm mật, không tịnh hoá
những cảm xúc phiền não của ta, không thực hành Thần chú
Sáu-Âm, không quý trọng những công đức có được từ cuộc
nhập thất và thay vào đó cứ tiếp tục tạo nghiệp tiêu
cực, thì ta sẽ rất khó lại có được mọi điều kiện
tốt lành này để thành tựu một trăm triệu lần trì tụng
thần chú này một lần nữa. Như thế chúng ta sẽ tiếp tục
đau khổ trong vòng sinh tử. Nếu chúng ta phí phạm cơ hội
hi hữu này để thực hành thì rất khó tìm lại được một
dịp may như thế. Do đó, chúng ta nên khao khát được tái
sinh trong cõi Tịnh độ và sử dụng năng lực của sự hoan
hỉ trong việc thực hành, thực hành lòng thiện tâm và tránh
mắc phạm những hành động vô đạo đức.
Khóa
Sáng 30-12
Chính
nhờ những công đức không thể nghĩ bàn và những điều
kiện tốt lành mà ta sở hữu một đời người quý báu với
tám tự do và mười sự phú bẩm. Do đó, ta nên sử dụng
đời người quý báu này để truy cầu sự giải thoát khỏi
sinh tử. Chúng ta nên cầu nguyện chư Phật và Bồ Tát và
tất cả những Đạo sư của dòng truyền thừa để được
tái sinh trong cõi Tịnh độ. Nhờ sự xuất hiện tương thuộc
tốt lành không thể nghĩ bàn, chúng ta đạt được mục tiêu
là sự trì tụng một trăm triệu lần Thần chú Sáu-Âm. Tuy
nhiên, chúng ta phải tiếp tục trì tụng thần chú một cách
nghiêm mật để bù lại những lúc ta phát âm sai thần chú.
Chúng ta càng tụng nhiều thì càng có nhiều công đức. Sau
đó ta có thể hồi hướng những công đức này cho bản thân
ta và những chúng sinh khác. Ta nên ước nguyện và hồi hướng
công đức của ta cho sự giải thoát của tất cả chúng sinh
để đền đáp thiện tâm của những cha mẹ trong quá khứ
của ta. Ta nên ước nguyện và hồi hướng công đức để
chúng sinh không bị tái sinh trong ba cõi thấp, thoát khỏi đau
khổ và có thể tái sinh trong cõi Tịnh độ. Sự thành công
của cuộc nhập thất này đã tạo nên những điều kiện
rất tốt lành cho việc tái sinh của ta trong cõi Tịnh độ.
Điều tối quan trọng là ta phải phát triển ước nguyện
chính đáng và thực hiện sự hồi hướng một cách đúng
đắn. Chỉ riêng trong cõi người, chúng sinh phải chịu đau
khổ thật ghê gớm. Trong sáu cõi sinh tử, tất cả chúng sinh
lang thang vô tận qua vô lượng thời gian của sự sinh ra và
chết đi cùng với những cảm xúc phiền não không lúc kết
thúc của họ. Do đó, điều hết sức quan trọng là ta phải
hồi hướng công đức cho sự Giác ngộ của tất cả chúng
sinh để họ thoát khỏi đau khổ.
Sau
đó Rinpoche khẩn cầu những người tham dự trở thành người
ăn chay, bởi chất thịt mà ta đang ăn là thịt của những
cha mẹ trong quá khứ của ta. Qua việc ăn thịt, chúng ta gián
tiếp tạo nên nghiệp tiêu cực của việc sát sinh, làm gẫy
bể một trong năm giới luật. Nếu ngay cả năm giới mà ta
cũng không tuân giữ được, thì làm thế nào ta có thể được
tái sinh trong cõi Tịnh độ? Nếu ở một mặt, chúng ta thực
hành pháp Chenrezig, trì tụng Thần chú Sáu-Âm và quay bánh
xe cầu nguyện, nhưng ở mặt khác, chúng ta ăn thịt của cha
mẹ ta, thì chúng ta đang đi nghịch lại giáo lý của Đức
Phật. Do đó chúng ta nên thay đổi lối sống của ta để
trở thành những người ăn chay. Nếu ta trở thành người
ăn chay và thực hành trì tụng Thần chú Sáu-Âm thì nhất
định là ta sẽ có thể được tái sinh trong cõi Tịnh độ.
Nếu muốn được hạnh phúc và giải thoát thì ta không nên
ăn thịt.
Sau
đó Rinpoche chia sẻ với ta sự nhận thức của ngài là Niết
bàn và sinh tử không khác biệt nhau trong bản tánh. Sinh tử
là một sự lầm lạc và như-mộng. Niết bàn cũng là một
sự lầm lạc và như-mộng ngoại trừ việc trong Niết bàn,
ta nhận ra sự lầm lạc có ích lợi gì. Sinh tử và Niết
bàn đều có chung một bản tánh, nó hoàn toàn tuỳ thuộc
vào việc ta có nhận ra nó là một sự lầm lạc hay không.
Ta không nên bị dính mắc vào sinh tử hay ngay cả Niết bàn.
Một khi có sự dính mắc thì sẽ có luân hối sinh tử. Khi
ta chứng ngộ cái thấy về tánh Không, thì ta sẽ nhận ra
rằng tất cả chúng sinh là Phật. Khi ta thực hành Thần chú
Sáu-Âm, ta không nên bị dính mắc mà cũng không ham mê công
đức phát sinh từ sự thực hành. Ta nên sử dụng trí tuệ
trong việc hồi hướng. Bởi sinh tử là một sự lầm lạc,
bất kỳ hiện tượng nào cũng có thể xuất hiện trong đó,
mọi sự ở trong đó hiện hữu trong một trạng thái hỗn
độn. Mọi hiện tượng không có sự hiện hữu nội tại
và không có ý nghĩa cùng lợi ích chân thực. Từ một viễn
cảnh giác ngộ, ta không phân biệt giữa sinh tử và Niết
bàn. Đó là bởi cả sinh tử lẫn Niết bàn đều là những
sự lầm lạc trong tâm; chúng là những phóng chiếu của tâm
thức ta. Mọi hiện tượng đều trống không trong bản tánh
bởi chúng là những sự lầm lạc của tâm ta. Mọi hiện tượng
bao gồm tất cả những điều tốt, xấu, cõi Tịnh độ và
v.v.. thì trống không trong bản tánh. Do đó, Đức Phật đã
mô tả mọi hiện tượng như một giấc mộng, như một ảo
tưởng. Một khi ta nhận ra Phật tánh cố hữu của ta thì
ta nhận ra rằng mọi hiện tượng thì trống không trong bản
tánh và đạt được Pháp Thân. Trong việc tu hành, ta nên thực
hành tốt đẹp, tự chế không làm những hành động vô đạo
đức và tẩy trừ sự tham luyến.
Cho
tới ngày nay, tu viện Drikung Thil đã từng thực hiện thực
hành trì tụng Thần chú Sáu-Âm trong vài trăm năm. Thực hành
này bắt nguồn từ thời đại của Đức Vua Tây Tạng Songtsen
Gampo. Dòng truyền thừa của thực hành này là một dòng hết
sức tốt lành đến nỗi nó đã hiện hữu hơn một ngàn năm.
Nhiều Đạo sư vĩ đại trong quá khứ đã truyền dạy và
duy trì thực hành quý báu này, chẳng hạn như Guru Rinpoche
(Đức Liên Hoa Sanh), đó là lý do tại sao Rinpoche nhấn
mạnh rất nhiều tới việc thực hành Thần chú Sáu-Âm. Mỗi
năm, tu viện Drikung Thil duy trì một cuộc nhập thất Thần
chú Sáu-Âm, do đó trải qua một thời gian bài đạo ca Thần
chú Sáu-Âm được hát liên tục trong 24 giờ một ngày. Tuy
nhiên, cuộc nhấp thất này bị ngưng lại trong một ít năm
bởi tu viện bị phá huỷ. Hiện nay tu viện đã được trùng
tu, Rinpoche nói rằng ngài rất sung sướng khi lại được nghe
bài đạo ca. Khi ta nghe một bài đạo ca Thần chú Sáu-Âm,
ta phải phát âm “HRIH” ở cuối thần chú. Tuy nhiên, khi
trì tụng thông thường thì không cần đọc âm “HRIH”, nó
là chủng tự của Đức Chenrezig.
Ta
nên hết sức sung sướng vì đã hoàn thành mục tiêu một
trăm triệu Thần chú Sáu-Âm. Ta nên hoan hỉ vì đã nhận những
sự ban phước để được tái sinh trong cõi Tịnh độ từ
dòng truyền thừa hết sức tốt lành này của thực hành Chenrezig.
Được đặt nền trên những sự ban phước từ dòng truyền
thừa này, chúng ta nên ước nguyện được tái sinh trong cõi
Tịnh độ và không hướng tâm về sinh tử luân hồi. Nếu
so với cõi sinh tử thì Tịnh độ là một nơi chốn kỳ diệu
vì thế chúng ta phải ước nguyện và hồi hướng công đức
cho chúng sinh được tái sinh ở đó.
Khóa
Chiều 30-12-2003
Bởi
ta đã có được một đời người quý báu và trở thành một
Phật tử nhờ nghiệp tích cực trong quá khứ, ta không nên
lãng phí cơ hội này để thực hành Pháp. Trong việc thực
hành, ta cần phải tịnh hóa thân, khẩu và ý của ta. Điều
này có nghĩa là ta không được để cho tâm ta bị ô nhiễm
bởi nghiệp tiêu cực. Ta phải ném bỏ những sự truy cầu
thế tục. Những cuộc truy cầu này chỉ là những lầm lạc,
những phóng chiếu của tâm thức ta. Ta cần phải cầu nguyện
ba kaya (thân) và trì tụng Thần chú Sáu-Âm. Thần chú Sáu-Âm
là Đức Chenrezig. Công đức được phát triển từ thực hành
này sẽ khiến cho ta nhận được những sự ban phước của
Đức Chenrezig trong khi ta còn sống và để Ngài đưa dẫn ta
tới giải thoát trong những trạng thái bardo.
Khóa
Tối 30-12-2003
Thần
chú Sáu-Âm bao gồm toàn bộ 84.000 giáo lý của Đức Phật.
Chúng ta đã tạo vô lượng công đức không thể nghĩ bàn
từ việc trì tụng một trăm triệu lần thần chú. Công đức
này sẽ ngăn ngừa ta không bị tái sinh trong ba cõi thấp, khiến
ta được tái sinh trong cõi Tịnh độ và giải thoát khỏi
sinh tử. Ta nên hồi hướng công đức này cho tất cả những
bà mẹ chúng sinh đã từng là cha mẹ của ta. Cầu mong cho
họ không bị tái sinh trong luân hồi sinh tử, cầu mong họ
được tái sinh trong cõi Tịnh độ và cuối cùng đạt được
Giác ngộ. Việc hồi hướng cho tất cả chúng sinh thì rất
quan trọng bởi là con người, chúng ta có thể trì tụng Thần
chú Sáu-Âm trong khi chúng sinh trong một vài cõi khác thì không
thể thực hiện điều đó. Vì thế, chúng ta phải hồi hướng
công đức của việc trì tụng cho tất cả chúng sinh.
Khóa
Sáng 31-12-2003
Rinpoche
nói rằng ta cần phải hiểu rõ ý nghĩa đằng sau việc quy
y. Tất cả những Đạo sư của dòng truyền thừa trong quá
khứ và hiện tại đều nói rằng sự quy y quyết định một
người có phải là một Phật tử hay không. Chỉ khi nào ta
đã quy y Tam Bảo ta mới có thể được coi là một Phật tử.
Có ba loại quy y: quy y của Tiểu thừa, quy y của Đại thừa
và quy y của Các Đấng Giác ngộ. Rinpoche đã ban cho những
người tham dự sự truyền khẩu đối với cả ba loại quy
y. Rinpoche cũng đã ban sự truyền khẩu của những thần chú
ba kaya (thân). * Mỗi kaya là một trạng thái chứng ngộ khác
nhau và nội dung của mỗi kaya thì cực kỳ sâu xa. Nó được
bản thân chúng ta chứng ngộ. Rinpoche nhấn mạnh về sự quan
trọng của việc ăn chay và nói rằng các Phật tử ăn chay
và thực hành Thần chú Sáu-Âm một cách đúng đắn nhất
định sẽ có thể tái sinh trong cõi Tịnh độ. Không còn nghi
ngờ gì về điều này. Đối với Phật tử là những người
không ăn chay, họ nên từ từ thay đổi lối sống hướng
về việc ăn chay. Họ nên sử dụng
Thần chú Sáu-Âm để tịnh hóa tâm họ và khẩn cầu những
sự ban phước của Đức Chenrezig để họ có thể trở thành
những người ăn chay. Đối với những Phật tử không thể
trở thành người ăn chay trong đời này, họ nên ước nguyện
là những người ăn chay trong đời sau.
Chúng ta cần phải tăng trưởng nghiệp tích cực và sự tiến
bộ qua những giai đoạn khác nhau của con đường đi tới
Giác ngộ. Rinpoche nhấn mạnh một lần nữa rằng Thần chú
Sáu-Âm hết sức quan trọng và chúng ta nên trì tụng nó một
cách nghiêm mật và tụng càng nhiều càng tốt./.
Nguyên
tác: “100 MILLION SIX-SYLLABLE MANTRA RECITATION RETREAT Teachings by
His Eminence Drubwang Konchok Norbu Rinpoche”
Konchog
Tenzin Drolma dịch sang Anh ngữ
Bản
dịch Việt ngữ của Liên Hoa
Xem
thêm những bài liên hệ:
Ý
Nghĩa Của Om Mani Padme Hum Lạt ma Zopa Rinpoche – Thanh Liên Việt
dịch
Pháp
Quán Tưởng Trì Tụng Lục Tự Đại Minh Chú, Lạt Ma Lama
Zopa Rinpoche-Hồng Như Việt dịch
Lục
Tự Đại Minh Chú, Đức Đạt Lai Lạt Ma, Hồng Như Việt dịch
Những
Lợi Ích của Việc Trì Tụng Thần Chú Om Mani Pade Hum, Lạt
ma Zopa Rinpoche - Việt dịch: Thanh Liên
Xem
thêm bài giảng của Đức Drubwang Konchok Norbu Rinpoche:
http://myhealinghands.com.sg/thedharma/teachingsbyhiseminencedrubwangkonchok.htm
Teachings by His
Eminence Drubwang Konchok Norbu Rinpoche about Meat-Eating
on
8 Dec 2003 at Than Hsiang Temple, Penang, Malaysia
during
100 Million Six-Syllable Mantra Recitation Retreat
1.
As Buddhists, we practiced so as to benefit oneself and others. Hence,
we do the six-syllable (Om Mani Pad Me Hung) mantra practice. However,
when
we eat meat - be it chicken, pork, fish or eggs in our daily lives, we
are creating immense negative karma.
2.
If
on the one hand, we chant the mantra and on the other hand, we eat the
meat of another sentient being, then our words and actions do not tally
with one another. We are not practicing as
we preached. Can this be considered as loving-kindness and compassion towards
sentient beings? Is this doing good and abstaining from evil? We take refuge
in the Buddha because His teachings could benefit all sentient beings.
As Buddhists, we should understand the essence of the Buddha's wisdom and
teachings, which is to do good and abstain from committing evil deeds.
Abstaining from evil means that we have to keep our precepts. Hence we
should not take meat.
3.
When we are sick, old or near death, we would go to a doctor - we would
practise and do anything possible and extend our life span. However, when
we take meat, we are killing sentient beings that are healthy. How great
is our compassion and loving-kindness if we treat sentient beings in such
a manner? We should abstain from killing because
it generates immense negative karma. Instead, we should develop loving-kindness
and compassion towards all sentient beings.
4.
In countless rebirths, all sentient beings
have been our parents. When we took rebirth
in the human realm, we had human parents; when
we took rebirth in the animal realm, we had animal parents and so forth.
Samsara is such. We need to generate a sense of gratitude towards our parents
in this lifetime and those of our past lives.
Hence, we should be vegetarians and abstain from taking meat. In such a
way, we would do good and give meaning to our practice. By doing so, our
practice of the six-syllable mantra would be able to benefit ourselves
and others, and also aid in the flourishing of the Dharma.
5.
There are some people who say that their doctor
has advised them against becoming vegetarians, as they would suffer from
malnutrition. (The truth is a balanced vegetarian diet is much better than
a non-vegetarian diet.) This is a sign that the determination of these
people is not strong enough. For if one has strong determination, one would
avoid doing evil deeds at all cost and under any circumstances.
6.
Hence in our daily lives, we should stop committing the negative deed of
eating meat. On this basis, the merits generated from our refuge and practice
of the six-syllable mantra would be inconceivable. We should try to change
our lifestyle towards vegetarianism. We would
certainly face difficulties in becoming full vegetarians. However, when
such obstacles arise, we should remember how every sentient being had at
one point or another been our parents. When
we remember this, then we would not take meat just as we would not eat
the meat of our parents of this lifetime.
-Translated
by Konchok Tenzin Drolma | Grammatically corrected and paragraphed by Shen
Shian, with notes in parentheses