9.-
CÔNG VIỆC CỦA TÔI TRÊN TRÁI ÐẤT NÀY LÀ GÌ?
Công
việc của tôitrên trái đất này là gì? Ðó có lẽ là một
câu hỏi ta nên tự hỏi đi hỏi lại nhiều lần. Bằng không,
có thể chúng ta đang làm một công việc của người khác
mà không hề hay biết. Và có lẽ người khác chỉ là một
sự tưởng tượng của ta hoặc cũng đang bị giam cầm như
ta.
Là
một loài vật biết suy nghĩ, được gói ghém trong một đơn
vị sinh vật mà ta gọi là cơ thể, và cùng một lúc được
sáp nhập vào sự biến đổi không ngừng của sự sống, chúng
ta có một khả năng duy nhất là chịu trách nhiệm về chính
sự sống của mình. Nhưng chúng ta cũng có một khả năng khác
có thể để cho sự suy nghĩ làm che lấp hành trình của mình
trong cuộc sống ấy. Chúng ta sẽ không bao giờ nhận được
tính chất cá biệt của cuộc sống mình - nếu ta vẫn cứ
sống trong bóng tối của tập quán suy nghĩ và bị chi phối
bởi những điều kiện chung quanh.
Buckminster
Fuller, người đã phát minh ra mái nhà hình vòm cầu bằng toán
học, vào năm ba mươi hai tuổi, một đêm bên bờ hồ Michigan,
ông đã nghĩ đến việc tự tử. Chuyện kể rằng, sau những
thất bại liên tiếp khiến ông nghĩ rằng mình đã làm hư
hao cuộc đời mình quá nhiều, cách hay nhất là giả từ hết
tất cả, để vợ và đứa con gái còn nằm nôi khỏi phải
chịu khổ đau thêm nữa. Trong những năm qua, bất cứ một
công việc nào ông nhận lãnh hoặc dính líu tới đều bị
đổ bể và tan thành cát bụi, mặc dù ông có một sức tưởng
tượng và sáng tạo rất mạnh. Tài năng đó của ông chỉ
được công nhận sau này. Nhưng cuối cùng, thay vì tự chấm
dứt đời mình, ông Fuller quyết định rằng từ đêm đó
ông sẽ tiếp tục sống, nhưng coi như là mình đã chết rồi.
Xem
như là đã chết rồi, ông không còn phải lo lắng về chuyện
thành bại của mình nữa. Từ đó ông có thể đem hết tâm
lực ra để sống như một đại biểu của vũ trụ. Cuộc
đời còn lại, ông xem như là một món quà. Thay vì sống cho
chính mình, ông lúc nào cũng tự hỏi: "Quả đất này đang
cần điều gì mà chỉ có tôi mới có thể thực hiện được?
Và chúng sẽ không bao giờ xảy ra, nếu tôi không nhận lãnh
trách nhiệm ấy?" Suốt cuộc đời còn lại, lúc nào ông cũng
tự hỏi câu ấy và tiếp nhận những gì đến với ông. Khi
ta có thể sống theo lối đó, phục vụ nhân quần như là
một công nhân của vũ trụ, ta có thể tu sửa và đóng góp
cho mọi người bằng chính con người của ta, sự sống của
ta. Nhưng nó không còn có tính cách cá nhân nữa, mà chỉ là
một phần của toàn thể vũ trụ rộng lớn đang tự biểu
lộ chính nó.
Chúng
ta thường ít khi nào tự hỏi và suy ngẫm một cách nghiêm
chỉnh về những gì con tim mình thật sự muốn. Tôi muốn
đặt nó trong hình thức của một câu hỏi: "Công việc của
tôi trên trái đất này là gì?" hoăc là : "Tôi yêu thích công
viêc nào tôi sẵn sàng trả tiền để làm?" Nếu tôi không
tìm được một câu trả lời nào khác hơn là: "Tôi không
biết", thì tôi sẽ tiếp tục tự hỏi. Nếu bạn bắt đầu
suy ngẫm về câu hỏi đó vào năm hai mươi tuổi, thì khi bạn
được bốn mươi, năm mươi hoặc sáu mươi, có lẽ sự suy
tư ấy đã dẫn dắt bạn đến những nơi mà bạn không bao
giờ bước chân tới, nếu bạn sống một cuộc đời bình
thường, hoặc chỉ biết theo kỳ vọng của cha mẹ mình.
Bạn
có thể đặt câu hỏi đó vào bất cứ lúc nào và ở b1ất
cứ một lứa tuổi nào. Dù ở vào một thời điểm nào trong
cuộc đời, câu hỏi ấy sẽ có một ảnh hưởng rất sâu
xa đến những quan điểm của bạn về sự việc cũng như
sự lựa chọn của bạn. Việc ấy không có nghĩa là những
gì bạn làm sẽ thay đổi, nhưng rất có thể bạn sẽ thay
đổi cách nhìn của mình, sự nắm bắt của mình, và có lẽ
đường lối làm của mình. Một khi ông chủ của bạn là
vũ trụ này thì sẽ có nhiều việc lý thú xảy ra, cho dù
bạn có bị ai đó cúp lương đi chăng nữa. Nhưng bạn phải
biết thật kiên nhẫn. Lối sống mới này đòi hỏi một thời
gian để phát triển. Nhưng lẽ dĩ nhiên, trước hết ta phải
bắt đầu đi cái đã. Khi nào và ở đâu? Bây giờ và ở
đây bao giờ cũng là thời gian và không gian tốt nhất.
Chúng
ta không bao giờ có thể đoán được sự quán xét này sẽ
dẫn ta tới đâu. Ông fuller hay nói rằng, những gì có vẻ
dường như đang xảy ra trong giờ phút này, thường thường
không bao giờ là toàn thể câu chuyện. Ông lấy thí dụ về
một con ong chẳng hạn, đối với nó việc đi lấy mật là
chuyện quan trọng nhất. Nhưng cùng một lúc, con ong cũng là
một phương tiện mà thiên nhiên xử dụng để chuyên chở
phấn hoa đến những nhụy bông. Mọi sự vật trên vũ trụ
này đều có liên hệ mật thiết với nhau, đó là một nguyên
lý thiên nhiên cơ bản. Không có một sự vật nào trên đời
này là đơn độc hết. Mọi việc luôn luôn biểu lộ trên
nhiều lãnh vực khác nhau. Chúng ta phải cố gắng hết sức
mình để nhận diện được sự thăng trầm và phức tạp
ấy của cuộc sống, và tập đi theo những con đường nào
là chân thật và vững vàng.
Ông
Fuller tin vào một nền tảng cấu trúc của thiên nhiên, nơi
đó mọi hình thái và chức năng của sự vật đều có một
liên hệ gắn bó chặt chẽ với nhau. Ông tin rằng, bản đồ
thiết kế của thiên nhiên rất bổ ích và có một liên hệ
cụ thể đến cuộc sống của chúng ta trong nhiều lãnh vực.
Trước khi ông qua đời, khoa tinh thể học (Crystallographic)
xử dụng quang tuyến X đã chứng minh được rằng, nhiều
loại siêu vi khuẩn đã được kết cấu theo cùng một nguyên
lý đo đạt vị trí (geodesy), mà ông đã khám phá được khi
tìm tòi trong môn toán thuộc về hình khối đa diện (Polyhedron).
Rất
tiếc ông đã không sống lâu để chứng kiến, nhưng ngoài
những khám phá và phát minh có tác động lớn của ông, một
lãnh vực mới trong ngành hóa học đã được mở ra, nhờ
sự khám phá bất ngờ của một hợp chất giống như quả
banh túc cầu, tương tự như thán tố. Nó mang những tính chất
quan trọng đặc biệt mà sau này được gọi là Buckminsterfullernes,
tên của ông. Ðùa chơi với sự tò mò, đi theo con đường
mình chọn, sự suy tư của ông đã đưa đến những khám phá
và thế giới mà ông không bao giờ có thể ngờ tới. Bạn
cũng thế. Ông Fuller không bao giờ cho mình là đặc biệt,
chỉ là một người thích đùa chơi với những ý kiến và
hình tướng mà thôi. Câu châm ngôn của ông là: "Nếu tôi
có thể hiểu được, thì bất cứ ai cũng có thể hiểu được".
Hãy
tự tin nơi mình, đừng bao giờ bắt chước một ai cả. Bạn
có thể dễ dàng tặng cho mỗi giây phút của cuộc sống này,
cái năng lượng tích tụ mà bạn đã nuôi dưỡng cả một
đời mình. Nhưng nếu bạn bắt chuớc tài năng của kẻ khác
bạn chỉ đóng góp được phân nữa những gì mình có... Hãy
làm những gì được giao phó cho mình, bạn sẽ không bao giờ
có thể nào hy vọng hoặc liều lĩnh quá mức được.
Ralph
Waldo Ermersom, Self-Reliance
10.-
NGỌN ANALOGUE
Có
những ngọn núi bên ngoài ta và cũng có những ngọn núi bên
trong ta. Chỉ mỗi sự hiện diên của chúng thôi cũng đã đủ
vẫy tay mời gọi thử thách ta rồi. Có lẽ bài học trọn
vẹn mà núi dạy cho ta là chúng ta mang trọn cả một ngọn
núi bên trong mình, núi ở trong lẫn ở ngoài. Có lúc ta cố
công tìm kiếm nhưng không bao giờ gặp, khi nào ta có đầy
đủ nghị lực và sự chuẩn bị để đi tìm một con đường,
trước là đến chân núi, sau là đỉnh cao. Hình ảnh leo núi
là một ẩn dụ rất sâu sắc cho những hành trình đi tìm
trong cuộc sống, một hành trình tâm linh, một con đường
phát triển, chuyển hóa và hiểu biết. Những cam go gian khổ
mà ta gặp phải trên đường là những thử thách cần thiết,
chúng giúp ta tự cởi mở ra và từ đó nới rộng biên giới
của mình hơn. Cuối cùng thì chính cuộc sống này là một
ngọn núi, một vị thầy, cung hiến cho ta những cơ hội tuyệt
vời để giúp ta tu sửa, để phát triển trong năng lực và
tuệ giác. Chúng ta sẽ học hỏi và trưởng thành rất nhiều
một khi ta đã chọn đặt chân vào hành trình này. Ở đây,
sự rủi ro rất cao, sự hy sinh rất lớn, mà kết quả thì
không có gì chắc chắn. Cuối cùng thì chính quá trình leo
núi tự nó là một sự khám phá, chớ không phải chỉ là
khi nào ta đã đứng trên đỉnh núi cao.
Trước
hết chúng ta cần phải quan sát xem chân núi như thế nào và
sau đó ta mới phải đối diện với những dốc cao, và cuối
cùng, hy vọng là đỉnh núi. Nhưng không ai có thể ở trên
đỉnh mãi được. Hành trình đi lên sẽ không hoàn toàn nếu
không có đi xuống, khi ta bước lùi lại để có thể nhìn
được toàn thể ngọn núi từ xa. Khi đã đứng trên đỉnh
núi cao, ta sẽ tiếp nhận được một quan điểm mới, và
nó có thể sẽ thay thế cái nhìn của ta mãi mãi.
Trong
một câu chuyện còn dở dang có tên là Núi Analogue, René Daumal
có diễn tả lại một phần cho cuộc hành trình nội tâm này.
Phần mà tôi còn nhớ thật rõ về câu chuyện là những điều
luật mà người leo núi Analogue cần phải tuân theo. Ví dụ,
trước khi tiếp tục leo lên một địa điểm trại cao hơn,
ta phải bổ sung lại cho đầy đủ căn trại mà ta sắp rời
bỏ, để cho người đến sau. Và ta phải tìm cách chia xẻ
kiến thức của mình về những gì biết được từ trên cao,
để những người bên dưới có thể được lợi lộc từ
những điều ta đã học hỏi được trong hành trình của mình.
Tôi
nghĩ chuyện ấy cũng giống như những điều chúng ta làm khi
đi dạy vậy. Ta cố hết sức để chỉ cho người khác những
gì mình đã biết cho đến bây giờ. Thật ra đó chỉ là một
tờ báo cáo, một bản đồ kinh nghiệm của ta, nó không hề
là chân lý tuyệt đối. Và từ đó hành trình thám hiểm rộng
mở. chúng ta đều cùng đang leo trên ngọn Analogue. Và chúng
ta rất cần đến sự giúp đở của nhau.
11.-
SỰ LIÊN HỆ MẬT THIẾT
Dường
như từ tuổi thơ chúng ta cũng đã biết rõ rằng, mọi việc
trên cuộc đời này đều có một liên hệ, gắn bó rất chặt
chẻ với nhau. Rằng cái này xảy ra vì cái kia xảy ra, muốn
cái này xảy ra thì cái kia phải xảy ra. Ở Tây phương có
một câu chuyện cổ tích nói lên được sự kiện này. Có
con chồn nọ lén uống hết sữa trong thùng của một bà lão,
trong khi bà bận đi lượm củi. Khi khám phá ra, bà ta giận
dữ bắt con chồn và cắt đứt đuôi nó. Con chồn khóc lóc
xin lại cái đuôi, bà nói sẽ khâu lại cho sau khi nó trả
sữa lại cho bà. Nghe vậy con chồn chạy đến gặp một con
bò và xin chút sữa, con bò nói đem về cho nó cỏ thì nó sẽ
cho sữa. Con chồn chạy ra cánh đồng xin chút cỏ, cánh đồng
nói hãy đem cho ta chút nước. Con chồn vội đến bên một
dòng suối để xin, dòng suối nói hãy đem bình đến đây
lấy. Câu chuyện lại tiếp diễn cho đến khi có một bác
nông phu, vì thương hại, cho con chồn những hạt lúa để
đem cho con gà, đánh đổi lấy những quả trứng đem cho người
bán hàng rong, anh bán hàng rong đổi cho một sợi dây chuyền
đem về đưa cho một cô con gái để lấy chiếc bình... và
cuối cùng con chồn lấy lại được cái đuôi và sung sướng
chạy đi. Cái này phải xảy ra thì cái kia mới có thể xảy
ra. Không có cái gì phát xuất từ khơi khơi được. Mọi việc
đều có một quá khứ, lai lịch của nó. Ngay cả lòng thương
của bác nông phu trong câu chuyện cũng phải có một phát xuất
từ đâu.
Khi
ta nhìn sâu vào bất cứ một quá trình nào, ta cũng sẽ thấy
được sự thật ấy. Không có ánh sáng mặt trời sẽ không
có sự sống. Không có nước sẽ không có sự sống. Không
có thực vật sẽ không có sự quang hợp (photosynthesis), không
có sự quang hợp sẽ không có dưỡng khí. Không có cha mẹ
sẽ không có ta. Không có xe cộ sẽ không có thực phẩm cho
thành phố. Không có hảng xe sẽ không có xe. Không có nhân
công sẽ không có sắt thép cho hảng xe. Không có quặng mỏ
sẽ không có sắt thép cho nhân công. Không có thực phẩm sẽ
không có nhân công. Không có mưa sẽ không có thực phẩm.
Không có mặt trời sẽ không có mưa. Không có những điều
kiện cho sự sắp xếp của các vì tinh tú, những hành tinh
trong vũ trụ, sẽ không có mặt trời, không có trái đất.
Nhưng những mối liên hệ này không phải lúc nào cũng giản
dị và nằm trên một đường thẳng. Thường thường thì
chúng dính líu với nhau như một màng nhện chằng chịt và
vô cùng vi tế. Vì vậy sự sống của ta là một màng lưới
tương quan gắn bó rất mật thiết, mà không có một nơi nào
là điểm khởi đầu, hoặc điểm chấm dứt tuyệt đối cả.
Vì
vậy, chúng ta có thể thấy được sự vô lý cũng như nguy
hiểm, khi ta để cho tư tưởng của mình biến một sự việc
hoặc hoàn cảnh nào đó thành một cá thể cô lập, không
ý thức gì về sự tương quan chằng chịt cũng như tính cách
biến đổi của chúng. Bất cứ một việc gì cũng có dính
líu đến bất cứ một việc nào khác, và nó cũng tàng chứa
hết, cũng như được tàng chứa bởi mọi vật khác. Còn gì
hơn nữa, vì mọi vật đều đang chuyển dịch. Những vì tinh
tú sinh ra, trải qua các thời kỳ rồi diệt đi. Các hành tinh
cũng có một nhịp điệu hình thành và hoại diệt riêng của
chúng. Những chiếc xe mới chưa ra khỏi xưởng mà cũng đã
đang trên đường đi đến chỗ phế thải rồi. Ý thức này
sẽ làm gia tăng sự tán thưởng của ta đối với luật biến
đổi của vạn vật, nó giúp ta bớt xem thường sự vật,
hoàn cảnh cũng như tình tương thân, và biết quý trọng chúng
hơn. Chúng ta sẽ tôn quý cuộc đời này hơn, con người, ý
kiến và mỗi giây phút hơn, nếu ta có thể nhìn sâu và thấy
được rằng, bất cứ những gì mình tiếp xúc đều có thể
nối liền ta với toàn thể vũ trụ, và tất cả mọi việc,
con người, nơi chốn, hoàn cảnh đều chỉ có mặt nơi đây
trong chốc lát mà thôi. Nó biến giây phút này trở thành vô
cùng lý thú. Mà thật ra, nó khiến cho giây phút này là tất
cả.
Chánh
niệm về hơi thở là một sợi dây, trên đó những hạt chuỗi
kinh nghiệm, tư tưởng, cảm thọ, hiểu biết và ý thức của
ta được xỏ qua. Xâu chuỗi ấy là một cái gì mới đối
với ta - nói cho đúng thì nó là một cách nhìn mới, một
lối sống mới, lối kinh nghiệm mới giúp cho ta có được
cách hành xử mới trong cuộc đời. Ðường lối mới ấy
của ta dường như có thể nối liền lại tất cả những
sự kiện gì có vẻ như là cô lập. Nhưng thật ra, trong cuộc
sống này không có gì là cô lập mà cần phải được nối
liền lại hết. Chính cái nhìn sai lầm của ta đã tạo nên
và duy trì sự cách biệt phân chia ấy.
Cái
nhìn và lối sống mới này sẽ giúp ta ráp lại những mảnh
vụn của cuộc sống vào đúng vị trí của chúng. Mỗi giây
phút sẽ được tôn trọng với sự trọn vẹn của nó, nằm
trong một sự trọn vẹn khác to tát hơn. Sự tu tập chánh
niệm chỉ đơn giản là một cuộc đi tìm, khám phá cho ra
đường mối của màng lưới nối liền mọi việc ấy lại
với nhau. Rồi đến một lúc nào đó ta sẽ thấy rằng, thật
ra mình không cần phải tìm kiếm gì hết. Chúng ta chỉ ý
thức được một sự tương quan mà nó bao giờ cũng có mặt.
Ta đã leo lên đến một cao điểm giúp mình có thể thấy
được toàn diện cảnh vật, và từ đó có thể ôm giữ giây
phút hiện tại này trong chánh niệm. Hơi thở và giây phút
hiện tại tương nhập vào nhau, như sợi dây và hạt chuỗi,
chúng tạo nên một cái gì to tát hơn.
Cái
này sáp nhập vào cái kia, những nhóm tan chảy nhập thành
các nhóm sinh môi, cho đến một lúc những gì ta nghĩ là sự
sống gặp gỡ và đi vào những gì ta cho rằng không phải
là sự sống: ốc hến và đá, đá và đất, đất và cây
cối, cây cối và mưa và không khí... Và điều lạ lùng là
hầu hết những cảm giác mà ta gọi là tôn giáo, hầu hết
những sự phản đối huyền bí mà ta cho là những phản ứng
cao thượng và mơ ước của loài người chúng ta, thật ra
chính là một sự hiểu biết và cố gắng nói lên rằng, con
người có liên hệ với tất cả vạn vật, nó gắn bó chặt
chẽ với mọi loài, biết tới hoặc không biết tới. Việc
ấy nói thì nghe rất giản dị, nhưng cảm thọ sâu sắc của
nó đã làm nên một Jesus, một St. Angustine, một St. Francis,
một Roger Bacon, một Charles Darwin và một Einstein. Mỗi người,
tùy theo nhịp điệu và giọng nói của mình, đã khám phá
và tái xác nhận với một kiến thức kỳ diệu rằng, tất
cả chỉ là một và một là tất cả - một phiêu sinh vật
(plankton), một động vật nhỏ li ti sống trôi nổi theo dòng
nước trong đại dương, và một hành tinh đang xoay và một
vũ trụ đang mở rộng, tất cả đều được cột chặt lại
với nhau bằng sợi dây vô cùng của thời gian.
John
Steinbeck và Edward F. Ricketts.
Sea
of Cortez
12.-
BẤT BẠO ÐỘNG - AHIMSA
Một
người bạn của tôi trở về, sau mấy năm sống ở Nepal và
Ấn Ðộ, vào năm 1973, đã nói như sau: "Nếu tôi không thể
làm gì hữu ích cho cuộc đời, thì ít ra tôi cũng sẽ cố
gắng bớt gây tổn hại chừng nào tốt chừng ấy".
Tôi
đã bị truyền lây bởi ý niệm về bất hại, Ahimsa, ngay
lúc ấy tại nơi phòng khách của tôi. Và tôi không bao giờ
quên được giây phút đó. Mặc dù tôi đã từng được nghe
nói về thuyết bất bạo động trước đó. Thái độ bất
hại này nằm ngay nơi trái tim của pháp môn Yoga và cũng là
lời tuyên thệ của các sinh viên y khoa trước khi họ trở
thành bác sĩ thực thụ (Hippocratic Oath). Nó cũng là nguyên
tắc nền tảng cho cuộc cách mạng của thánh Gandhi và sự
tu tập của cá nhân ông. Nhưng hình như vì sự chân thành
trong lời nói của người bạn tôi, cùng với một cái gì
đó không phù hợp từ một con người mà tôi nghĩ là tôi
biết, đã gây cho tôi một ấn tượng rất mạnh. Tôi chợt
thấy rằng đó là một lối sống rất đẹp đối với thế
giới chung quanh cũng như cho chính bản thân tôi. Tại sao ta
không thử cố sống sao để ít gây tổn thương cũng như khổ
đau được chừng nào tốt chừng ấy? Nếu chúng ta có thể
sống theo nguyên tắc đó, thì có lẽ mức độ bạo động
và điên rồ trong tư tưởng cũng như trong cuộc sống của
ta, đâu có đến nỗi tệ hại như ngày hôm nay. Và chúng ta
cũng sẽ biết thương yêu mình hơn, trên tọa cụ cũng như
trong cuộc đời.
Cũng
như mọi quan niệm khác, bất bạo động và bất hại có thể
là một nguyên tắc rất tuyệt diệu, nhưng chính việc sống
đúng theo nó mới thật sự có giá trị. Bạn có thể thực
tập sự từ ái của nguyên tắc bất bạo động đối với
chính bạn và đối với những người chung quanh bất cứ lúc
nào.
Có
bao giờ bạn cảm thấy mình khó khăn với chính mình và khinh
thường mình quá không? Hãy nhớ đến Ahimsa trong giây phút
ấy. Ghi nhận nó rồi buông bỏ đi.
Bạn
có bao giờ nói về một người nào đó sau lưng họ không?
Ahimsa.
Bạn
có cảm thấy rằng mình tự thúc đẩy quá mức, chẳng chú
ý gì đến sức khỏe cũng như hạnh phúc của mình không?
Ahimsa.
Bạn
có làm cho một người nào đó khổ đau không? Ahimsa. Ðem áp
dụng lý thuyết bất bạo động với những người không có
gì là nguy hại đối với ta bao giờ cũng dễ. Nhưng khi đối
diện với những người hoặc hoàn cảnh nào có vẻ đe dọa,
ta sẽ phản ứng ra sao, đó mới thật sự là bài thử nghiệm.
Ý
muốn làm khổ hoặc làm hại kẻ khác được phát xuất từ
một nỗi sợ trong ta. Muốn thực hành sự bất bạo động,
ta cần phải nhìn thấy rõ nỗi sợ của mình, để hiểu và
làm chủ nó. Làm chủ nó có nghĩa là ta dám nhận lãnh trách
nhiệm. Nhận lãnh trách nhiệm có nghĩa là ta không để cho
nỗi sợ hoàn toàn sai xử hành động và quan điểm của mình.
Chỉ có chánh niệm về sự dính mắc và ghét bỏ của chính
ta, và ý muốn đối diện với những trạng thái này trong
tâm, dù có đau đớn đến đâu, mới có thể giải thoát ta
ra khỏi vòng khổ đau này. Nếu ta không biết duy trì sự tu
tập hàng ngày, những ý tưởng dù tốt lành đến đâu cũng
rất là mong manh, chúng rồi sẽ bị lòng tư lợi đè bẹp
mất.
Bất
bạo động, Ahimsa, là một phẩm chất của linh hồn, và vì
vậy nó cần phải được thực hành bởi mọi người trong
mọi lãnh vực của cuộc sống. Nếu nó không thể được
thực thi trong tất cả mọi khoa, thì nó không có một giá
trị thực dụng nào.
Nếu
bạn không thể thương yêu được vua George đệ ngủ, hoặc
thủ tướng Winston Churchill, thì bạn có thể bắt đầu nơi
vọ, chồng, hoặc con của mình. Hãy đặt hạnh phúc của họ
trước hạnh phúc của bạn trong mỗi giây phút của cuộc
sống, và từ đó để cho vòng thương yêu ấy mở rộng ra.
Khi bạn đã cố gắng hết sức mình, sẽ không có chuyện
thất bại.
Mahatma
Gandhi
13.-
KARMA- NGHIỆP QUẢ
Tôi
có lần nghe các thiền sư dạy rằng, sự tu tập thiền quán
hàng ngày có thể chuyển được những nghiệp quả xấu của
mình thành những nghiệp quả tốt. Tôi luôn xem lời tuyên
bố ấy như là một lời quảng cáo rất kỳ quặc. Và phải
mất nhiều năm trời, tôi mới thật sự hiểu được lời
nói ấy. Chắc có lẽ nghiệp của tôi là vậy!
Nghiệp
quả, Karma có nghĩa là cái này xảy ra vì cái kia xảy ra. B
có một liên hệ nào đó đối với A. Bất cứ một hậu quả
nào cũng có nguyên do đi trước. Và mỗi nguyên do sẽ gây
nên một hậu quả có một kích thước tương xứng với nó,
ít nhất là ở trình độ phi lượng tử (non-quantum). Nói chung
khi ta nói về nghiệp quả của một người nào đó, nó có
nghĩa là tổng số của đường hướng sống của họ, cùng
với những yếu tố quan trọng xảy ra chung quanh, gây nên bởi
những điều kiện sẵn có như hành động, ý nghĩ, cảm xúc,
cảm nhận và lòng ham muốn. Nhiều khi người ta lại hay lầm
lẫn nghiệp quả với ý niệm về số mạng. Nghiệp quả giống
như sự huân tập của một số xu hướng, chúng giam cầm ta
trong một số thói quen nhất định nào đó, và các thói quen
này lại tiếp tay vào việc làm tăng gia sự huân tập của
những xu hướng ấy. Thế nên, rất dễ cho ta bị kềm hãm
bởi nghiệp quả của mình, và ta cho rằng nguyên nhân là do
ở một cái gì đó bên ngoài như vì người khác, hoặc vì
hoàn cảnh ngoài tầm kiểm soát của ta. Ta không bao giờ chịu
nhận là do nơi mình. Nhưng chúng ta đâu cần phải làm tù
nhân của những nghiệp quả xưa! Vì nghiệp quả có thể thay
đổi được. Ta lúc nào cũng có thể tạo nên những nghiệp
quả mới. Nhưng chỉ có một thời gian duy nhất để bạn
có thể thực hiện được việc đó mà thôi. Bạn có thể
đoán được thời gian đó là khi nào không?
Chánh
niệm có thể thay đổi được nghiệp quả. Khi ta ngồi yên,
ta không cho phép những ý nghĩ của mình biến đổi trở thành
hành động. Trong giây phút ấy, ta chỉ theo dõi chúng mà thôi.
Nếu quan sát ta sẽ thấy rằng, những ý nghĩ thúc đẩy trong
tâm ta sinh ra rồi sẽ diệt đi, chúng có một sự sống riêng,
chúng không phải là ta mà chỉ là tư tưởng, và ta không phải
chịu sự sai xử của chúng. Khi ta không còn cung cấp và phản
ứng theo những sự thúc đẩy ấy, mình sẽ có cơ hội thấy
được trực tiếp rằng tự tánh của chúng chỉ là tư tưởng.
Quá trình này sẽ thiêu hủy hết những ý nghĩ tiêu cực bằng
ngọn lửa định lực, an tĩnh và vô hành. Và cùng một lúc
ấy, những tuệ giác và tư tưởng tích cực sẽ được nuôi
dưỡng và bảo vệ bằng chánh niệm. Chánh niệm vì thế có
thể sắp xếp lại những mắt xích trong sợi dây nhân quả,
và từ đó có thể cởi trói ta, giải thoát ta, và mở ra những
đường hướng mới trong mỗi giây phút của cuộc sống. Thiếu
chánh niệm, chúng ta sẽ dễ dàng bị đà tiến của quá khứ
xô đẩy vào hiện tại, không hề ý thức được sự dính
mắc của mình,và không có một lối thoát. Ta cho rằng những
khổ đau của mình đều do lỗi lầm của kẻ khác, hoặc của
cuộc đời, và vì thế mà quan điểm và cảm thọ của ta
bao giờ cũng hợp lý. Và giây phút hiện tại không bao giờ
có thể là một sự bắt đầu mới, vì ta không cho phép!
Cuối
cùng, chính sự thất niệm của ta đã giam cầm ta. Chúng ta
mỗi lúc càng cách xa những tiềm năng chân thật của mình,
và mỗi lúc lại càng bồi đắp thêm cho tập quán trọn đời
là "vô minh" ấy, không nhìn thấy, chỉ biết phản ứng và
trách móc mà thôi.
Làm
việc với những tội phạm trong các nhàn tù, tôi được dịp
chứng kiến những hậu quả của các nghiệp "xấu" rất rõ.
Mặc dù trong nhà tù cũng chẳng khác gì với bên ngoài bao
nhiêu. Mỗi tù nhân đều có một câu truyện, mà bao giờ cũng
là cái này dẫn đến cái kia. Mà truyện thì bao giờ cũng
phải vậy! Cái này dẫn tới cái kia. Nhiều người vẫn không
hiểu được việc gì đã xảy đến với họ, họ đã lầm
lỡ chỗ nào! Thường thường đó là một chuỗi biến có
rất dài, bắt đầu từ cha mẹ và gia đinh, rồi đến luật
đường phố, nghèo khó và bạo động, tin vào người mà ta
không nên tin, muốn kiếm tiến mau, uống rượu, hút ma túy
để trốn tránh khổ đau, sự trống vắng... Chúng làm mờ
mịt và sai lạc tư tưởng của họ, cũng như cảm giác, hành
động và giá trị, từ đó họ không còn nhận thức được
những ý nghĩ nào là khổ đau, tàn ác, tiêu cực và tự huỷ
hoại mình.
Và
rồi trong một giây phút, đã được dẫn tới bởi những
giây phút trước đó, họ đột nhiên "không còn biết gì hết",
phạm vào một tội lớn, để rồi kinh nghiệm biết bao là
những hậu quả ảnh hưởng đến tương lai của mình. Bất
cứ việc làm nào của ta cũng mang đến hậu quả, cho dù ta
có ý thức được hay không, cho dù ta có bị bắt gặp hay
không. Thật ra lúc nào ta cũng bị bắt. Bị bắt bởi nghiệp
quả của chính mình. Chúng ta tự xây dựng nhà tù cho mình
mỗi ngày. Ta có thể nói rằng, những người tôi gặp trong
tù, họ đã tự chọn cho mình con đường ấy. Và chúng ta
cũng có thể nói rằng, họ đã không có một sự lựa chọn
nào khác hơn. Họ không hề ý thức rằng họ có được một
sự chọn lựa. Những sự kiện ấy trong đạo Phật gọi là
thiếu chánh niệm, hay là vô minh. chính vì ta thiếu chánh niệm
nên không ý thức được rằng, những ý nghĩ của mình, nhất
là khi chúng bị nhuốm màu sắc tham lam và sân hận, dù cho
chánh đáng đến đâu, cũng có thể làm sai lệch tâm ta cũng
như cuộc đời ta. Những trạng thái tâm thức ấy sẽ ảnh
hưởng đến tất cả mọi người, đôi khi to tát mạnh mẽ,
nhưng thường khi rất tinh tế. Chúng ta có thể đang bị giam
cầm bởi một tâm thức bị những mây mù của ý kiến và
khái niệm che phủ, mà ta lại bám chặt vào chúng như là chân
lý.
Muốn
thay đổi nghiệp quả của mình, ta cần phải thôi để làm
cho những gì làm mờ mịt thân tâm, cũng như tô màu mọi hành
động của mình, đừng xảy ra nữa. Việc ấy không có nghĩa
là ta phải làm những việc tốt. Nó có nghĩa là ta biết được
mình là ai và ta không phải là nghiệp quả của mình, dù đó
có là gì chăng nữa trong giây phút này. Nó cũng có nghĩa là
ta ý thức được những gì thật sự xảy ra. Có nghĩa là
thấy rõ được thực tại.
Chúng
ta nên bắt đầu nơi nào? Sao bạn không chọn nơi tâm mình?
Vì dù sao chính nơi đó là môi trường của mọi tư tưởng,
cảm thọ, sự thúc đẩy và tri giác của ta được chuyển
sang hành động trong cuộc đời. Mỗi khi bạn ngưng lại những
hành động của mình và thực tập dừng lại, ngay trong giây
phút này và ở đây, với một ý định ngồi xuống, là ta
đã bẻ gẫy được dòng luân lưu của nghiệp quả cũ, và
từ đó ta tạo nên một nghiệp quả mới lành mạnh hơn. Gốc
rễ của sự chuyển hóa nằm ngay nơi đó, một khúc quanh quan
trọng trong cuộc đời.
Chính
hành động dừng lại ấy, giây phút của sự vô hành, của
một sự quan sát thuần túy, giúp cho bước chân ta đứng thật
vững vàng đối với tương lai. Vì sao? Vì chỉ khi nào ta thật
sự có mặt trọn vẹn trong hiện tai, thì tương lai của ta
mới có thể được trong sáng, rõ ràng và từ ái, và nó cũng
bớt bị chi phối bởi sự sợ hãi, đau đớn, cũng như có
thêm nhân phẩm và sự chấp nhận. Chỉ có những gì xảy
ra trong bây giờ mới sẽ xảy ra sau này. Nếu bây giờ ta không
có chánh niệm, tĩnh lặng và từ ái, khi ta đang có cơ hội
tốt để bồi dưỡng, thì làm sao ta lại có thể có được
chúng, khi ta bị căng thẳng hoặc gặp những khó khăn?
Ý
nghĩ rằng linh hồn ta sẽ hòa nhập với niềm hạnh phúc lớn
chỉ vì cơ thể ta tan rã là một ảo vọng. Những gì ta tìm
thấy bây giờ, ta sẽ tìm thấy trong lúc ấy.
Kabir
14.-
TẤT CẢ LÀ MỘT
Khi
chúng ta tiếp xúc được với sự nguyên vẹn, ta sẽ cảm
thấy mình là một với tất cả. Khi ta cảm thấy mình là
một với tất cả, ta sẽ cảm thấy nguyên vẹn.
Khi
ta ngồi hoặc nằm yên, bất cứ lúc nào ta cũng có thể tiếp
xúc và siêu vượt được thân thể này, hòa nhập với hơi
thở và vũ trụ, kinh nghiệm được mình trọn vẹn và có
thể nhập vào một cái nguyện vẹn khác to lớn hơn. Nếm
được tính chất tuơng quan chặt chẻ của mọi vật với
nhau, sẽ đem lại cho ta một ý thức sâu xa về tính lệ thuộc,
một cảm nhận ta là một phần rất thân thiết với tất
cả và thấy được nơi đâu ta đến cũng là nhà. Chúng ta
có thể sẽ tìm thấy và bỡ ngỡ trước thời gian vô tận
ngàn đời vượt ra ngoài sanh tử, và cùng một lúc kinh nghiệm
được tính chất ngắn ngủi của cuộc đời, sự mong manh
của tấm thân này, giây phút này và của mỗi người chúng
ta. Khi ta tiếp xúc được với sự nguyên vẹn của mình trực
tiếp qua thiền tập, ta có thể chấp nhận được thực tại
chung quanh, có được một sự hiểu biết và tình thương sâu
sắc, và bớt đi những nỗi thống khổ và lo âu hơn.
Sự
nguyện vẹn là nguồn gốc của tất cả. Khi nhận thức được
tự tánh nguyên vẹn của mình rồi, ta sẽ thấy rằng mình
không cần phải đi đâu hoặc làm gì cả. Ta hoàn toàn có
tự do để chọn con đường nào của mình. Sự tĩnh lặng
luôn luôn có mặt trong hành động cũng như sự vô hành của
ta. Chúng ta thấy nó lúc nào cũng nằm nơi đây, và mỗi khi
ta tiếp xúc với nó, nếm được nó, lắng nghe nó, thì thân
ta cũng sẽ tiếp xúc, cùng nếm và lắng nghe với ta. Tâm ta
cũng sẽ lắng nghe và giây phút ấy ta biết được thế nào
là an lạc. Trong sự cởi mở và tiếp nhận ấy, ta tìm thấy
được một sự quân bình và hòa hợp đang hiện diện ngay
ở đây, và thời gian vô tận đang hiển lộ trong giây phút
hiện tại.
Siddhartha
lắng nghe. Chàng bắt đầu chú tâm lắng nghe, miệt mài trong
thinh lặng, hoàn toàn hấp thụ, tiếp nhận tất cả. Chàng
cảm thấy rằng, mình bây giờ đã thật sự học được nghệ
thuật lắng nghe. Những âm thanh này, chàng đã nghe chúng nhiều
lần trong quá khứ, những giọng nói khác nhau của dòng sông,
nhưng hôm nay chúng có vẻ khác biệt. Chàng không còn phân
biệt đuợc những giọng nói khác nhau nữa - tiếng vui ca với
tiếng than thở, tiếng trẻ thơ với tiếng trưởng thanh. Tất
cả đều lệ thuộc vào nhau: tiếng than vãn của những ai
sầu khổ, tiếng cười vang của bậc minh triết, tiếng khóc
la của kẻ phẫn uất, tiếng rên rĩ của người đang hấp
hối. Tất cả đều nương tựa vào nhau, quấn quýt, đan dệt
vào nhau trong ngàn đường lối. Và tấ cả những giọng nói,
những mục đích, những lạc thú, những cái tốt đẹp và
xấu xa, tất cả những cái đó nhập lại thành thế giới
này. Chúng là dòng biến cố, là âm nhạc của sự sống. Khi
Siddhartha miệt mài lắng nghe dòng sông, theo bài ca của muôn
ngàn tiếng hát, khi chàng không chỉ lắng nghe theo tiếng khóc
hay tiếng cười, khi chàng không chỉ lắng nghe một âm thanh
duy nhất nào, nhưng là lắng nghe hết tất cả, trọn vẹn,
đồng nhất, khi ấy bài ca của ngàn giọng hát chỉ gồm có
mỗi một chữ mà thôi.
Herman
Hesse, Siddhartha
Ðiều
ta cần biết học lại, là quan sát và tự mình khám phá, cái
ý nghĩa của sự nguyên vẹn.
David
Bohm, Wholeness and the Implicate Order.
Tôi
rộng lớn. Tôi chứa đựng hết tất cả.
Walt
Whitman, Leaves of Grass
15.-
TỰ TÍNH CỦA MỖI VẬT
Sự
nguyên vẹn không thể nào kinh nghiệm một cách chuyên chế
được, vì nó đa dạng vô cùng, nó phản chiếu và tàng chứa
hết tất cả. Như chiếc màn của trời Ðế Thích là một
biểu tượng cho vũ trụ này. Chiếc màn ấy làm bằng trân
châu, mỗi hạt châu lại phản chiếu và tàng chứa hết tất
cả những hạt châu khác trong tấm màn. Có người muốn chúng
ta phải tôn kính, thật đồng đều, trước bàn thờ của
sự duy nhất. Họ xử dụng ý niệm đồng nhất như một chiếc
xe hủ lô cán dẹp hết tất cả những sự khác nhau của mọi
vật. Nhưng chính từ những tính chất đặc biệt của cái
này và cái kia, từ những thuộc tính cá biệt của chúng -
trong đạo Phật, ta gọi đó là tự tính của mỗi vật - mà
tất cả là nền văn hóa, thơ phú, nghệ thuật, khoa học và
sự sống, sự nhiệm mầu cũng như sự phong phú, có thể hiện
hữu.
Tất
cả mọi khuôn mặt đều giống nhau, nhưng dù vậy ta vẫn
có thể nhận diện dễ dàng tính chất duy nhất, cá biệt
của mỗi cá nhân. Và chúng ta cũng rất quý trọng sự khác
biệt này. Ðại dương là một cá thể nguyên vẹn, nhưng nó
có vô số những con sông nhỏ, mỗi mỗi đều khác nhau; nó
có những dòng nước, độc lập, luôn luôn thay đổi; đáy
biển là một phong cảnh riêng biệt không nơi nào giống nơi
nào; và bờ biển cũng thế. Bầu khí quyển này là nguyên
vẹn, nhưng nó có những dòng lưu chuyển rất đặc biệt,
mặc dù chúng ta chỉ cảm thấy chúng như là những làn gió.
Sự sống trên quả đất này là nguyên vẹn, nhưng nó được
biểu hiện trong những cơ thể giới hạn bởi thời gian và
không gian, nhỏ vi tế hoặc hiển lộ, cây cỏ hoặc cầm thú,
đã tuyệt chủng hoặc vẫn còn sinh tồn. Vì vậy không có
một nơi nào là duy nhất. Sẽ không một đường lối nào
là duy nhất, sự tu tập nào là duy nhất, phương pháp học
nào là duy nhất, cách thương yêu nào là duy nhất, đường
lối phát triển nào là duy nhất, cách sống nào là duy nhất,
cách cảm nhận nào là duy nhất, cũng như một cái biết nào
là duy nhất. Chính sự cá biệt ấy, ta gọi là tự tính của
sự vật, mới là quan trọng.
Con
chim bạc má,
Nhảy
nhót lại kề bên tôi.
Thoreau
Người
đàn ông đang hái củ cải
chỉ
đường
bằng
một củ cải
Issa
Ao
cổ
Cóc
nhảy vào
Tỏm!
Basho
Nửa
đêm. Không sóng,
không
gió, chiếc thuyền không
chở
đầy ánh trăng.
Ðạo
Nguyên
Chắc
bạn đã hiểu rồi chứ gì?
16.-
CÁI GÌ ÐÂY?
Tinh
thần quan sát là nền tảng của một lối sống chánh niệm.
Nhưng sự quan sát không chỉ là một phương cách để giải
quyết vấn đề. Nó là một phương tiện giúp ta tiếp xúc
được với sự bí mật của sống và sự có mặt của ta
ở nơi này. Ta thật sự là ai? Ta đang đi về đâu? Nó có
nghĩa lý gì? Thế nào là người... đàn ông, đàn bà, trẻ
thơ, cha mẹ, một người học trò, một công nhân, một ông
chủ, một tội nhân, một kẻ không nhà? Nghiệp quả của
tôi là gì? Tôi đang ở đâu. Con đường nào là của tôi?
Công việc của tôi trên trái đất này là gì?
Quán
sát không có nghĩa là ta đi tìm một câu trả lời, nhất là
những câu trả lời hời hợt có được từ một suy tư nghèo
nàn. Nó có nghĩa là hỏi mà không cần được giải đáp,
chỉ cần suy nghẫm và cân nhắc, cưu mang sự thắc mắc đó
trong ta, để cho nó được thấn nhuần, sủi bọt, nấu chín
và soi sáng bởi chánh niệm, như mọiviệc khác.
Bạn
không nhất thiết cần phải ngồi yên mới có thể quán sát
được. Sự quán sát và chánh niệm có thể xảy ra cùng một
lúc trong cuộc sống thường ngày của ta. Thật ra,sự quán
sát và chánh niệm chỉ là một, chúng tùy theo góc cạnh nhìn
của ta. Bạn có thể suy ngẫm về những câu hỏi như là "Tôi
là ai?", "Cái này thật sự là gì đây?", "Tôi đang đi về
đâu?", hoặc là "Công việc nào là của tôi?" trong khi bạn
đang sửa xe, đi dạo, rửa chén, đi xin việc làm, ngồi xem
những đứa con của mình đùa giởn trong một buổi tối sáng
trăng.
Trong
cuộc sống ta sẽ phải đối diện với mọi thứ vấn đề:
lớn nhỏ, tròn méo... Chúng có từ những việc rất nhỏ nhen
cho đến lớn lao, và vĩ đại có thể đàn áp ta. Sự tu tập
là làm sao ta có thể đối diện với chúng bằng sự quan sát,
trong chánh niệm. Nó có nghĩa là ta cần đặt những câu hỏi
như: "Ý nghĩ này, cảm thọ này, khó khăn này, thật sự là
gì?", "Tôi sẽ đối phó với nó ra sao?" hoặc là tôi có dám
đối diện với nó không hay là chấp nhận nó không?"
Bước
đầu tiên là chấp nhận rằng ta có sự khó khăn, có nghĩa
là ta đang có một sự căng thẳng hoặc bất an nào đó. Có
khi phải mất đến bốn mươi năm, năm mươi năm ta mới có
thể tạm công nhận được một vài vấn đề mà mình đang
cưu mang. Sự quán sát không có một thờigian nhất định.
Nó cũng giống như một cái nồi đang để trên ngăn giá. Nó
sẵn sàng để xử dụng khi nào bạn cần mang nó xuống, bỏ
đồ vào và nấu lên.
Quán
sát có nghĩa là ta đặt câu hỏi và lập đi lập lại nhiều
lần. Ta có can đảm để đối diện với vấn đề không,
bất cứ đó là một việc gì, và đặt câu hỏi nó thật
sự là gì? Việc gì đang thật sự xảy ra? Nó đòi hỏi ta
phải biết nhìn cho thật sâu sắc và duy trì sự quán chiếu
ấy trong một thời gian, với chánh niệm. Nó sai lầm chỗ
nào? Gốc rễ của vấn đề nằm ở đâu? Bằng chứng đâu?
Chúng liên hệ nhau ra sao? Thế nào là một giải pháp tốt
đẹp? Ta hãy tiếp tục quán sát, quán sát và quán sát.
Nhưng
bạn nên nhớ quán sát không phải là suy nghĩ để tìm tòi
một sự giải đáp, mặc dù nó sẽ khơi lên rất nhiều ý
nghĩ có thể giống như những câu trả lời. Quán sát có nghĩa
là ta biết lắng nghe những tư tưởng của mình, mà câu hỏi
ta đã khơi dậy. Việc ấy cũng giống như ta đang ngồi bên
cạnh dòng suối tư tưởng của mình, lắng nghe tiếng nước
chảy qua những khe đá, lắng nghe, lắng nghe và theo dõi, thỉnh
thoảng có một vài chiếc lá hoặc cành khô nhỏ trôi qua.
17.-
LẬP NÊN MỘT CÁI NGÃ
Giá
trị thật sự của một con người, được xác định bằng
sự đo lường và cảm nhận nơi người ấy, đã giải thoát
ra khỏi được cái Tôi của mình bao nhiêu?
[b]Albert
Einstein, The World As I See It.
"Tôi"
và "của Tôi" là những sản phẩm của tư tưởng chúng ta.
Larry Rosenberg, một người bạn của tôi tại thiền viện Cambridge
Insight Meditation Center, gọi đó lập Ngã. Ông ta nói rằng,
chúng ta có một khuynh hướng không thoát được cũng không
thay đổi được, là từ bất cứ một sự việc gì, một
hoàn cảnh gì, ta cũng có thể lập nên từ đó một cái "Tôi"
và "của Tôi", và ta sinh hoạt trong cuộc đời với ý niệm
hạn hẹp ấy, phần lớn chỉ là mộng tưởng, và sự tự
vệ. Không có một giây phút trôi qua nào lại không có việc
đó xảy ra. Nhưng vì quá thông thường, nó đã trở thành
một phần của cơ cấu cuộc đời, hoàn toàn không ai để
ý đến, cũng như một con cá không hề biết tới nước, mặc
dù nó đang chìm đắm trong đó. Bạn cũng có thể tự mình
nhận xét được việc này, dù bạn đang ngồi thiền trong
yên lặng hay là sống trong cuộc đời chừng dăm ba phút. Bất
cứ trong một giây phút nào, một kinh nghiệm nào, tư tưởng
của ta sẽ xây dựng từ đó thành một giây phút "của tôi",
kinh nghiệm "của tôi", con "của tôi", ước muốn "của tôi",
ý kiến "của tôi", đường lối "của tôi", thẩm quyền "của
tôi", tương lai "của tôi", kiến thức "của tôi", thân "của
tôi", tâm "của tôi", nhà "của tôi", đất "của tôi", cảm
thọ "của tôi", xe "của tôi", hoặc vấn đề "của tôi".
Nếu
bạn quan sát quá trình lập ngã ấy trong chánh niệm, bạn
sẽ thấy rằng cái mà ta gọi là Ngã, là Tôi, thật ra chỉ
là một cấu tạo của tâm, và nó không thường hằng. Nếu
bạn nhìn cho sâu thử tìm kiếm một cái Tôi vững vàng, không
thể phân chia, một cái "Tôi" đứng sau những kinh nghiệm "của
Tôi", bạn sẽ khám phá ra rằng chúng chỉ là những tư tưởng.
Bạn có thể cho rằng ta là cái tên gọi của mình, nhưng việc
ấy cũng không đúng. Tên của ta chỉ là một nhãn hiệu. Và
tuổi tác, ý kiến của ta, nam hay nữ... thì cũng chỉ có thế
thôi. Không có cái nào có thể làm nền tảng cho cái Tôi.
Khi
bạn quán sát cho thật sâu sắc, dò theo những đường mối
dẫn và để thử xem ta là ai hoặc là gì, chắc chắn bạn
sẽ khám phá ra rằng không có một nơi nào thật sự là vững
chắc. Giả sử bạn đặt câu hỏi: "Ai là người hỏi tôi
là ai?", cuối cùng câu hỏi ấy sẽ dẫn đến câu trả lời
là : "Tôi không biết". Cái Tôi ấy dường như là một cấu
trúc được biết đến bằng những thuộc tính của nó, mà
không có một thuộc tính nào, dù riêng rẽ hoặc cùng chung
lại với nhau, lại có thể cấu tạo nên một con người.
Hơn nữa, cái cấu trúc "Tôi" ấy lại có một khuynh hướng
tan rã và kết tụ lại hầu như trong mỗi giây mỗi phút.
Ngoài ra nó cũng còn có một khuynh hướng cảm thấy mình thua
sút, nhỏ bé, bất an và bất định, vì tự chính hiện hữu
của nó đã quá mong manh. Việc ấy tạo nên những khổ đau
cho ta, vì thiếu chánh niệm ta không ý thức được rằng mình
đang bị dính mắc vào cái "Tôi" và "của Tôi" sâu đậm đến
chừng nào.
Và
rồi lại có những vấn đề của các sư việc xảy ra chung
quanh ta nữa. Cái "Tôi" của ta sẽ cảm thấy sung sướng khi
hoàn cảnh chung quanh ủng hộ cho một niềm tin rằng nó là
tốt, và cảm thấy chán nản khi bị chỉ trích, gặp khó khăn,
cản trở hoặc thất bại. Có lẽ đây cũng là một nguyên
do chánh cho những thương tích trong lòng tự trọng của nhiều
người. Thật ra chúng ta không quen với quá trình cấu tạo
này của sự lập ngã. Vì thế ta rất dễ bị mất quân bình
và cảm thấy bị tổn thương, thua sút, khi nhu cầu được
chấp thuận, được cảm thấy quan trọng của ta, không được
cung cấp hoặc ủng hộ đầy đủ. Và ta lại đi tìm sự an
ổn của nội tâm qua những phần thưởng ở bên ngoài, qua
sự chiếm hữu vật chất và nương tựa vào những người
thương. Thế nhưng, dù bận rộn cố gắng để thực hiện
những việc ấy, ta vẫn không bao giờ cảm thấy được thật
sự yên ổn trong lòng. Ðạo Phật dạy rằng, thật ra không
có một cái Tôi nào riêng rẽ và cô lập hết, chỉ có một
tiến trinh xây dựng cái Tôi đang tiếp diễn liên tục mà
thôi. Nếu ta ý thức được rằng, quá trình lập ngã ấy
là một tập quán thâm căn cố đế và ta tự cho mình một
ngày nghỉ, thôi cố gắng trở thành một nhân vật nào đó,
chỉ cần giản dị kinh nghiệm, những gì đang thật sự xảy
ra, thì có lẽ ta sẽ trở nên hạnh phúc hơn và thảnh thơi
hơn.
Trong
thời đại mới này ở Tây phương, người ta thường hay nói
"Trước hết bạn phải là một người nào đó (somebody), rồi
bạn mới có thể trở thành không là ai hết (nobody) được",
đó là một quan niệm theo tôi nghĩ là hết sức sai lầm. Nó
có hàm ý là ta cần phải có một cảm nhận vững vàng về
một cái ngã, rồi ta mới có thể khám phá được tính chất
trống vắng của "vô ngã". Nhưng vô ngã không hề có nghĩa
là "không là ai hết". Nó chỉ có nghĩa là mọi việc trên
cuộc sống này đều có tương quan liên hệ mật thiết với
nhau và không có một cái "Tôi" nào riêng biệt và độc lập.
Tôi chỉ có thể là tôi trong sự tương quan với những sự
việc và biến cố khác trong đời sống - như cha mẹ, tuổi
thơ, tư tưởng, cảm thọ, những sự kiện bên ngoài, thời
gian... Hơn thế nữa, ta bao giờ cũng là một nhân vật nào
đó rồi, bất cứ là gì đi nữa. Ta là người mà ta đang
là. Những người ấy không phải là tên gọi của ta, tuổi
tác của ta, tuổi thơ của ta, niềm tin của ta, nỗi sợ của
ta. Những sự kiện ấy chỉ là một phần nhỏ, chứ không
toàn vẹn.
Vì
vậy, khi ta nói rằng mình không nên cố sức để trở thành
một nhân vật nào đó, mà chỉ cần kinh nghiệm trực tiếp
những gì đang thật sự xảy ra, có nghĩa là ta nên bắt đầu
bây giờ và ở đây, với những gì mình đang có. Thiền tập
không có nghĩa là ta cố gắng để trở thành một nhân vật
nào khác, và cũng không phải là để biến ta trở nên một
xác chết vô tri, không có khả năng sống trong cuộc đời
và đối phó với những khó khăn của cuộc sống. Thiền tập
là để nhìn thấy được thực tại như nó là, không bị
bóp méo bởi ý niệm và tư tưởng của ta. Một phần của
quá trình đó là ta nhận thấy rằng, mọi vật đều có một
sự liên hệ mật thiết với nhau, và mặc dù cảm nhận về
cái Tôi cũng không phải là thật, là bền vững và thường
hằng. Vì vậy, nếu ta thôi không cố gắng bắt mình trở
thành những gi mình không phải, vì một nỗi sợ thua sút nào
đó, thì con người của ta sẽ được nhẹ nhàng hơn, an lạc
hơn và dễ thở hơn.
Phương
cách xử sự của chúng ta sẽ ít có tính cách cá nhân hơn.
Khi có việc gì xảy ra, cố đừng nhìn nó dưới ánh mắt
của một cái tôi, thử xem sao. Có thể là nó chỉ xảy ra,
thế thôi. Có thể nó không hề nhắm gì tới ta hết. Hãy
quan sát tâm ta trong những lúc ấy. Nó có dính mắc gì đến
những cái "Tôi" và "của Tôi" không? Hãy tự hỏi mình "Tôi
là ai?" hoặc "Cái Tôi cho là của mình đó, nó thật sự là
gì?"
Chánh
niệm có thể giúp ta quân bình được quá trình lập ngã và
làm giảm ảnh hưởng của nó. Bạn hãy nhớ rằng, cái Tôi
cũng vô thường như mọi thứ khác. Bất cứ một cái gì ta
cố nắm bắt mà có dính líu đến cái tôi, sẽ vuột khỏi
bàn tay ta. Ta không thể nào bắt được vì nó luôn luôn thay
đổi, tan hoại rồi sinh hợp trở lại, nhưng lúc nào cũng
khác đi một chút, tùy theo hoàn cảnh của giây phút ấy. Nó
cũng giống như trong thuyết hỗn loạn (Chaos theory), có diễn
tả một tình trạng mà trong đó có tàng chứa một trật tự,
nhưng chính nó lại không theo một trật tự nào. Và nó không
bao giờ tái lập lần thứ hai. Bất cứ khi nào ta nhìn, nó
cũng sẽ có một chút khác biệt.
Tự
tánh của cái Tôi là vô thường, luôn biến đổi và không
bền vững. Nhưng nhờ vậy, nó đem lại cho ta một niềm hy
vọng. Nó có nghĩa là ta không cần phải quan trọng hóa mình
quá đáng, và biết rằng, những tiểu tiết trong đời sống
cá nhân của ta, không nhất thiết phải là trung tâm vận hành
của vũ trụ. Khi ta nhìn nhận và buông bỏ những ý tưởng
chấp ngã ấy, là ta ban cho vũ trụ này thêm một chút không
gian để cho sự việc có thể xảy ra. Và cũng vì ta thể nhập
vào vũ trụ và tham dự vào sự biểu lộ của nó, nên những
hành động tự kỷ, tự hoại, bất an, lo lắng quá mức của
ta, cũng có thể làm trì trệ sự biểu lộ ấy, và khiến
cho thế giới mộng tưởng của một cái Tôi có thể được
nhìn thấy và cảm nhận như là thật.