I.
Thiền Tịnh dung thông
II.
Những ví dụ điển hình về Thiền Tịnh song tu
III.
Sơ lược về Thiền Tịnh song tu
Chương
Hai
THIỀN
TỊNH DUNG THÔNG, THIỀN TỊNH SONG TU
I.
THIỀN TỊNH DUNG THÔNG
Ở
thời kì mạt pháp, thường có nhiều đệ tử Phật, nhân
vì tu tập các pháp môn khác nhau mà sinh ra phê bình cao thấp,
tranh luận lẫn nhau; điển hình rõ nhất là các hành giả
tu Tịnh Độ và tu Thiền.
Một
số người tu thiền cho rằng, đại đa số những người niệm
Phật là tâm cầu hướng ngoại, như cầu Phật, cầu Bồ-tát,
chỉ biết niệm Phật mà không biết nhiếp phục ở trong tự
thân, không biết khai mở Phật tánh vốn có đầy đủ của
mình. Một số người niệm Phật thì cho rằng, người tu thiền
là tự cao, cuồng vọng, không biết pháp môn niệm Phật có
thể trùm khắp ba căn[25], thu gồm cả lợi căn và độn căn.
Những người có thành kiến như vậy là bởi vì họ chưa
từng vào sâu trong hai pháp môn Thiền và Tịnh Độ, cho nên
mới có sự hiểu lầm; từ đó mà đưa đến nội bộ gây
chiến lẫn nhau, hoặc phê bình lời qua tiếng lại, hoặc viết
sách báo bút chiến, vừa để cho người ngoài đàm tiếu,
vừa khiến cho những người mới học Phật sinh thối tâm,
quay sang đạo khác. Đó là làm đứt mất huệ mạng của người,
tội rất lớn vậy. Đại sư Hoằng Nhất[26] nói rất đúng:
“Không thua người xưa, gọi là người có chí; không nhường
người nay, gọi là người không có độ lượng.” Kẻ hậu
học này quan niệm rằng, khi chưa hiểu rõ pháp môn tu tập
của người khác thì không nên theo ý chủ quan của mình mà
phê bình người ta. Chúng ta phải hiểu rõ, hiểu sâu, và thực
tế tu trì trong một thời gian, chứng nhập chút ít vào cảnh
giới rồi, mới có thể với thành tâm thiện ý đem trình
bày kiến giải của mình cho người nghe.
Trong
thời cận đại có nhiều bậc cao tăng đại đức từng cổ
vũ cho thuyết “Thiền Tịnh song tu”, nói rằng, Thiền và
Tịnh Độ có thể dung thông nhau. Rồi có một số người
vừa nghe thế liền sinh tâm nghi hoặc, bảo rằng, niệm Phật
phải chấp trì thánh hiệu, miệng đọc tâm niệm; người
tu quán thì có hình tượng của Phật. Nhưng thiền môn thì
lấy cái không cửa làm cửa, tẩy trừ tất cả hình tướng,
chủ trương dứt tuyệt ngôn ngữ, diệt hết tâm hành. Như
thế thì làm sao mà dung thông nhau? Làm sao có thể song tu?
Thật
ra, mối nghi hoặc trên chỉ có trong tâm những người sơ cơ
mới bước vào cửa Phật. Nếu hành giả đã có năng lực
thâm nhập một môn, thì sẽ phát giác ra rằng, tất cả môn
đều thông nhau, rốt cuộc thì tất cả đều không sai khác.
Chúng ta có thể nói như thế này: “Tất cả các pháp môn
tu hành đều chảy về thiền định; tất cả kết quả tu
hành đều chảy về tịnh độ.” Phật pháp tuy có đến tám
vạn bốn ngàn pháp môn, nhưng mỗi một pháp môn nào, đến
chỗ tối hậu cũng qui về định; nhân nơi định mà y vào
bốn thánh đế, tám chánh đạo, mười hai nhân duyên, đệ
nhất nghĩa đế v.v... để phát huy, tự thấy Phật tánh, đoạn
trừ phiền não.
Người
niệm Phật ở thế giới này, tu pháp môn niệm Phật mà ngộ
nhập Phật tánh là như thế; đới nghiệp vãng sinh[27] về
thế giới Cực-lạc, sau khi hoa sen nở được thấy Phật nghe
pháp mà chứng nhập vô sinh nhẫn[28] (xin xem chú thích số
2 của tác giả ở cuối sách), cũng lại như thế. Cho nên
tất cả pháp môn tu hành đều phải qui về thiền định.
Do
đó, nói theo nghĩa rộng, tám vạn bốn ngàn pháp môn, bao hàm
cả các loại pháp môn tịnh độ, đều thuộc trong phạm vi
thiền định, mà việc tu trì tám vạn bốn ngàn pháp môn,
chỉ cần có tu có chứng, thì ít nhiều cũng chứng được
“duy tâm tịnh độ”. Nếu đạt đến địa vị Vô-học
(xin xem chú thích số 3 của tác giả ở cuối sách) thì an
trú niết bàn, là tịnh độ chân thật. Đến địa vị đó
rồi thì tùy ý được sinh về ba loại tịnh độ của chư
Phật là Phàm-thánh đồng-cư độ, Phương-tiện hữu-dư độ,
và Thật-báo trang- nghiêm độ. Nếu chứng nhập quả vị Phật
thì tự an trú nơi Thường-tịch-quang độ, là duy tâm tịnh
độ, là loại tịnh độ chân chính, cứu cánh, không giống
như ba loại tịnh độ trước, là những tịnh độ do chư
Phật hóa hiện để hóa độ. Cho nên, thiền định là phương
pháp, mà tịnh độ là kết quả. Đã hiểu rõ như thế rồi
thì chẳng cần phải tranh chấp lẫn nhau giữa Thiền và Tịnh
Độ.
Đệ
tử Phật tu học thiền định ở thế giới này, đó là con
đường khó đi, mà cũng là con đường chóng thành. Vãng sinh
thế giới Cực-lạc là con đường dễ đi, nếu người có
đầy đủ công phu niệm Phật vô tướng này, muốn vãng sinh
về tịnh độ Cực-lạc, chỉ trong một đời này có thể
toại nguyện; nếu đứng trên phương diện chứng đắc cảnh
giới giải thoát rốt ráo mà nói, người vãng sinh tịnh độ
Cực-lạc phải cần thời gian trội hơn mười, trăm, ngàn,
vạn lần đối với người tu hành ở thế giới này. Nhưng
vấn đề đó không thuộc phạm vi của cuốn sách này, nên
không đề cập tới.
II.
NHỮNG VÍ DỤ ĐIỂN HÌNH về THIỀN TỊNH SONG TU
Thiền
của đại thừa đạt được cảnh giới giải thoát rốt ráo
là do khởi tâm ở chỗ vô trụ. Vì khởi tâm ở chỗ vô trụ
cho nên sáu niệm đều đầy đủ. – Sáu niệm là: niệm Phật,
niệm pháp, niệm tăng, niệm thí, niệm giới, niệm thiên[29].
Trong sáu niệm này thì Niệm Phật là đứng đầu; và niệm
Phật thì thông với Tịnh Độ, mà năm niệm kia cũng thông
với Tịnh Độ. Thiền của đại thừa đạt được cảnh
giới giải thoát rốt ráo, tức là thấy rõ Phật tánh một
cách trọn vẹn, mới chứng nhập được tri kiến Phật; nhân
đó mà chứng được cảnh giới “duy tâm tịnh độ”. Vì
vậy cho nên Thiền và Tịnh Độ có thể thông nhau.
Trong
lịch sử Phật giáo có rất nhiều vị thiền sư từng cổ
xúy pháp môn niệm Phật. Thực sự ra, người tham thiền cũng
nên lạy Phật và niệm Phật, lấy đó làm phương tiện nhập
môn; và cũng không thiếu gì các tự viện của tông Tịnh
Độ từng đề xướng sinh hoạt tham cứu niệm Phật. Như
thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ[30] đề xướng tông chỉ “tông
- giáo - thiền - tịnh”. Lại như ngài Trường Lô Tông Trách[31]
đã do thiền mà ngộ nhập, liền chủ trương Thiền Tịnh
song tu, được người đời xưng là Từ Giác đại sư. Về
Thiền tông, ngài trước tác bộ Thiền Uyển Thanh Qui, gồm
10 quyển; về Tịnh Độ tông ngài cũng có nhiều tác phẩm,
như Tịnh Độ Giản Yếu Lục, trong đó ngài chủ trương “Niệm
Phật tham thiền, mỗi pháp đều cầu tông chỉ. Khe, núi tuy
khác; mây, trăng là đồng. Có thể nói, cây xanh khắp nơi
đều có thể buộc ngựa, mọi người khắp chốn đều có
thể thấy rõ thành Trường-an.”
Nổi
tiếng hơn hết là thiền sư Vân Thê Châu Hoằng[32] ở cuối
đời Minh, từng được những người tu niệm Phật tôn xưng
là Liên Trì đại sư. Trong bài “minh”[33] ở tháp của đại
sư Liên Trì có ghi: “Một bầu nước, một cây gậy, ngài
vân du các nơi, tham học chư vị tri thức. Lên núi Ngũ-đài
ở phía Bắc, được đức Văn Thù cảm ứng phóng hào quang.
Đến núi Phục-ngưu theo chúng trị ma. Vào kinh sư yết kiến
thiền sư Tiếu Lãnh Đức Bảo[34]. Thiền sư Tiếu Lãnh nói:
‘Quái! Ngươi từ ngoài ba ngàn dặm đến cầu ta khai thị.
Ta có gì khai thị?’ Ngài bèn từ tạ và đi về hướng Đông,
giữa đường nghe tiếng trống phát ra từ một căn nhà sàn
của người tiều phu, hốt nhiên đại ngộ! Ngài liền nói
bài tụng rằng:
Hai
mươi năm trước việc còn nghi
Ngàn
dặm gặp nhau thật lạ kì
Ném
kích đốt hương[35] toàn giấc mộng
Phật
ma không luận thị cùng phi
Cả
ý niệm về giáo pháp và giác ngộ đều triệt tiêu, qui về
tâm vô sở đắc. Ban đầu ngài khởi bước vân du, từ nơi
công phu tham cứu niệm Phật là có được năng lực; đến
đây bèn khai pháp môn Tịnh Độ, nhiếp hóa cả ba loại căn
tánh. Ngài trước tác bộ Di Đà Sớ Sao, gồm đến mười
vạn lời, để cực lực cổ xúy cho chủ trương của mình,
là dung hội sự lí, chỉ qui về tâm. Ngài lại nhớ ngày trước
có xem tác phẩm Cao Phong Ngữ Lục[36], thấy rằng, từ khi
tham cứu việc này cho đến nay, cái tinh nhuệ nhất, không
gì trội hơn sự đào luyện thuần thục của thiền sư Cao
Phong[37]; đó là hướng vào nội tâm mà cầu đạo. Ý của
ngài lúc đó là gom nhập Khuông-sơn và Vĩnh-minh[38] làm một,
lại sao lục những lời nói khẩn yếu trong lúc gặp cơ duyên
của chư vị cổ đức, biên thành sách Thiền Quan Sách Tấn,
đồng thời cho khắc lên đá, nêu những khẩu quyết cho người
tham cứu, nêu rõ chủ trương Thiền Tịnh song tu, không ra ngoài
một tâm.”
Từ
những ghi chép trên, có thể thấy đại sư Liên Trì, từ lúc
ban đầu do tham cứu niệm Phật mà có được năng lực, rồi
lại do tham thiền mà chứng nhập lí tánh; nhân đó mà đề
xướng chủ trương “Thiền Tịnh song tu”, soạn sách Di Đà
Sớ Sao gồm mười vạn lời, làm cho các hành giả Tịnh Độ
chan chứa niềm vui đạo vị; một tác phẩm trọng yếu khác
của ngài là Thiền Quan Sách Tấn, thì “Trong đời sống,
đi thì mang đãy, ở thì đặt án, một lần xem thì tâm chí
được khích lệ, thần thái tươi tỉnh, ở cái thế bắt
buộc phải tiến tới trước.” Suốt một đời, ngài y theo
sách Thiền Quan Sách Tấn ấy để tự thúc đẩy mình tiến
tới cảnh giới giải thoát rốt ráo. Tác phẩm trứ danh ấy
cũng còn được chư vị thiền giả đời sau rất mực tôn
sùng.
Ngài
Vân Thê Châu Hoằng đã đem kiến giải của một vị thiền
sư mà đề xướng pháp môn “Thiền Tịnh song tu”, không
những cổ xúy phương pháp trì danh niệm Phật – gọi là
“sự trì”, mà cũng còn đề xướng phương pháp tham cứu
niệm Phật – gọi là “lí trì”; như dạy người tham cứu
câu “Niệm Phật là ai?”, đó tức là Thiền Tịnh song tu.
Những vị được hành giả tu Tịnh Độ tôn làm tổ sư trọng
yếu của tông Tịnh Độ, như thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ
thuở trước, cũng như vậy, tức là do kinh nghiệm tu chứng
của một thiền sư mà thấy biết sâu xa cái đạo lí “tất
cả các pháp môn tu hành đều chảy về Thiền Định, tất
cả các kết quả của công phu tu hành đều chảy về Tịnh
Độ”; cho nên biết rằng, Thiền Tịnh có thể thông nhau.
III.
SƠ LƯỢC về THIỀN TỊNH SONG TU
Nói
chung người niệm Phật, phần đông những người chấp trì
danh hiệu Phật đều là niệm Phật trong tán loạn. Tuy gọi
là niệm Phật, nhưng có lẽ cái thời gian nổi vọng tưởng
chiếm phần nhiều. Người có chút ít tinh tấn, khi phát giác
thấy có vọng tưởng, liền vội vàng trở về với danh hiệu
Phật. Người thật sự có tinh tấn, khi niệm Phật, không
những trong tâm mặc niệm danh hiệu Phật, mà đồng thời
cũng nghĩ nhớ tới Phật. Cuối cùng là khi niệm Phật, danh
hiệu Phật không còn khởi hiện mà trong tâm vẫn niệm Phật,
đó là lúc tiến vào cảnh giới “vô tướng”; đó cũng
là điều mà người ta thường nói là “Niệm Phật, niệm
cho đến khi không còn Phật có thể niệm.” Đi đứng ngồi
nằm, luôn luôn ở trong cảnh giới vô tướng niệm Phật;
đó là bước đầu nhập môn vào pháp môn niệm Phật viên
thông của Bồ-tát Đại Thế Chí. Lúc bấy giờ tâm chuyên
nhất không tán loạn, tịnh niệm nối tiếp nhau, không có
hình tướng Phật, không có danh hiệu Phật. Vẫn niệm Phật
không bỏ, hưởng được niềm vui đạo pháp, cùng cực khinh
an. Người niệm Phật đạt đến trình độ này là đã cùng
thông với pháp môn thiền định, thì tự nhiên có thể khán
thoại đầu, tham công án; đó chẳng phải là Thiền Tịnh
dung thông ư?
Nếu
người niệm Phật, từ chỗ lạy Phật và xưng niệm danh hiệu
Phật mà tiến vào cảnh giới vô tướng niệm Phật, muốn
tu Lăng-nghiêm đại định[39], cần phải có sẵn những kiến
thức về tu định, đồng thời phải đọc kĩ kinh Lăng Nghiêm;
trong mọi hoạt động của đời sống hằng ngày đều niệm
Phật vô tướng, và mỗi ngày cũng nên chọn một thời giờ
cố định để tĩnh tọa niệm Phật vô tướng. Đợi đến
khi hai chướng sự và lí[40] đều tiêu trừ thì tự nhiên
dần dần vào sâu Lăng Nghiêm đại định, chứng đắc các
loại niệm Phật tam muội (xin xem chú thích số 4 của tác
giả ở cuối sách).
Có
những người niệm Phật hoặc trì chú khác, trong mọi sinh
hoạt hằng ngày, trong tâm chấp trì danh hiệu Phật hoặc một
thần chú cố định, niệm niệm không quên lãng, đồng thời
cũng chọn một thời gian cố định trong ngày để tĩnh tọa,
từ một đến hai giờ đồng hồ, trong lúc ngồi thì chắp
tay hoặc bắt ấn, chuyên tụng danh hiệu Phật hoặc câu chú;
lúc đầu thì miệng tụng tai nghe, tâm ý theo sát danh hiệu
Phật hoặc câu chú, không gấp gáp, không chậm rãi, chuyên
chú xưng niệm; tâm tán loạn dần dần tập trung, an định,
thư thái, tự tại, không bị cái gì níu kéo, cũng không vướng
mắc vào cái gì. Người có trí tuệ, lúc bấy giờ trong miệng
vẫn an tường tụng niệm không ngừng, mà trong tâm thì không
còn nhớ tới tiếng niệm Phật hay tụng chú, dần dần tiến
vào trong định (lúc vào không biết vào, đến lúc ra mới
biết là mình vừa vào định), mất hẳn cái ý niệm về thời
gian và không gian. Lúc bấy giờ tuy trong miệng vẫn niệm Phật
tụng chú, mà sự thật thì tâm đã vào định. Cũng có người
niệm Phật trì danh, vào lúc chỉ tịnh[41], tâm niệm và tâm
nghe tập trung làm một, danh hiệu Phật không khởi, an trụ
nơi một niệm tương tục là nhớ Phật, cuối cùng thì mất
hết dấu vết mà vào định. Cảnh giới này cũng là định
lực đầy đủ, mà chỉ có những người đã chuẩn bị đầy
đủ tri kiến về tu định mới có thể thực tập được.
Đạt đến trình độ này thì Tịnh Độ đã thông với Thiền
Định.
Những
điều vừa trình bày trên, vẫn chỉ là “sự nhất tâm”
và thứ lớp của định; “lí nhất tâm” thì tương ưng
với chân lí, cũng tức là chính mình thấy rõ Phật tánh (tự
tánh) mình vốn có đầy đủ. Điều mà người ta gọi là
“Di Đà tức là tự tánh, Tây-phương không rời gang tấc”,
cái cảnh giới “tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh-độ” tự
nhiên hiện bày trước mắt; đó chính là cái cảnh giới chứng
ngộ của Thiền. Nếu không thực tập pháp môn “Thiền Tịnh
song tu” thì không thể nào đạt đến được. Hành giả,
bất luận là tham thoại đầu, công án, hay cơ phong[42], hoặc
do ở sự tham cứu niệm Phật mà chứng nhập chân lí, thì
bản chất của tất cả các loại công phu ấy vẫn là thiền.
Tuy cách thức phát khởi thiền của các loại công phu ấy
không giống nhau, nhưng cái cảnh giới chứng nhập sau khi đã
lên địa vị Kiến-đạo, hoàn toàn không khác; mà cái quá
trình tham cứu để chứng nhập chân lí cũng không sai khác.
Bởi vậy mà chủ trương Thiền và Tịnh Độ bổ sung cho nhau,
trợ giúp cho nhau, không cần phải phân biệt cái kia với cái
này.
Sau
đây xin chép lại một đoạn nguyên văn trong quyển 3 của
bộ Di Đà Sớ Sao của thiền sư Vân Thê Châu Hoằng (tức
Liên Trì đại sư), hành giả có thể do đây mà có một cái
nhìn toàn diện:
“Thể
cứu nghĩa là nghe danh hiệu Phật, không những chỉ có nhớ
nghĩ, mà còn phải quán sát ngược lại chính mình, xem xét
kĩ càng, thấy rõ nguồn cội. Xem xét đến chỗ cùng cực
thì tự nhiên khế hợp với bản tâm mình. Nếu bảo danh hiệu
Phật là có, thì cái tâm ‘năng niệm’, bản thể vốn không,
cho nên Phật mà mình niệm, hoàn toàn không thể nắm bắt
được. Nếu bảo là không, thì cái tâm ‘năng niệm” sáng
suốt, không mơ hồ, cho nên Phật mà mình niệm, hiển lộ
rõ ràng. Nếu bảo là cũng có cũng không, thì cả có niệm
và không niệm đều chấm dứt. Nếu bảo là chẳng phải có
chẳng phải không, thì cả có niệm và không niệm đều tồn
tại. Chẳng phải có thì thường vắng lặng; chẳng phải
không thì thường chiếu soi; không phải cũng có cũng không,
không phải chẳng phải có chẳng phải không, thì không vắng
lặng không chiếu soi, mà vừa chiếu soi vừa vắng lặng. Dứt
đường ngôn thuyết, tuyệt đường tư duy; không làm sao khởi
được tên, hiện được tướng, cho nên chỉ có ‘nhất tâm’.
Do thấy được chân lí mà gọi là ‘lí nhất tâm’ vậy.
Tuệ có năng lực soi vọng; kèm thêm định thì soi vọng vốn
không, vọng tự điều phục. Lại nữa, chiếu soi có thể
phá trừ vọng, không phải chỉ điều phục mà thôi.”
Lại
một đoạn khác: “Hai chữ tham và nghi, không cần phải phân
giải. ‘Nghi’ là tên khác của tham, đều là cái ý xem xét
kĩ càng. Nhưng, khán câu ‘Niệm Phật là ai?’, thì lấy sự
chứng ngộ làm chuẩn tắc mới thôi. Lại nữa, cổ nhân nói
rằng: Khán thoại đầu, không nên đoán mò, bóp méo, cũng
không được ném vào trong cái vỏ vô sự[43]. Chỉ ‘nhìn
như vậy’. Đó là lời nói cốt yếu vậy.”
Những
lời dạy của đại sư Liên Trì về tham cứu niệm Phật và
thể cứu niệm Phật vừa được ghi lại ở trên, từ lúc
khởi đầu tham cứu câu “Niệm Phật là ai?”, cho đến khi
cảnh giới giác ngộ hiện ra trước mắt, thì ở cái khoảng
giữa Thiền và Tịnh Độ hiển bày, là vô cùng mật thiết.
Bất luận là từ niệm Phật mà ngộ nhập, hoặc do tham thiền
mà ngộ nhập, bản chất của chúng đều là Thiền. Bất luận
là ở nơi thế giới này niệm Phật mà ngộ nhập, hoặc sau
khi vãng sinh về thế giới Cực-lạc được nghe Phật và Bồ-tát
thuyết pháp mà ngộ nhập, thì bản chất của chúng vẫn không
gì khác hơn là Thiền. Và cái cảnh giới giác ngộ của hai
con đường đó cũng chỉ là một, không hai, không khác.