THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn  Index Tác-Giả

 
Sợi dây chuyền
Ôn
Tuệ Trí
.
SỢI DÂY CHUYỀN
 (Trích trong tập truyện ngắn Cơn giông, ngày về)
Ninh Hạ Nguyễn Đức Tâm
Thân tặng tuổi trẻ tị nạn Việt nam

1.

Trang về đến nhà chạy thẳng vào phòng riêng đóng chặt cửa nằm úp mặt xuống giường khóc nức nở. Trút theo giòng nước mắt tất cả uất ức thất vọng trước sự việc phũ phàng bất ngờ vừa xẩy ra mà Trang chẳng thể nào hiểu được.

Nghe tiếng đập cửa và giọng hốt hoảng của mẹ:

“Trang! Trang! con làm sao vậy?”

Trang gào lên:

“Mẹ để con yên. Mặc kệ con... mặc kệ con.”

Bà Viên ngạc nhiên đến sững sờ. Lần đầu tiên Trang dám lớn tiềng trả lời cộc lốc vô lễ như thế với mẹ. Bà lẩm bẩm:

“Thôi đúng rồi! Hèn gì người ta nói, ở đây tự do quá con cái riết trở thành mất dạy coi mẹ cha không ra gì cả.”

Cố nén giận bà đập cửa nói với vào:

“...Nhưng mày cũng phải nói cho tao biết chuyện gì đã xẩy ra chứ?”

Trang đã ngưng khóc nhưng còn tức tưởi:

“Con đã nói là mặc kệ con mà!”

“Ừ. Thôi mặc kệ mày. Chút nữa ba mày về tao kể cho ông... rồi đừng trách.”

Bà quay xuống bếp lo cơm chiều. Tuy dọa con nhưng bà sẽ chẳng bao giờ cho chồng biết. Tính ông nghiêm khắc nóng nẩy không chịu được thái độ của con, thế nào cũng ầm ĩ lên. Rồi thì cha con mặt lầm mày lì, chiến tranh lạnh hàng tuần. Không khí bữa cơm tối gia đình đông đủ trở nên nặng nề khó chịu.

May mà chiều nay chồng vắng nhà. Ông theo bạn đi họp mặt tiệc tùng. Bà cũng mong có những dịp như thế để ông có nơi mà cười đùa hàn huyên giải tỏa phiền muộn lo âu. Bà thấy hình như đàn ông, bên cạnh vợ con, bạn bè là một nhu cầu không thể thiếu cho một cuộc sống bình thường.

Bà và mấy con cũng có đi theo ông mấy lần, giờ thì bỏ cuộc ở nhà. Lúc đầu ông cằn nhằn, cuối cùng thấy vợ con cũng chẳng vui vẻ gì ở mấy chỗ đó, ông đành nhượng bộ đi một mình. Lý do rất đơn giản. Bà và mấy con nhất là đám con gái không chịu được mùi khói thuốc lá. Các ông ở nhà ngại vợ ngại con còn kiêng khem hạn chế, khi gặp nhau có một hai lon bia vào thì đua nhau hút liên tu bất tận nhả khói mịt mù ngột ngạt.

Bà cũng lấy làm lạ. Khi còn ở bên nhà thì không đến nỗi, qua đây nghe mùi thuốc lá thấy choáng váng nhức đầu buồn nôn. Mấy đứa con giải thích rằng ở đây trời lạnh mà nhà cửa lại kín mít bịt bùng. Khổ hơn hết là tóc tai áo quần đầy mùi thuốc. Trời lạnh cách mấy, khuya bao nhiêu, làm biếng mệt mỏi cách nào, khi tan tiệc về nhà cũng phải vội vàng gội đầu tắm rửa ngay. AÔo lạnh khăn quàng cả tuần sau còn nặằng mùi.

Một lần tan tiệc lên xe bus về nhà chen vào chỗ trống ngồi cạnh một bà hình như người Ðại Hàn. Thoáng thấy nét cười lịch sự gượng gạo cố che dấu một cái gì đó rất khó chịu. Hai cánh mũi người lạ phập phồng như đánh hơi, rồi khé né đứng dậy đi về phía cửa. Nghĩ là bà ta sắp xuống xe, nhưng qua mấy trạm vẫn đứng đấy để chịu người lên kẻ xuống xô đẩy. Giật mình, ngượng ngùng nhột nhạt, bà bỗng khám phá ra người lạ không chịu nổi mùi thuốc lá nồng nặc bốc ra từ áo quần tóc tai của mình. Kể từ hôm đó bà và các con không còn theo ông đến những nơi hội họp ăn uống đông người.

2.

Nồi nước trên bếp sôi rít lên làm bà giật mình quay về với nỗi bực dọc vì thái độ vô lễ khác thường của Trang, đứa con gái dễ thương biết điều nhất của bà.

Tới Mỹ chưa đầy một năm, sáu con của bà học hành chăm chỉ. Mấy đứa lớn chịu khó chịu khổ vừa học vừa làm thêm, tiền bạc kiếm được bao nhiêu tiện tặn đem về giúp mẹ trang trải tiền nhà tiền nợ, tiền giúp thân nhân nội ngoại ở bên nhà.

Thâm tâm bà vẫn canh cánh nỗi âu lo. Không biết cái hạnh phúc tưởng chừng đơn giản hiện nay sẽ còn được bao lâu.

Hôm trước đem chuyện con cái ra khoe với chị bạn mới quen qua đây khá lâu, chị bĩu môi:

“Ðể rồi coi chị ơi! Ðừng mừng vội. Mới qua gia đình nào cũng vậy. Con cái ngoan ngoãn. Vài ba năm sau quen nước quen cái, bạn bạn bè bè, quần quần áo áo mốt này mốt nọ, lo thân chúng nó chưa đủ. Ðừng hòng! Lo làm nuôi lấy thân. Dành dụm chút ít dưỡng thân già. Ở đó mà trông nhờ vào chúng nó. Còn khuya!”

Hỏi ra mới biết chị ta là người trong cảnh nên chua chát.

Mà quả thật ở đây việc dạy dỗ con cái khó khăn bội phần.

Trong building đang ở có mấy gia đình con vừa mới lớn lên đã bỏ nhà đi hoang chỉ vì mẹ cha la rầy. Mới nứt mắt đã trốn theo bồ theo bịch, theo băng đảng bụi đời. Có khi chỉ vì xốc nổi muốn chứng tỏ mình có thể tự lập không cần nhờ cậy ai. Ăn mặc thì lố lăng quái dị. Nói năng lấc cấc. Ði đứng nhún nha nhún nhẩy cố bắt chước cho giống Mỹ đen. 

Bà tự trấn an. Vô phúc vô phận con hư thì bên nhà cũng hư chẳng cầu qua tới đây. Nhưng bà cũng phải nhận rằng ở xã hội này, bên cạnh sự đề cao hưởng thụ và thỏa mãn vật chất, mầm mống sự hư đốn của con cái đôi khi còn được bảo vệ nhân danh tự do. Việc một đứa con trai mười ba tuổi đầu ở Florida ra tòa từ cha mẹ ruột, rồi cười rạng rỡ đắc thắng khi được kiện, là một việc quá sức ngao ngán và chỉ có thể xẩy ra ở Mỹ.

Bên cạnh sự miệt thị về chính trị, sự khó khăn bế tắc chạy ăn từng bữa, với bà đi Mỹ là để tránh cái chướng tai gai mắt hằng ngày đụng đầu với đám cán bộ cha cán bộ con và họ hàng dòng họ chúng nó. Nhà cao cửa lớn chúng chiếm ở. Hàng quán sang trọng chúng nó vào. Xe đẹp xe sang chúng nó đi. Công lao xương máu khó nhọc mấy đời thoáng chốc rơi về tay lũ đười ươi.

Tuổi tác như vợ chồng bà qua Mỹ thì cũng đã quá muộn màng. Cái được nếu có cũng không thể nào đền bù được cái mất mát to lớn khi phải bỏ nước ra đi. Như hầu hết bạn bè cùng cảnh, ra đi nghĩ cho cùng đều vì tương lai của bầy con trẻ.

Ở Việt nam đám con mất tương lai chỉ vì cái lý lịch ba đời của ông bà cha mẹ. Qua đến đây mới thấy lo. Không chừng học đòi theo cái xấu tệ nhất của tự do, cái tiêu cực nhất của đời sống gia đình Mỹ, chẳng được là Mỹ mà Việt cũng chẳng còn là Việt. Lai căng mất gốc, dở dở ương ương, nửa nạc nửa mỡ. Tương lai kỳ vọng không những tuột khỏi tầm tay của chúng, mà mẹ cha còn đau đớn mất luôn con.

Thái độ của con gái chiều nay thật ra cũng chẳng đến nỗi nào, nhưng bị ám ảnh như thế nên bà đã bi thảm hóa.

Nghe bước chân rón rén biết Trang xuống bếp bà làm ngơ tiếp tục xào nấu.

“Mẹ! Con xin lỗi.”

Thấy mẹ không quay mặt trả lời biết mẹ còn giận. Trang ấp úng:

“Con... con biết lỗi”

Bà Viên như được xoa dịu nhưng cố làm nư yên lặng.

“Mẹ ơi con bị giựt mất sợi dây chuyền rồi!”

Như vỡ lẽ lý do xui Trang có thái độ như thế, bà quay lại:

“Ði học mà mang nữ trang vàng bạc làm gì. Diện cho cố vào! Hôm kia thằng gì trên lầu ba sáng đi học qua khu chợ Việt nam bị hai thằng Mỹ đen dộng cho mấy đấm bầm tím cả mắt rồi giựt dây chuyền ở chỗ đông người.”

Nhìn mặt con bà thấy như còn đọng trong ánh mắt nét thảng thốt buồn bả lạ thường.

“Mất mười sợi dây chuyền mẹ cũng không tiếc không buồn bằng cái thái độ của con vừa rồi.”

Trang phụng phịu:

“Thôi mà mẹ! Con đã biết lỗi rồi.”

Bà Viên cười mãn nguyện:

“Ði tắm rửa, đợi mấy anh chị về đủ ăn cơm. Của đi thay người. Ðừng tiếc nữa!”  
Nói thế nhưng bà biết Trang sẽ buồn lắm. Ðó là kỷ vật ông ngoại đã trao cho đứa cháu mà ông thương yêu và vừa lòng nhứt như nhắc nhở như gửi gắm một ước mơ một hoài bão.
 
3.

Thời gian chồng tù cải tạo mịt mù tận ngoài Bắc, Trang được mẹ gửi về sống với ngoại ở vùng quê miệt vườn Cần thơ.

Ngoại là nguồn yêu thương tin cậy của Trang. Ngoại uyên thâm Phật pháp, tính tình sảng khoái tự tin, yêu đời yêu người. Ít khi thấy ngoại chê ai. Ai ngoại cũng thương yêu giúp đỡ. Họa hoằn có ai ngoại chê thì quả tình hết thuốc chữa.

Có lần Trang thắc mắc:

“Ngoại ơi, con thấy ai ngoại cũng quen cũng gần gũi được.”

Ngoại xoa đầu cháu rồi giải thích:

“Nhân vô thập toàn. Người nào cũng có cái tốt cái xấu. Nhằm vào cái tốt mà gần, biết cái xấu để răn mình. Có nhiều người thoạt đầu mới gặp thấy ghét không ưa, nhưng về sau mới thấy họ là người tốt, chơi được thân được. Ở lâu mới biết lòng người con ạ. Oán ghét hận thù có khi chỉ vì ngộ nhận.”

Ngày tiễn vợ chồng con gái và lũ cháu qua Mỹ là lần đầu tiên Trang thấy ngoại buồn. Cả nhà đã vào khu vực cách ly với kẻ đưa người tiễn. Như sực nhớ, ông vội vàng xô đẩy chen qua đám đông, cố nài nỉ tên công an cởi vội sơiỳ dây chuyền quàng vào cổ Trang. Ôm cháu một lần cuối như chừng chẳng bao giờ gặp lại. Ông không ngăn được những giọt nước mắt hiếm hoi lăn dài trên má. Trang cũng sụt sùi.

Xa quê hương với Trang đơn giản là xa ngoại. Sợi dây chuyền là vật bất ly thân, ông sắm khi lãnh tháng lương đầu tiên của đời quân ngũ.

Mất kỷ vật của ngoại Trang buồn lắm, nhưng đau đớn hơn là niềm tin yêu vui sống trên mảnh đất mới thoáng chốc đã sụp đổ tan tành. Khác với mẹ cha thường than thở tiếc nuối kỷ niệm quê nhà. Nhiều bạn bè của cha mẹ suy sụp thất vọng bởi thực tế khác xa với ảo tưởng mong ước. Trang vui sướng hòa nhập vào cuộc sống mới.
 
4.

Trang dấu mẹ trường hợp bị mất của.

Hôm nay trời đang độ thu. Nắng vương nhẹ trên hàng cây maple trở màu. Trời không trong mà như vẩn đục mù sương se lạnh. Trường học nửa ngày tan sớm. Trang và con bạn mới quen nhưng chóng thân rủ nhau tung tăng trên con đường ngập lá vàng. Mùa thu vàng rực rỡ. Cảnh đẹp như trong mấy tấm lịch Nhật màTrang đã thấy ở quê nhà.

Không sợ lạc đường, hai đứa men theo con đường nhỏ song song với đường chính có tuyến xe bus đưa về tận nhà. Qua khỏi mấy block Trang đi dần vào một vùng nhà trệt. Thảm cỏ xanh rờn được chăm bón. Hoa và hoa muôn màu sặc sỡ. Hình như từng gốc cây ngọn cỏ, mọi ngõ ngách đều có bàn tay người chăm sóc. Ðây mới thật là Mỹ như sự mường tượng của Trang. Thỉnh thoảng đôi người ăn mặc lịch sự tản bộ trên đường cười chào niềm nở.

Gặp hai người đàn ông đi ngược chiều, Trang lên tiếng chào hỏi với nụ cười hồn nhiên tự tin. Một trong hai người lạ đi qua nửa bước rồi kéo bạn quay phắt lại, nét mặt thoáng hung dữ lạ thường. Hoảng hốt lo sợ, linh tính báo cho Trang biết có chuyện chẳng lành. Cúi xuống nhìn thẳng vào sợi dây chuyền Trang đeo, nhanh như cắt người đàn ông túm lấy giựt mạnh, thô bạo đẩy Trang té xuống thảm cỏ, ném mạnh sợi dây chuyền vào bụi hoa. Con bạn đứng chết trân, Trang thì sợ đến kinh khiếp. Muốn kêu cứu nhưng khớp quá chẳng ra lời. Ðợi khi hai người Mỹ khuất sau góc đường, hai đứa mới hoàn hồn co giò chạy một mạch gần đứt hơi ra đến con đường chính đón xe bus về nhà.

Trang mất của không phải vì kẻ chiếm đoạt tham tiền túng quẫn mà bởi một sự hận thù nào đó Trang chưa giải thích được. Kể từ hôm đó mỗi khi ra khỏi nhà hễ thấy người Mỹ, dù đen dù trắng, nhìn mình Trang có cảm giác bất an. Trang mất đi cái hồn nhiên yêu đời phát sinh từ tấm lòng yêu thương tin cậy mọi người.

Lúc này Trang nhớ ngoại và cần có ngoại.

5.

Thời gian trôi thật nhanh.

Lúc còn ở quê nhà Trang thấy sao ai cũng có quá nhiều nhàn rỗi mà ngày tháng lại ù lì chậm chạp. Ở đây cuộc sống tất bật, ngày tháng cũng vùn vụt trôi qua thật nhanh. Thấm thoát mà đã qua tám mùa tuyết lạnh. Chuyện xẩy đến với Trang rồi cũng rơi dần vào quên lãng chỉ còn để lại một thoáng kỷ niệm buồn và một thắc mắc không lời giải.

Năm ngoái ngoại mất. Trang khóc đến mấy ngày. Buồn bã cả tháng khôn nguôi. Trang chưa qua một mất mát nào lớn hơn sâu đậm hơn là mất ngoại. Ðang khỏe mạnh, sáng khăn gói đi thăm người bệnh bên sông, chiều về kêu choáng váng vào giường nằm một lúc sau thì mất. Ngoại sống thoải mái, chết cũng nhẹ nhàng. Sống thương yêu giúp đỡ mọi người, chết cũng chẳng phiền hà con cháu lấy một ngày.

Ngoại ơi! Ngoại là Bồ tát, là Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật.

Trang nhớ rất rõ như mới hôm nào gần đây thôi.

Nhớ rõ ràng nét mặt hiền lành chòm râu dài phất phơ trong bộ áo bà ba nâu sồng bạc màu. Nhớ đôi bàn tay da mồi nhăn nheo vân vê quấn thuốc. Trang nhớ, nhớ rất rõ cả màu nắng đong đưa qua hàng cau một buổi xế chiều êm ả trên hàng hiên thềm nhà. Nhớ cả mùi hương hoa cau lẫn mùi hăng hắc của khói thuốc rê, mùi bùn non của ruộng vườn thoang thoảng. Tất cả như gần gũi như lẩn quất đâu đây. Thế mà ngoại đã mất, đã xa chẳng còn gặp lại. Kỷ vật ngoại cho cũng không còn.

Hôm sau ngày ngoại mất, Trang ra khu chợ Việt nam làm một sợi chuyền vàng và tượng y hệt, đeo vào cổ để tưởng nhớ ngoại.

Chiều hôm đó, Trang còn nhớ ngoại dặn dò đủ điều.

Ngoại nói nhiều như muốn tận dụng khoảng thời gian quý báu còn được ông cháu bên nhau:

“Qua bên gắng mà học cho có bằng có cấp. Ðất nước người ta phải có học có tài mới làm nên sự nghiệp. Không như mình đây mánh mung thời cơ, chó nhảy bàn độc. Vô học vô tài mà vẫn làm lãnh tụ, làm lớn làm giàu. Mai kia mốt nọ đất nước đổi thay không ưng ở thì về, về đây với ngoại. Cái bên đó là thừa là thường, thì bên mình là thiếu là quý. Ðừng đua đòi ham nhà ham xe ham có tiền cho sớm bỏ ngang thì phí đời, phí đi một dịp may ngàn năm một thuở. Trước kia dễ dầu gì mà được qua Mỹ học.”

Ngoại nhìn mông lung ra vườn. Tiếng ngoại buồn buồn xa vắng. Thoảng xa tiếng chèo khua nước, tiếng nói tiếng hò âm vang từ dòng sông vọng lại. Trang hưởng những giây phút thật yên bình bên ngoại.

“Ngoại đã từng tu nghiệp bên đó ngoại biết. Kỳ thị là điều luật pháp cấm kỵ, nhưng trong đời sống thì có mọi lúc mọi nơi. Bạn bè của ngoại thư về và rồi đây con sẽ thấy. Giờ không phải chỉ giữa Mỹ trắng Mỹ đen với mình, mà buồn là sự phân ly giữa những người cùng chung màu da huyết thống, tuy bỏ nước ra đi trong những điều kiện hoàn cảnh thời gian khác nhau nhưng cùng chung cảnh ngộ mất nước ly hương. Không phải toàn bộ nhưng điều đau lòng đó có thật. Sống qua chiến tranh và dưới nhiều chế độ chính trị gạt gẫm, muốn sống phải xoay xở luồn lách. Riết rồi người mình trở nên ích kỷ và nghi kỵ. Cố tìm cái khác nhau để khinh người và khen mình.”

Thấy Trang tư lự, ngoại đứng phắt dậy dắt tay cháu ra vườn cải hoa vàng. Ông cháu lúi húi hái mớ rau nấu canh cho bữa cơm chiều.

Ngoại cười ha hả tiếp tục nói như sợ rằng chẳng còn dịp nào để nói với cháu nữa:

“Xưa kia thì không nói làm gì, giờ đây người Phi người Ðại hàn di dân đến Mỹ là mang theo được cả của cải sang bên đó làm giàu. Tội nghiệp người mình, trừ một số ít, hầu hết bỏ của chạy lấy người. Ðào đâu ra vốn liếng mà buôn với bán?. Nói rằng mẹ con tụi bây đi Mỹ chỉ còn cái quần xà lỏn, tưởng là nói quá mà thật ra phải nói là cả cái quần xà lỏn cũng không còn!”

Trang cười:

“Ngoại ơi là ngoại! Ngoại nói gì mà thảm quá vậy. Mẹ con mua áo quần đủ xài cả năm.”

Trang khoe:

“Ba con mới may một bộ đồ lớn sang lắm. Nói là mặc để xuống máy bay bà con ra đón khỏi khinh.”

“Bày đặt cho tốn kém. Ðồ đó qua bên vất bỏ, chở gỗ về rừng. Tao nói đâu có trật. Mẹ mày kể. Ðể đủ tiền chạy lo dịch vụ giấy tờ xuất cảnh, mua sắm chi phíà phải muối mặt mượn nợ đến hai ngàn đô. Qua bên nai lưng cày mà trả. Cái quần xà lỏn cho đến cái rương nhôm đựng đồ của cha con bây cũng là của mượn nợ của thiên hạ. Có đúng không hả?”

Ngoại đắc chí vuốt râu cười. Trang cũng gập người cười theo:

“Chưa qua tới nơi, nghe ngoại hù con mất tinh thần chưa chừng xin ở lại.”

“Nói cho mầy biết, không phải nói cho mầy sợ. Yên tâm! Ngoại đã có bùa trị.”

“Ừ, ngoại trao cẩm nang để con xuống núi.”

“Ðây là bùa thiêng ngoại trao cho tiểu tặc tử”

Vừa nói vừa cười ngoại lấy ngón tay viết xuống đất. Trang chăm chú đọc lớn “Học!”

Thấy tiểu tặc tử ngu si chưa nghĩ ra, ông đứng dậy vung tay hét lớn:

“Học! Học! Học!”

Giọng ông sang sảng:

“Muốn ngửng mặt lên với thiên hạ, muốn xóa bỏ tị hiềm phân biệt giữa Mỹ và mình, giữa kẻ qua trước người tới sau, chỉ có một con đường là học. Học càng cao càng tốt. Học vấn là con đường tri thức đưa con đến tự tin và bình đẳng, đến tương lai sự nghiệp nơi quê người.”

Cầm lấy tay cháu thân mật:

“Trong đám con cháu, ngoại thấy ở con một tấm lòng vị tha biết thương yêu và giúp đở người. Ðây là điều rất quí và luôn đúng, vì nó sẽ làm cho đời mình có thêm giá trị và ý nghĩa, thêm cả niềm vui. Dặn cháu một điều sau cùng. Cháu của ngoại thông minh chịu khó, ngoại yên tâm. Có thua là thua cái tiếng Mỹ tiếng mẽo. Giỏi mấy thì giỏi mà tiếng Mỹ ú ớ là thua. Là thua đậm. Nhớ lời ngoại!”   

Dạ. Con nhớ lời ngoại. Con đã làm theo lời ngoại.

Hẹn sang năm tốt nghiệp sẽ về thăm ngoại. Đem cái ước mơ ôm ấp, cái hoài bảo thiết tha đã trở thành hiện thực về dâng ngoại thì nay ngoại đã khuất núi.

Ngoại ơi. Ngoại ơi!

6.

Trời đã vào xuân.

Hoa tulíp nở đầy công viên, sân nhà.

Xuân ở đây rất ngắn, chỉ đủ cho tulíp nở rồi tàn. Hôm nghe mẹ nói thế, Trang cười nhại theo câu thơ cũ. “Xuân đời chưa kịp hưởng. Nắng mùa hạ vội sang!”. Mẹ mắng yêu. “Con này độ rầy cũng đặt bày thơ với thẩn”. Xứ sở gì mà lạ lùng. Lạnh thì quá lạnh mà nóng thì cũng quá nóng. Quen rồi Trang thấy thà là mùa đông tuyết giá còn hơn cái hực lửa của ngày hè. Năm kia chỉ trong đợt nóng mấy ngày mà đã có hàng trăm người chết. Mùa đông có ngày nào lạnh đến nổi chết nhiều như thế đâu?

Hôm nay xong giờ học, đuổi theo Jenny và David, Trang chạy ùa ra bải cỏ xanh sân trường. Cả bọn nằm ngửa dang tay soải chân nhìn trời xanh trong vắt. Thích thật! Hơn nửa năm nay mới trút bỏ được cái áo lạnh dầợy cộm nặng trịch, rồi hai ba lớp áo trong, cái khăn quàng vướng víu. Trong chiếc T-shirt quần jean, Trang thấy người nhẹ hẳn, khoan khoái lạ thường.

Những năm gần đây Trang có nhiều bạn đủ mọi chủng tộc, đặc biệt chơi rất thân với chị em Jenny và David, những người Mỹ trắng rất dễ thương, cùng học cùng chơi, cùng hoạt động trong các club sinh viên và công tác thiện nguyện. Ðúng như lời ngoại, vượt qua rào cản ngôn ngữ và học vấn Trang tự tin, không còn tự ti lấn cấn trong tình bạn giữa những người khác màu da chủng tộc.

Ngoài bửu bối của ngoại, Trang còn nhận ra rằng học vấn chỉ là một phần của hành trang. Ðiều kiện ắt có mà không đủ. Phải tháo vát năng nổ xông xáo mới đủ bản lĩnh hòa nhập thành công trên quê người. Việc này không phải nằm nhà mà có được, phải dấn thân. Có điều, những nơi như thế còn thiếu vắng các bạn bè đồng hương, Trang ít khi gặp họ.

Trang nằm nghiêng người xoay về phía Jenny. Tay chống má, kéo sợi dây chuyền ngậm môi, tay mân mê chiếc tượng đeo.

Jenny và David không hẹn cùng ngồi nhổm dậy ngạc nhiên. Chỉ vào chiếc tượng, David hỏi dồn:

“Bạn... bạn đeo cái... cái này?”

“Có chuyện gì thế?”

Jenny bình tỉnh hơn em trai:

“Sao Trang lại đeo dấu hiệu này?”

“Ðây là mẫu kỷ vật của ông ngoại mình.”

“Ông của Trang tôn sùng Hitler?”

“Bậy! ở nước tao làm gì có Hitler. Bộ tụi mày điên sao hỏi tao những câu ngớ ngẩn. Ðây là dấu hiệu chữ Vạn của Phật. Tao tin Phật mà!”

“Sao giống hệt chữ thập ngoặc swastika của Ðức quốc xã?”

“Giống sao được. Ừ! Thoạt nhìn thì giống, nhìn kỹ sẽ thấy hai dấu hiệu ngược chiều nhau. Mààmà giống thế nào được! Hitler là tên sát nhân khủng khiếp của nhân loại. Ðức Phật là đấng từ bi, trân trọng sinh mạng mọi loài chúng sinh, không chỉ nhân loại, muôn thú mà đến cả côn trùng giun dế.”

Một ý nghĩ thoáng nhanh, Trang phát hiện được nguyên nhân bị thô bạo giựt mất sợi dây chuyền tám năm về trước. Thuật lại câu chuyện cho hai bạn nghe.

David chăm chú, Jenny trợn tròn mắt ngạc nhiên:

“Sao có chuyện trùng hợp lạ lùng. Tụi mình ở ngay khu vực đó”

Thì ra Trang đã đi vào khu ở của người Do thái, đúng tuần lễ họ đang đau đớn uất nghẹn tưởng niệm hàng triệu sinh mạng nạn nhân bi thảm đã bị Ðức quốc xã thiêu sống trong lò hơi Holocaust.

Nằm sấp mặt trên thảm cỏ để dấu niềm xúc động bất chợt.  Nắm chặc trong tay sợi dây chuyền. Trang run run thổn thức.  Vẳng nghe giọng nói trầm buồn của ngoại. “Oán ghét hận thù có khi chỉ vì ngộ nhận”.

ÔN
 Ninh Hạ Nguyễn Đức Tâm
1.

Giữa đêm khuya. Hàng ngàn tù cải tạo bị áp tải lùa nhốt nén chặt dưới đáy hầm tàu Sông Hương để đầy ải ra Bắc.

Sau cuộc hành trình dài của con tàu địa ngục, những tù nhân của chế độ lại bị tống lên những toa xe lửa ngạt thở cũ kĩ lắc lư. Chặng cuối đường lưu đày đoàn xe tải Molotova bịt bùng tiếp nối xuyên qua những bản làng Tây Bắc heo hút.
 
Cuối cùng. Trong đêm tối rừng âm u chập chờn ánh đuốc. Mấy ngàn người rã rượi lo âu, được phân phối giam giữ rải rác trong vùng thung lũng hẹp Mường Cơi Sơn la. Bốn bề núi rừng bao phủ. Sương mù và ám khí. Chỉ có vượn hú mà chẳng hề nghe tiếng chim gì kêu ngoài tiếng kêu não nuột của con chim “Bắt cô trói cột!”, mà những năm tháng sau này khi cơn đói đay nghiến hành hạ thì tiếng chim ai oán nghe rõ như tiếng người kêu vọng. “Cơm còn cho cục! Cơm còn cho cục!”
 
Sáng sáng khi sương mù u uất gía lạnh còn phủ xám núi đồi thung lủng hay chiều chiều khi tia nắng cuối ngày khuất sau dẫy núi xám xịt mù ám nghẹt thở siết quanh thung lũng trại, những hồi kẻng âm vang rợn người dội lại từ vách núi, rờn rợn như tiếng chuông gọi hồn dóng lên từ cõi âm ti. Âm thanh đó vang vọng.  Nhức nhối xuyên suốt ngõ ngách hồn xác những tù nhân khổ sai biệt xứ.

 2.  

 Một buổi sáng Chúa nhật.
 Mùa đông và gió mùa đông bắc.
 Ðói lạnh. Tê cóng.

Nhìn qua ô cửa sổ nhà giam, bên kia cách một hàng rào kẽm gai là một dãy nhà giam khác mới cất vội vã. Người bạn tù thân nhất của tôi biết nhau từ buổi sáng tinh mơ sắp hàng trình diện đi tù, qua bao đổi thay di chuyển từ Nam ra Bắc vẫn có bên nhau, vốn là sĩ quan báo chí, anh chỉ cho tôi mấy người già co ro đang yên lặng nhẫn nhục ngồi đan rổ rá bên hiên nhà. Mấy cha Tuyên úy Công giáo. Cha Huồn, cha Thuấn, cha Hùng...

Chỉ một người ốm yếu tiều tụy ngồi cạnh mấy cha, anh hỏi tôi:

“Cậu có biết ai đó không?”

“Không!”

Anh nhìn tôi ngạc nhiên.

“Tôi thật không biết. Chưa hề thấy. Ai đó?”

“Trời! Thượng tọa Thiên Lương, Nha Tuyên úy Phật giáo đó!”

Có lẽ anh ngạc nhiên vì nghĩ tôi là một Phật tử chắc phải biết rành mấy thầy, cũng như anh biết hết thẩy mấy cha.

Ðó là lần đầu tiên tôi thấy Thầy.

Thấy một cách dửng dưng thờ ơ lãnh đạm. Thái độ của tôi thật cũng dễ hiểu. Sau hơn một năm giam giữ chung với mấy đại đức, tôi đã không còn giữ được điều thứ ba của tam quy. Quy y Tăng.
 
Thời gian tù đầy là lúc cần đến sự hỗ trợ của đức tin tôn giáo. Ðối diện với khốn cùng và sự bất lực của bản thân trước những mất mát tang thương. Mất đất nước. Mất tự do. Mất cha mẹ vợ con và bạn bè thân thiết... con người chỉ còn biết vươn tới, cầu mong ở các đấng thiêng liêng cho một hy vọng mong manh. Vai trò của mấy thầy, mấy cha trong hoàn cảnh này thật cần thiết.
  
Như trong bài Kinh Hòa Bình của Thánh Phanxicô mà tôi đã học thuộc những năm dài ở trường Dòng:

Ðem yêu thương vào nơi oán thù,
 Ðem thứ tha vào nơi lăng nhục
 Ðem an hòa vào nơi tranh chấp...
 Ðem niềm vui tới chốn âu sầu...
 
Tiếc thay! Một số lớn mấy thầy mà một thời các Phật tử, kể cả những người lớn tuổi, rập đầu xưng “con” vì lòng kính trọng bậc xuất gia, không giữ được tư cách bình thường chứ đừng nói chi đến đạo hạnh. Có lần tôi đã gặp và yêu cầu quý vị ráng giữ gìn để chúng tôi khỏi xấu hổ lây. Nhiều anh em đến than phiền. Ðể giữ niềm tin cho họ và cũng để tự an ủi, tôi cố giải thích rằng. Ðấy không phải là các bậc xuất gia đi tìm chân lý giải thoát cứu đời. Họ chẳng qua chỉ là các thanh niên vào chùa cạo đầu để trốn quân dịch!

 Ngày tháng chậm chạp ù lì trôi qua với những khổ đau vô tận.

 Thân xác mỏi mòn.
 Tinh thần rời rã!

Không biết bao nhiêu lần chuyển trại âu lo căng thẳng. Rày đây mai đó. Bạn bè vừa kết thân, có thể chia sẻ với nhau những buồn vui, nương tựa nhau những lúc đau yếu suy sụp và nhất là có thể tin cậy được nhau vội vã chia tay.

Hy vọng mong manh một ngày về theo chính sách của cộng sản cũng rã tan.

Sau ba năm, toàn thể tù cải tạo được chuyển giao cho Cục Công an trại giam quản lý. Từ đây bắt đầu những ngày tù thật sự. Sáng mở cửa, điểm danh ra buồng. Tối đếm đầu, khóa cửa. Cả trăm người triền miên thiếu ăn thiếu tắm, chen chúc trong dãy buồng giam chật ních ngạt thở. Chẳng còn mấy ai chờ đợi một ngày về. Nhiều anh em bạn bè đã bỏ cuộc tù. Sinh Nam tử Bắc!

 3.

Một ngày Tết ở trại Phù Yên Sơn la. Tôi gặp Thầy.

Dãy nhà dài gọi là láng nơi thầy ở nằm song song với láng của tôi. Chỉ cách nhau một sân rộng.  Ngăn chia bởi một hàng rào kẽm gai có cửa thông. Nhân ngày Tết, các láng được qua lại thăm nhau.

Sáng Mồng một Tết. Trời thật đẹp. Nắng trong mà lạnh. Tôi thầm nghĩ.  Nếu đất nước thanh bình gia đình đoàn tụ, ăn tết trong cái khí hậu này thì tuyệt vời. Sau bữa ăn sáng vui vẻ với anh em bạn thân, tôi quyết định sang thăm thầy.

Như một tập tục bao đời của gia đình.  Sáng Mồng một Tết sau lễ gia tiên, cả nhà đi chùa lễ Phật.  Lấy lộc đầu xuân. Mạ tôi thì đi cho đủ mười chùa. Lúc còn ở Huế, sau giao thừa mạ tôi rước thầy về nhà khai kinh đầu năm. Trong giấc ngủ mơ màng, mùi trầm hương, tiếng mõ tiếng chuông. Tiếng kinh tụng trầm bổng rất hay của thầy là những kỷ niệm êm đềm khó quên.

Thế nên những khi xa nhà xa quê, ngày Tết là ngày nhớ ray rứt. Nhớ lặng người. Hoài niệm những ngày tháng cũ.
 
Ở tù không chùa, thôi thì sang thăm thầy vậy!

Bước vào nơi thầy ở. Nhìn quanh. Vắng lặng. Lát đát mấy anh trùm chăn, chắc đang đau khổ khóc thầm vì nhớ vợ nhớ con. Mấy anh khác kéo nhau ra sân tụm năm tụm ba đấu láo.

Gặp một trung tá tôi quen ngồi gần cửa, tôi hỏi nhỏ vừa đủ hai người nghe

“Thưa trung tá, thượng tọa Thiên Lương nằm ở đâu?”

Trong tù bọn cán bộ cấm ngặt gọi nhau bằng cấp bậc cũ. Thế nhưng chúng tôi vẫn gọi riêng với nhau, xưng hô đúng cấp bậc để chứng tỏ rằng trong hoàn cảnh mất nước tù đày chúng tôi vẫn tôn trọng các bậc đàn anh quân ngũ.

Tuy nhiên, một thực tế đau lòng là càng cao cấp bậc thì số người làm ăng ten báo cáo mật cho cán bộ Việt cộng càng nhiều. Mặt khác, tư cách và sự đối xử giữa họ với nhau càng tệ. Tệ hơn lớp trẻ nhiều. 

Chỉ tay về phía cuối láng, ông nói

“Ông ấy đang ngồi kia kìa!”

Nán lại giây lát, tôi nói máy móc

“Cám ơn trung tá. Nhân dịp năm mới chúc trung tá sức khoẻ để xum họp gia đình.”

Tôi hạ giọng đùa

“Happy New... York !”

Ông cười gượng:

“Cám ơn anh. Tôi chúc anh cũng như vậy. Nhưng với sức khoẻ như vầy, chắc tôi chết trong tù. Vợ con bên Mỹ cả rồi, ngày xum họp làm gì có được mà mong !”

Mắt ông rưng rưng muốn khóc. Tôi lẩn tránh. Chào vội đi về phía thầy.
 
Trước mặt tôi một ông già ốm yếu mệt mỏi gầy gò trong bộ đồ tù màu lam cổ nồi. Chiếc khăn mặt trắng vắt một bên vai. Ngồi một chân trên giường, một chân thòng xuống đất, tay xoa tới xoa lui chiếc đầu trọc mới cắt không đều. Một hình ảnh thật thân quen gần gũi như tôi đã từng thấy những lần lên thăm chùa Trà Am, Bảo Quốc... ở Huế.

Tôi cất tiếng

“Dạ thưa Ôn!”

Thầy ngước mắt nhìn lên. Ðôi mắt sáng hiền lành đôn hậu. Ung dung đứng dậy, đưa hai tay nắm lấy tay tôi, nhỏ nhẹ

“Chào anh!”

“Thưa Ôn. Nhân dịp đầu năm con qua thăm Ôn. Cầu chư Phật gia hộ cho Ôn được sức khoẻ, thân tâm thường an lạc.”
 
Nét mặt vẫn ung dung tự tại, nhưng trong đôi mắt, tôi thấy Ôn đang cười vui. Ấn nhẹ vai tôi ngồi xuống giường với Ôn. Với tay lấy mấy chiếc kẹo tiêu chuẩn tết trại phát và gô nước mời tôi.

“Anh người Huế?”

“Dạ. Thưa Ôn con sinh ở Huế, nhưng ở trong Nam lâu hơn.”

Tôi chợt nhớ ra.

Tuy giọng nói của tôi không còn trọ trẹ Huế chính gốc mà đã pha Nam, nhưng khi xưng hô thì tự nhiên gọi thầy bằng Ôn như hầu hết người Huế xưng hô với các vị tăng già.

Chỉ sau ngày đấu tranh Phật giáo 1963, rồi sau đó lập ra nào là Viện Tăng Thống, Viện Hóa Ðạo mới gọi là Hòa Thượng, Ðại Ðức. Vừa xa lạ vừa kiểu cách. Lắm khi lại dùng danh xưng Ngài. Vừa phong kiến vừa xa thế gian.

Trước đây chúng tôi gọi là Ôn Tường Vân, Ôn Linh Mụ, chẳng khi nào dám gọi đích danh là Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết, Hòa Thượng Thích Ðôn Hậu.

Tiếng Ôn, nghe thân thiết gần gũi mà đâu có mất đi niềm tôn kính. Một lần tôi gọi “Thầy Ðôn Hậu”. Mạ tôi rầy. “Ðừng hỗn con. Gọi là Ôn Linh Mụ”. Tôi nhớ rõ, lúc còn làm cố vấn giáo lý cho các gia đình Phật tử, chúng tôi gọi là “chú Minh Châu, chú Thiên Ân...”. Mãi sau nầy mới đổi ra gọi là thầy, rồi thượng tọa khi các vị du học ở Ấn độ Nhật bản về làm Viện trưởng làm giáo sư đại học.
 
 Từ sự xưng hô này, thầy nhận ra tôi là người Huế.

 Thầy hỏi tôi:

 “Anh có nhận được tin nhà không? Vợ con thế nào?”

 Ý Ôn muốn hỏi thăm vợ con có đi lọt không.

 “Dạ cám ơn Ôn. Con có nhận được thư gia đình ở Saigòn tuần rồi”.

  Nhìn Ôn, tôi ái ngại:

 “Trông Ôn ốm yếu quá! Con lo Ôn không chịu đựng được.”

 Thầy cười, nụ cười Bồ Tát, nhìn tôi:

“Tôi thì chỉ lo cho các anh không quen lao động cực khổ. Ăn uống lại quá thiếu thốn. Thương các anh chưa hề trải qua cái đói, cái lạnh. Riêng thầy xuất gia từ thuở nhỏ, dưa muối tương chao qua ngày, ruộng rẫy cũng đã làm. Thành thử thầy quen và chịu đựng được.”
 
Ðôi mắt, giọng nói và nét mặt của thầy, trong phút chốc đã truyền qua cho tôi một sự an bình lạ thường. Không nói lời nào, Thầy đặt tay trên vai tôi xiết nhẹ...

Kẻng báo giờ cơm. Ðám đông ồn ào từ ngoài sân ùa vào. Lặng người xúc động, tôi đứng dậy run run cầm tay Thầy từ giã. Ðôi tay gầy xương.

 4.

Chúng tôi cùng mấy thầy mấy cha chuyển trại từ Sơn La về Vĩnh Phú sau đợt Trung cộng tràn qua biên giới phía Bắc. Tuy vẫn cùng ở chung một trại nhưng kỷ luật gắt gao, ăng ten chỉ điểm theo sát nên chẳng còn có dịp nào được gặp lại thầy.

Một thời gian sau, người bạn kể cho biết thầy ngất xỉu ngoài hiện trường lao động phải đưa về bệnh xá cấp cứu. Ai cũng nghĩ thầy sẽ không qua khỏi. Trong lúc anh em buồn rầu lo lắng thì thầy hồi phục trở về tiếp tục lao động bình thường. Thầy chỉ bị kiệt sức. Ai hỏi thăm, thầy cười hiền lành:

“Nhờ chư Phật gia hộ!  Tôi còn sống và sống lâu nữa!”

Thời gian ngắn sau đó thầy lại kiệt sức. Lại hồi phục. Có ai thăm hỏi, thầy lại cười hiền lành. “Nhờ chư Phật gia hộ!  Tôi vẫn còn sống và sống lâu nữa.”
 
Về sau anh em trong đội mới phát giác ra được nguyên nhân căn bệnh kiệt sức của thầy. Tổ lao động của thầy có mấy đại đức trước đây là đệ tử của thầy. Thường khi lao động về, mấy đại đức chia phiên lấy phần ăn cho thầy. Ðói cách mấy thầy cũng khoan thai ra giếng múc nước rửa mặt xong mới vào tọa thiền và thọ trai.
 
Thời gian nầy, thức ăn cho tù vốn đã quá ít nay còn hạ xuống, vì khó khăn lương thực mất mùa. Phần ăn của thầy đã bị mấy vị trai trẻ lén lút xén gần hết. Thầy biết, nhưng tâm từ bi, chẳng than thở.  Có chừng nào thì độ chừng đó. Cứ thế sức kiệt dần. Từ khi biết được nguyên nhân, anh em chia người canh giữ phần ăn cho thầy. Thầy cười!
  
5.

Thầy gượng khỏe cho đến ngày được tha.

Mười mấy năm tù ngục đọa đày.  Bao người trẻ tuổi khoẻ mạnh đã chôn xác tức tưởi góc núi, ven rừng. Ốm yếu như thầy vẫn thọ với đời. Thầy về được cho tạm trú trên căn gác thấp hẹp, trước cổng một ngôi chùa nhỏ nằm sâu trong hẻm cụt Saigon. Ngày vía, ngày lễ Phật, anh em tù cũ kéo đến thăm. Thầy liên lạc với ni cô đầu bếp, với mấy bà làm công quả để có mâm cơm chay tươm tất cho mọi người. Người tin Phật. Người tin Chúa. Người... Căn gác vui, rộn rã.  Và ấm tình người.

Tuổi quá tám mươi.   Trên căn gác hẹp trước cổng ngôi cổ tự nghèo.  Một sớm mùa xuân,  Ôn viên tịch.
        
“Tâm hương đảnh lễ”

TUỆ TRÍ
 Ninh Hạ Nguyễn Đức Tâm
1.

Trên bàn thờ Phật hương tàn đã lâu. Hai cây nến đỏ cháy cũng gần hết. Anh sáng lung linh mờ ảo trên mặt tượng Phật. Ẩn hiện nét cười hiền, siêu thoát. Ðiện Phật tĩnh lặng. Lẩn quất thanh thoát hương trầm, hương huệ trắng.

Trời đã khuya.

Sư Tuệ Trí tọa thiền bất động chừng đã lâu lắm. Hai hàng nước mắt lăn dài trên má. Những giọt nước mắt tưởng đã khô cạn từ lâu lắm. Trước ngày xuất gia, những nhục nhằn cay đắng, buồn đau khổ lụy của đời, chưa hề làm cho sư ứa lệ.

Lần sau cùng sư khóc là ngày được tin mẹ mất. Và nay chỉ những khi nhớ đến me, với tất cả dạt dào thương cảm lẫn với niềm ray rứt ân hận, không được cận kề ngày mẹ bệnh, mẹ mất để săn sóc báo hiếu. Chỉ những khi nhớ đến những ngày mẹ con gần gũi bên nhau. Chỉ những lúc quỳ gối trước bàn thơ,ợ quán niệm danh hiệu Phật để cầu cho mẹ. Chỉ những lúc đó, Tuệ Trí mới rơm rớm khóc.

Thế mà những ngày gần đây, một người phụ nữ khác đã làm Tuệ Trí ứa nước mắt dễ dàng mỗi khi hình dung đến. Những giọt nước mắt cưu mang nỗi đau đang cuồn cuộn trong lòng Tuệ Trí. Lồng ngực nặng nề như muốn vỡ tung. Tâm thần động loạn rã rời. Bao nhiêu công phu thiền tập giờ đã vô dụng. Những câu thiền chú và quán niệm trở thành nhạt nhẽo vô nghĩa. Tuệ Trí không theo dõi được hơi thở để tâm mình vắng lặng, trong sáng như trước đây .

Cầm tà áo tràng nâu sồng lên lau khô nước mắt. Tuệ Trí sửa lại thế ngồi, thẳng lưng tập trung nhẩm tụng thiền chú. Thời gian lặng qua. Dù nhất tâm quán chỉ, Tuệ Trí vẫn bị vọng tưởng lôi kéo suy nghĩ miên man và khẽ gọi tên người thiếu phụ. Sư bỗng lại thấy mình ứa nước mắt. Tràn trề đau khổ. Gục đầu thổn thức.  Nước mắt rơi ướt đẫm trang kinh. Tuệ Trí thờ thẩn đứng dậy. Vội vàng đảnh Phật. Nhìn dáo dát sợ có người bắt gặp.

Chánh điện vẫn tĩnh lặng. Cây nến trên bàn thờ tắt ngấm từ lâu. Tượng Phật đã lẩn vào bóng tối dấu đi nét bao dung trên khuôn mặt đấng Từ bi.

Cúi đầu đi thẳng vào hậu liêu.  Cởi vội chiếc áo tràng. Tuệ Trí lên giường nằm, lâm râm niệm Phật, cố đi vào giấc ngủ. Nhưng nét mặt thiếu phụ nhất là ánh mắt nhìn, nụ cười, một cái gì đó mông lung bàng bạc cứ lãng vãng trong tâm trí. Sư không thể nào chợp mắt.

Chuông chùa thong thả đổ báo thời công phu sáng. Tuệ Trí mệt mỏi gượng ngồi dậy lẩm nhẩm. “Lại một đêm mất ngủ!”
 

Tám năm trời thanh thảng trôi qua. Từ ngày Tuệ Trí được sư cụ Tuệ Giác nhận làm đệ tử, vào chùa xuất gia tu học.

Trình độ tri thức, phong cách chững chạc, những kinh nghiệm thực tế đau thương phi lý của cuộc đời và nhất là ý nguyện tu học đã giúp Tuệ Trí tiến nhanh trên đường tầm đạo. Tuệ Trí đã tìm được sự tĩnh lặng an trú, quên đi những phiền trượt của cuộc đờiợ sóng gió trước đây. Một đôi khi nếu có nhớ lại thì cũng thoáng qua mà không để lại bất cứ muộn phiền oán trách nào. Sư đã hiểu được cái nghiệp mình phải trả cho những điều dây dưa từ thuở kiếp nào.

Tuệ Trí mãn nguyện đã tìm đi đúng đường. Ðúng lúc để được thỏa mãn những thao thức bẩm sinh về tâm linh, tri thức. Giờ đây Tuệ Trí lại có đủ điệu kiện lăn xả vào hạnh nguyện bố thí. Quên mình. Giúp người. Giúp đời.

Sự việc hôm nay đến với Tuệ Trí căn nguyên từ một hạnh ngộ tình cờ.

Cách đây mấy năm, một ngày cuối hạ. Tuệ Trí xuống làng để cùng dân chúng thu dọn một khu nhà đổ sập sau cơn bão rớt trái mùa. Dân làng thân quen gần gũi với sư, không những bởi tấm lòng từ bi xả thân vì mọi người, mà còn bởi tư chất thông minh hiểu rộng, lại rất hồn nhiên vui đùa dí dỏm. Ðiều này ít có ở giới tăng ni, thường đạo mạo, thích được cung kính hay được khúm núm vái chào. Tuệ Trí được người già tin cậy, người trẻ thân tình và trẻ con quấn quít.

Hôm đó, vừa lui cui dọn dẹp, Tuệ Trí lại vừa pha trò làm cho lũ thanh niên cười ngặt nghẽo. Ai nấy hăng hái làm quên mệt. Ðang lúc ngước đầu chùi vội mồ hồi giỏ giọt trên trán, Tuệ Trí chợt thấy một thiếu phụ trung niên phúc hậu, đang vỗ về an ủi một gia đình buồn rầu vì cơ nghiệp bị thiên tai cuốn sạch.

Thoáng nhìn khuôn mặt nàng, Tuệ Trí bỗng thấy xao động sững sờ. Tưởng như gặp một người thân yêu đã từ lâu xa vắng. Sư cũng thoáng thấy trong đôi mắt người lạ một thoáng xao xuyến kỳ lạ nào đó mà sư chỉ cảm nhận. Không giải thích được. Tất cả chừng như thoáng nhanh trong một sát na.

Từ đó đến chiều Tuệ Trí ở trong một tình trạng mâu thuẫn. Khổ tâm. Một mặt muốn lẩn tránh điều mà sư linh cảm như một nghiệp chướng bất ngờ đưa đẩy đến. Mặt khác lại bị thôi thúc bởi một động lực vô hình mạnh mẽ. Muốn nhìn lại khuôn mặt, mới lần đầu gặp gỡ mà dường như đã thương yêu gần gũi lâu đời. Có lẻ thiếu phụ cũng ở trong cùng tâm trạng. Những lúc vô tình gặp nhau trong sân làng, cả hai lúng túng. Nhìn vội nhau. Ngoảnh mặt đi cố tránh.

Chiều đến, lúc chia tay mọi người, Tuệ Trí gặp nàngỳ đầu hiên nhà. Nhìn nhau. Cả hai chẳng nói với nhau lời nào. Dù chỉ là lời từ biệt thường tình. Nhưng. Ánh mắt ! Như xuyên suốt tận cõi lòng âm u.

Ðêm đó. Tuệ Trí đã thêm vào khóa kinh nhật tụng, lời sám hối những vọng tưởng si mê.

Chống đỡ lẩn tránh. Hôm sau lấy cớ mệt, Tuệ Trí nhờ một sư đệ xuống làng thay mình. Quá trưa, sau giờ thọ trai của tăng chúng, Tuệ Trí bồn chồn thấp thỏm đứng ngồi không yên như có điều gì thôi thúc. Xế chiều, lòng nóng như lửa, Buông xuôi. Viện cớ phải xem xét công việc bỏ dở hôm qua, Tuệ Trí lấy nón vội vàng xuống núi.

Thật ra chùa chỉ nằm trên ngọn đồi không cao lắm nhưng tách biệt với xóm làng. Sáng chiều, tiếng chuông chùa quen thuộc êm ả ngân vang lan tỏa tận cuối thôn. Tuệ Trí qua cửa tam quan ngôi cổ tự, lần theo mấy chục bậc cấp. Theo con đường sỏi đất đo, đến làng.

Thấy sư, mọi người chào hỏi tíu tít thân tình. Công việc dọn dẹp cũng đã tạm xong. Tuệ Trí cố nhìn quanh tìm khuôn mặt người thiếu phụ hiền hậu. Tìm hoài chẳng thấy. Buồn bã. Thiếu vắng. Sư chậm bước, về chùa. Vừa đi vừa quán chỉ hành thiền. Cố xua đuổi phiền nảo chợt đến mà sao nặng nề.

Kể từ hôm đó. Thỉnh thoảng trong giấc mơ, Tuệ Trí bất chợt thấy rõ khuôn mặt của người phụ nữ, dù chưa hề quen mà đã làm sư vấn vương khó giải thích. Tình cảm thương yêu và nhớ nhung vừa gây men hạnh phúc cho con tim ứa tràn sức sống, lại vừa làm cho sư mang một nỗi buồn cháy ruột. Sư chú tâm vào công phu tu tập. Dành thì giờ lăng xả vào công việc từ thiện. Công việc bận rộn đầu tắt mặt tối cũng giúp cho Tuệ Trí khuây khỏa. Tưởng chừng như đã quên được bóng dáng thương yêu.
 
 
Mấy tháng nay chùa lập thêm một trạm xá cho dân chúng quanh làng.

Tuệ Trí được sư phụ Tuệ Giác giao phó trông coi. Sư bàng hoàng. Vui mừng mà cũng thấy lo vu vơ, khi biết được trong những người làm công quả có Nhân Ai. Người thiếu phụ sư đã tìm cách quên đi. Chỉ sau một thời gian ngắn, Tuệ Trí nhận ra tên và người tưởng như là một. Như thực và ảnh trước tấm gương soi. Nhân hậu và đơn giản. Nhân hậu với mọi người và đơn giản khiêm tốn trong cung cách sống. Ðiều này chỉ có thể có với những người có một đời sống nội tâm phong phú, đã hiểu được giới hạn của những phù du và lẽ vô thường.

Nhìn Nhân Ai săn sóc người bệnh, an ủi người già cả ốm yếu tật nguyền hay vỗ về vui đùa với trẻ nhỏ, Tuệ Trí xúc động thật sự và có một niềm thương phục. Một nguồn cảm thông chỉ có giữa những người đồng điệu, biết quên mình vì đồng loại, Những người nếu chưa vươn tới được cái tâm của Bồ Tát thì cũng đã vượt qua cái nhỏ nhen ích kỷ thường tình. Những người mà quanh họ dường như như tỏa trùm một không khí đầy tình thương, tạo được giữa người và người sự tin cậy, thân tình vui vẻ.
 
Cái duyên hạnh ngộ đã đưa Tuệ Trí đến cái nghiệp yêu thương.

Càng ngày Tuệ Trí càng thấy không thể cưởng chống lại một tình cảm sâu đậm nhớ thương cuồn cuộn dấy lên trong lòng mình. Một trạng thái tình cảm chưa hề kinh nghiệm dù đã trải qua đời sống chồng vợ trước khi vào chùa. Tuệ Trí bắt đâu cảm nhận những kỳ diệu của tình yêu và những xót xa của một nỗi buồn quay quắt lúc xa vắng. Sư cầu nguyện, trì tụng kinh chú và thiền định để tâm vắng lặng, trong sáng, thảnh thơi. Tất cả dường như bất lực.

 2.

Sư cụ trụ trì Tuệ Giác gần đây nhận thấy có một sự bất an nào đó thể hiện qua thái độ bồn chồn và nét mặt đau khổ cố che đây của trưởng tử. Người mà sư cụ rất thương yêu tin cậy và có ý định truyền y bát trước khi viên tịch để kế tục cai quản chùa. Thay mình hướng dẫn tăng chúng tu học.

Chiều nay, gặp Tuệ Trí trên hiên chùa, sư cụ nhỏ nhẹ. “Con theo ta.” Nói xong, lặng lẽ chống cây thiền trúc chậm rãi đi trước về phía sân chùa. Nơi có những cây thông lâu niên, hàng dương liễu vi vu trong gió chiều. Tuệ Trí thấp thỏm cúi đầu. Nặng nề bước theo chân thầy.

Qua khỏi sân chùa, hai thầy trò đến khu bảo tháp nơi cất giữ nhục thân các vị trụ trì quá vãng. Khu tháp sạch sẽ và thoáng mát. Ngồi xuống trên tảng đá dưới gốc thông già, sư cụ chỉ tay cho đệ tử ngồi cạnh.

Tuệ Trí linh cảm điều nghiêm trọng. Nhìn nét mặt, thấy thầy mình bình thản tự tại nên cũng vơi nỗi lo.

“Tuệ Trí con. Ta thấy con có điều gì bất an nên âu sầu ủ rũ?”

Cúi mặt xuống đất để tránh ánh mắt sư phụ. Biết không thể che dấu. Và thật lòng chẳng có điều gì muốn dấu sư phụ. Tuệ Trí ngập ngừng.

“Dạ...Dạ thưa thầy có.”

“Con nói cho ta nghe. May ra, ta có cách gì giúp được con hay không?”

Ngẫng đầu, rụt rè nhìn sư phụ. Thấy người đang nhìn với ánh mắt đầy thương yêu, Tuệ Trí hết ngại ngùng. Kể lại cho sư phụ từ đầu mối tình vọng tưởng. Nỗi đau chất chứa và tâm thần động loạn bất trị hiện nay.
 
Sư Tuệ Giác lắng nghe. Tiếng gió chiều và tiếng thông reo đã lấn tiếng thở dài nhẹ, buồn, của vị tăng già luống tuổi. Tuệ Trí hồi hộp chờ đợi.

“Mô Phật. Ta hiểu và không trách mắng gì con.”

“Cám ơn thầy. Con biết mình phạm tội và phụ lòng thầy nhưng con không thể nào kiểm soát con được nữa. Con...Con thật cố hiểu mà không thể hiểu được!”

Tuệ Trí thổn thức.

Ðặt tay bóp nhẹ vai đệ tử, như chuyền thêm nội lực và tình thương. Thông cảm. Sư Tuệ Giác trầm giọng

“Ta hiểu được!”

Tuệ Trí ngạc nhiên nhìn thầy.

“Ta nghĩ. Ngay lần đầu gặp gở con đã bị động tâm. Chẳng qua vì Nhân Ai có nét mặt rất giống con. Thầy cũng đã tự hỏi phải chăng hai đứa này là anh em hay sao mà có những nét giống nhau ?”

Tuệ Trí thoáng giật mình, xúc động. Việc này tưởng chỉ mình biết. Ðâu ngờ sư phụ cũng đã theo dõi và cố tìm cho ra một lời giải thích.

Thấy đệ tử nhìn mình với đôi mắt mở lớn, Sư Tuệ Giác mĩm cười:

“Này con! Chúng sinh dù nam hay nữ, may mắn được sinh ra với dung nhan đẹp đẽ tuấn tú hay không may có bộ mặt chẳng dễ coi, có khi tật nguyềnànhưng chẳng ai ghét được mặt mình. Ngày ngày nhìn ảnh mình trong gương soi, tất cả nét hình của mình dội vào tiềm thức ghi dấu và tích lũy âm thầm ở đó. Cho nên giữa đám đông người xa lạ lại có cảm tình quyến luyến đặc biệt với một người nào đó, cho dù người này không đẹp không duyên dáng bằng những người khác. Chẳng qua dưới tác động của tiềm thức, ta có khuynh hướng tìm về những nét thân quen. Con chỉ thấy Nhân Ái một lần rồi đem lòng thương yêu. Tưởng nhớ quay quắt. Bởi vì.. Bởi vì con đã gặp lại...chính mình!”

Tuệ Trí im nghe sư phụ giải thích. Lắc đầu nhè nhe. Nghi ngờ

“Thưa thầy! Ðiều nay cũng có lý phần nào. Con thấy nhiều cặp vợ chồng quả có khuôn mặt hao hao giống nhau. Nhưng...Nhưng...”

Thấy đệ tử còn có vẻ nghi ngờ, sư cụ nói thêm

“Cũng có thể trong một kiếp nào đo, con và Nhân Ai đã là anh em gần gũi thân thiết. Những kinh nghiệm và hành động trong quá khứ đã hằn sâu trên hành trình của tâm thức. Ðến kiếp này khi điều kiện cho phép, như sự gặp gỡ tình cờ của chúng con, thì một động lực chuyển vào tâm trí thúc dục con có tình cảm yêu thương và ước mong gần gũi.”

Tuệ Trí trầm ngâm. Ngước nhìn thầy. Giọng man mác buồn

“Thưa thầy. Nếu như con thương hình bóng con, đó là tình cảm giữa hai anh em và cùng lắm là hai anh em sinh đôi, đâu đến nổi si tình không chống đỡ được!”
 
Sư cụ Tuệ Giác cười nhẹ khó hiểu. Chống gậy. Run run đứng lên. Tuệ Trí bật dậy đỡ thầy.

“Cứ để mặc ta. Ta còn khỏe lắm, chỉ muốn đi một vòng cho dãn gân cốt.”

“Hay con đưa thầy về chùa nghỉ?”

“Không. Không. Thầy vẫn muốn vẫn thích nói chuyện với con. Con cứ nói hết ra đi. Chỉ khi nào nhận ra được nguyên nhân của khổ lụy thì mới đoạn trừ khổ lụy.”

“Bạch sư phụ. Thầy cũng đã dạy cho con biết tâm thức vốn vô thủy vô chung. Không bắt đầu mà cũng không chấm dứt. Không được tạo ra hay hủy diệt mà chuyển hóa không ngừng. Thân xác con và Nhân Ái chỉ mang tâm thức được tái sinh của một ai đó trong tiền kiếp. Và nếu như vậy chúng con không thể là anh em hay bạn hữu vì kinh nghiệm của tâm thức về tình cảm anh em không thể giống như tình yêu trai gái. Mà thưa thầy...trường hợp của con...”

Tuệ Trí ngập ngừng rồi ấp úng thú nhận:

“Trường hợp của con...là một khao khác yêu đương. Mong nhớ nóng cháy tâm can.”

Sư cụ Tuệ Giác quay người nhìn thẳng mặt đệ tư. Cười lớn:

“Vậy thì kiếp trước hay một kiếp xa xôi nào đó các con đã là vợ chồng!”

Tuệ Trí vẫn đăm chiêu. Nét mặt nhuốm khổ đau.  Bị khơi lại một dĩ vãng, tưởng chừng đã quên lãng.

“Có thể là vậy. Nhưng trong đời sống vợ chồng thế gian có bao nhiêu đôi lứa thương yêu nhau thật sự tận cuối đời để khao khát được gặp lại trong đời sau?”

Sư Tuệ Giác lại cười lớn thú nhận.

“Ðiều này thì thầy không kinh nghiệm. Ta đi tu từ thuở lên sáu.”  

Tuệ Trí xuống giọng. Tâm sự với thầy mà như nói cho riêng mình.

“Nhiều gia đình trông vào, đôi vợ chồng vẫn chung sống với nhau. Ðằm thắm hạnh phúc con cháu. Nhưng thật ra. Hoặc vợ hoặc chồng. Có khi cả hai. Ðều mang một nỗi cô đơn trống vắng. Thiếu hẳn thương yêu thông cảm, sẻ chia của người bạn đường. Vì luân lý đạo đức. Vì những ràng buộc hệ lụy kết chằn. Họ đã nhẫn nhục. Kéo dài cuộc sống không hạnh phúc vì trách nhiệm, vì quyết định lựa chọn của mình.”

Sư cụ hỏi chận:

“Ý con nói những cặp vợ chồng đó sống với nhau vì nghĩa.  Vì bổn phận. Không phải vì tình. Phải không? Nhưng theo ta. Ðó là cái cao quý nhất. Bởi vì nghĩa gắn liền với hy sinh. Chỉ cho, mà không nhận. Và cũng có thể do cái nghĩa vợ chồng ràng buộc đó từ kiếp nào mà giờ đây các con tìm đến nhau ?.”
 
Tuệ Trí không trả lời. Biết thầy mình khó mà hiểu được rằng. Yêu mà chỉ nhận về cho mình không mà thôi, đó không phải là yêu mà chỉ sự hưởng thụ ích kỷ. Ngược lại yêu mà chỉ cho, chỉ hy sinh thì đó là một hình thức nô lệ được bào chữa và ca tụng nhân danh đạo lý. Tình yêu thực sự là một tặng phẩm rất tuyệt vời mà chúng sinh có được. Vừa nhận lại vừa cho.  Tự nhiên không tính toán. Ðôi lứa cùng chia sẻ hạnh phúc. Không ai phải chịu đựng ai mà rất cần có nhau. Có được tình yêu, kinh nghiệm được sự kỳ diệu của nó. Lại được sống với tình yêu. Can đảm giữ được tình yêu. Trên đời này bao nhiêu người?

Thấy Tuệ Trí không trả lời mà lặng thinh khó hiểu. Sư cụ kiên nhẫn chờ.

Mặt trời đã gần khuất sau những ngọn tháp, chỉ còn thoi thóp những tia nắng xiêng khoai. Cũng sắp đến giờ cơm chiều mà câu chuyện giữa hai thầy trò vẫn còn dang dở.

Tiếng chuông chiều thong thả vang dội. Phá tan cái tĩnh lặng của chiều hè và đưa Tuệ Trí ra khỏi dòng suy tư.

“Thưa thầy. Nếu vì nghĩa thì có gặp nhau cũng chỉ là cái nợ phải lo lắng. Ðó thuộc về cái lý của cái đầu. Chứ đâu có cái nhớ thương ray rức của cái tình, thuộc về con tim.”

Tuệ Trí dìu sư phụ trở lại chùa. Vừa đi vừa nói, lòng vẫn nặng nề trầm uẩn

“Thưa thầy. Cơ duyên đưa đẩy để gặp lại người từ tiền kiếp đã là muôn một hiếm hoi. Vợ chồng thương yêu gắn bó như người bạn đường, vẫn mong hạnh ngộ trong kiếp sau, lại là một hiếm hoi khác. Hai cái hiếm hoi cùng xẩy ra thì không thể nào có được.”
 
“Như vậy thì theo ta thì chắc chắn ở một kiếp nào đó con và Nhân Ai là hai kẻ đang yêu nhau ý hiệp tâm đầu. Do một ngang trái nào đo, có thể là tai nạn hay chiến tranh mà phải chia ly tức tưởi để lại trong nhau một niềm đau mất mát tận cùng. Kinh nghiệm đó đã ghi trên dòng tâm thức chuyển di. Qua bao đời bao kiếp các con đã đi tìm nhau trong vô minh. Vì...Vì chính các con cũng không biết. Trong mỗi các con hình như mang một nỗi cô đơn khắc khoải trống vắng. Một khát khao mơ hồ nào đó. Cơ duyên hiếm hoi diệu kỳ, Các con đã gặp nhau và bỗng phát hiện cái thiếu vắng mình đang kiếm tìm. Thế nên, mới thấy mà đã yêu nhau và tưởng chừng đã gần gũi quen nhau biết nhau, ràng buộc nhau từ lâuàlâu lắm.”
 
Tuệ Trí chợt sững người trước cách lý giải của thầy. Thoáng mừng như có chỗ để bám víu:

“Nếu như vậy con và Nhân Ai đâu có tội lỗi gì. Vì đây...Vì đây chỉ là cái nghiệp của chúng con.”

Thấy Tuệ Trí hăng hái biện hộ, Sư cụ Tuệ Giác cười ra tiếng

“Không! Nghiệp chỉ là động lực thúc đẩy. Nhưng hành động hay không là trách nhiệm do mình lựa chọn.  Do trình độ tĩnh thức.”

Tuệ Trí xuống giọng:

“Thưa thầy. Tình cảm mà mức độ cao nhất là tình yêu miên man như sông như suối, chảy mãi không ngừng, tuôn tràn như thác đổ. Có thể nào,Thưa thầy! Có thể nào dùng sự tĩnh thức để ngăn thác nước ngừng chảy nửa chừng cao?”

Chưa kịp trả lời cho Tuệ Trí, hai thầy trò đã về đến hiên chùa. Câu chuyện bỏ dở. Ðến giờ cơm chiều. Chúng tăng đã tề tựu đông đủ và đang chờ sư phụ ở trai phòng.

Sáng tinh mơ hôm sau. Ngoài trời vẫn còn tối đen. Bên trong chánh diện, đèn nến sáng rực.

Ðến giờ khoá kinh sáng thường lệ. Mọi người nghiêm trang trầm mặc vân tập quỳ gối tại điện Phật. Sư cụ Tuệ Giác vẫn chưa thấy bóng dáng Tuệ Trí đâu. Thường ngày Tuệ Trí đến sớm hơn hết để lên đèn thắp hương, điều khiền tăng chúng. Bao năm nay chưa hề sai trễ. Nghĩ rằng đệ tử mệt nhọc ngủ quên. Vẫy gọi chú tiểu. Sư cụ sai chạy vào hậu liêu đánh thức. Một lúc sau chú tiểu hốt hoảng chạy ra nói nhỏ điều gì với sư cụ. Người vội vả đi về phía sau chánh điện.

Ðến trước cửa phòng của Tuệ Trí, sư cụ thoáng ngần ngại rồi đẩy mạnh cánh cửa gỗ vào phòng. Tiếng rít khô khan.

Phòng vắng lạnh. Chiếc áo tràng nâu sồng Tuệ Trí thường mặc, treo trên cột nhà. Trên chiếc bàn nhỏ, chuổi tràng hạt, vật bất ly thân, được để ngay ngắn trên cuộn sách kinh đã gấp lại. Gối mền vẫn còn thẳng nếp trên khung giường nhỏ cuối phòng.
 
Tuệ Trí đã bỏ chùa ra đi. Dễ chừng từ đầu hôm. Lúc trăng vừa mọc.

01-18-2008 11:45:34

 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap