18.-
GIẬN DỮ
Cái
nhìn tuyệt vọng và sự im lặng van xin tôi đừng nổi giận,
hiện rõ trên gương mặt mười một tuổi của đứa con gái
tôi, khi tôi bước xuống xe tại nhà đứa bạn nó, một buổi
sáng sớm chúa nhật. Lời van xin thầm lặng ấy thấm sâu
qua ý thức của tôi, nhưng không hoàn toàn chế ngự được
sự bực dọc và tức giận, mà nó nhận thấy đang bộc phát
trong tôi. Ðứa con gái sợ tôi sẽ làm một trận và làm xấu
hổ trước mặt bạn bè nó. Trong lúc ấy, tôi cảm thấy có
một sức đẩy quá mạnh để có thể hoàn toàn dừng lại,
mặc dù sau này tôi ước gì đã làm được việc đó. Tôi
ước gì mình đã để cho cái nhìn của đứa con gái trong
giây phút ấy xúc chạm và chuyển hướng cho tôi thấy được
cái gì thật sự quan trọng - là cảm thấy rằng nó có thể
nương tựa vào tôi và tin ở tôi, thay vì phải lo sợ tôi
sẽ phản bội hoặc đe dọa mối giao du của nó. Nhưng lúc
ấy tôi quá bực tức vì cảm thấy mình bị lợi dụng bởi
đứa bạn gái của nó, đã hẹn trước nhưng lại không sửa
soạn có mặt đúng giờ. Tôi không còn đếm xỉa gì đến
hoàn cảnh khó xử của đứa con gái mình.
Tôi
bị cuốn xoay trong cơn lốc của sự tức giận, cho rằng mình
đã bị khinh thường. Cái "Tôi" của tôi không thích bị bắt
chờ đợi hoặc bị lợi dụng. Tôi bảo nó là tôi sẽ không
làm trận gì với ai cả, nhưng tôi muốn nói chuyện cho ra
lẽ ngay bây giờ, vì tôi cảm thấy mình đã bị lạm dụng.
Ngay buổi sáng sớm ấy, tôi bực tức hỏi má của đứa bạn
con tôi về sự trễ nải, trong khi cơn giận đang sôi sục.
Thế nhưng, thì ra má của nó đã ngủ quên, và cơn giận của
tôi cũng tan biến thật mau chóng.
Và
từ đó vấn đề cũng đã được giải tỏa theo. Nhưng trong
ký ức của tôi thì không, nó vẫn còn gìn giữ, và hy vọng
rằng sẽ là mãi mãi, cái nhìn ấy trên gương mặt của đứa
con mình, mà tôi không thể đọc kịp để có thể có mặt
trọn vẹn trong giây phút ấy. Phải chi tôi có thể làm được
việc đó thì có lẽ cơn giận đã chấm dứt ngay khi ấy và
ở đó rồi.
Chúng
ta thường phải trả một giá rất đắt cho quan điểm nhỏ
hẹp của mình, cho rằng mình là "phải". Nỗi bực tức tạm
thời của tôi thật ra đâu có gì quan trọng so với lòng tín
cẩn của con gái tôi. Nhưng trong giây phút ấy sự kỳ vọng
của nó cũng vẫn bị dẫm đạp lên như thường. Thiếu sự
chăm sóc và chánh niệm, những cảm thọ của một tâm ý nhỏ
nhen sẽ hoàn toàn khống chế giây phút hiện tại. Việc ấy
xảy ra luôn luôn. Nỗi đau mà ta tạo nên cho chính chúng ta.
Mặc dù ta ít khi nào chịu chấp nhận, nhất là về mình,
nhưng buồn thay, những cơn giận nhỏ nhặt lại thường là
những việc ta hay dễ duôi và bị lôi cuốn theo rất dễ dàng.
19.-
MỘT BÀI HỌC VỀ ÐỒ ĂN CỦA MÈO
Nhà
tôi có nuôi những con mèo. Và tôi rất ghét nhìn thấy dĩa
đồ ăn của chúng nằm trong bồn rửa chén, chung với đám
chén bát của chúng tôi. Tôi không hiểu vì lý do gì chuyện
ấy đối với tôi rất là quan trọng. Có lẽ vì tôi không
quen nuôi thú vật trong nhà từ nhỏ. Hoặc tôi nghĩ đó là
một vấn đề vệ sinh tối thiểu cần phải có. Khi nào tôi
phải rửa dĩa đồ ăn của chúng thì bao giờ tôi cũng rửa
hết chén, dĩa, ly, tách của chúng tôi trong bồn, rồi sau đó
mới tới phiên chúng. Dù sau đi nữa, mỗi khi tôi bắt gặp
dĩa đồ ăn của chúng trong bồn là tôi rất bực mình, và
tôi phản ứng ngay.
Trước
hết là tôi nổi giận. Rồi sau đó cơn giận trở nên có
tính cách cá nhân hơn, tôi chỉa hướng nó về bất cứ ai
mà tôi nghĩ là thủ phạm, thường thường là vợ tôi. Tôi
cảm thấy bị tổn thương vì nhà tôi không tôn trọng ý muốn
của tôi. Tôi bảo nhà tôi biết bao nhiêu lần và yêu cầu
thật nhẹ nhàng, nhưng chuyện ấy vẫn xảy ra. Vợ tôi nghĩ
rằng hành động của tôi tức cười và hơi quá lố, và khi
nhà tôi xin thêm chút thì giờ để giải quyết, thì nàng cứ
để cho dĩa đồ ăn của mèo nằm ngâm trong bồn rửa chén.
Mỗi
khi tôi bắt gặp đồ ăn của mèo trong bồn là cuộc tranh
luận leo thanh nhanh chóng thành một cuộc cãi vã dữ dội.
Phần lớn vì tôi cảm thấy tức giận và tổn thương, và
trên hết cơn giận "của tôi" và cái đau "của tôi" rất là
chánh đáng, vì tôi biết rằng "tôi" đúng. Ðồ ăn của mèo
không thể nào để chung trong bồn rửa chén được! Mỗi khi
việc ấy xảy ra, cái Ngã ở trong tôi trở nên mạnh vô cùng.
Lúc
sau này tôi để ý thấy ràng, vấn đề ấy không còn chi phối
tôi nhiều như xưa nữa. Mặc dù tôi không hề cố gắng thay
đổi cách xử sự của mình đối với việc ấy. Tôi vẫn
có cùng một cảm nghĩ đó đối với đồ ăn của mèo, nhưng
tôi cũng đã nhìn sự việc dưới một ánh mắt khác, với
một ý thức rộng lớn hơn và một tinh thần cởi mở hơn.
Bây giờ mỗi khi nó xảy ra, vẫn còn làm tôi bực mình, nhưng
tôi thấy có chánh niệm về phản ứng của mình trong giây
phút ấy và theo dõi nó. "Thì chỉ có vậy thôi", tôi tự nhắc
nhở mình!
Tôi
quan sát cơn giận mỗi khi nó bắt đầu khởi lên trong tôi.
Tôi thấy rằng thường thường nó bắt đầu bằng một cảm
giác bất mãn nhẹ. Sau đó tôi nhận thấy có một cảm tưởng
bị phản bội khuấy động lên khá mạnh. Người trong gia
đình đã không tôn trọng lời yêu cầu của tôi, và tôi thấy
cá nhân mình bị xúc phạm. Dù sau đi nữa tình cảm của tôi
phải được người trong gia đình để ý đến chứ, phải
không?
Tôi
đã thử nghiệm với những phản ứng của mình lúc đứng
bên chậu rửa chén, bằng cách theo dõi chúng cẩn thận, mà
không để bị sai xử. Tôi có thể nói rằng, cảm giác bất
mãn ban đầu không đến nỗi tệ lắm và nếu tôi ở với
nó, thở với nó, và cho phép mình thật sự cảm nhận, nó
sẽ biến mất trong vòng đôi ba phút. Tôi cũng ghi nhận rằng,
chính cảm giác bị phản bội, và ước muốn của tôi bị
ngăn trở, những việc ấy đã làm tôi tức giận hơn là chuyện
đồ ăn của mèo. Vì vậy, tôi khám phá là thật ra không phải
đồ ăn mèo là nguồn gốc của cơn giận. Vì tôi cảm thấy
mình không được người khác lắng nghe và tôn trọng. Buồn
cười thay, nó không có liên hệ gì đến đồ ăn của mèo
như tôi nghĩ!
Và
tôi nhớ rằng vợ con tôi nhìn vấn đề này dưới một ánh
mắt rất khác. Họ cho là tôi chỉ làm lớn chuyện chẳng
ra gì. Họ sẽ có gắng tôn trọng ước muốn của tôi khi
nào họ cảm thấy nó hợp lý, còn những khi khác họ cứ
việc làm theo ý họ, có lẽ chẳng nghĩ gì đến tôi.
Và
tôi cũng thôi xem đó là một việc có tính cách cá nhân. Khi
nào tôi thật sự không muốn thấy đồ ăn của mèo trong bồn,
thì tôi xắn tay áo lên và rửa hết chén bát ngay lúc ấy.
Còn bằng không tôi cứ bỏ đó và đi nơi khác. chúng tôi
không còn phải cãi lẫy về vấn đế ấy nữa. Sự thật
là nhiều khi tôi còn mỉm cười mỗi khi bắt gặp chuyện
ấy xảy ra. Dù sao đi nữa, nó cũng đã dạy tôi rất nhiều.
Thực
tập: Hãy quan sát phản ứng của bạn trong những trường
hợp làm bạn bực mình hoặc nổi cơn giận. Ghi nhận rằng,
ngay cả khi ta nói về một việc gì có thể làm mình nổi
giận, là ta đã giao quyền hành của mình cho kẻ khác. Những
trường hợp đó là một cơ hội rất tốt để ta kinh nghiệm
chánh niệm như là một cái nồi, ta có thể bỏ mọi cảm
tình của mình vào và có mặt với chúng, để cho chúng được
nấu từ từ, tự nhắc nhở là ta được chín hơn, dễ tiêu
hóa hơn, dễ hiểu hơn, ta chỉ cần giữ yên chúng trong chiếc
nồi của chánh niệm.
Quan
sát những trường hợp mà cảm thọ ta là sản phẩm của
quan điểm của mình về sự vật, và rất nhiều khi quan điểm
ấy lại không được trọn vẹn. Bạn có thể nào để cho
một vấn đề được tự nhiên, không cần bắt buộc mình
phải là đúng hoặc sai? Bạn có kiên nhẫn và can đảm đủ
để thử bỏ những cảm thọ mạnh hơn rồi mạnh hơn nữa
vào nồi, giữ chúng yên trong đó và nấu cho chin, thay vì phóng
chiếu chúng ra bên ngoài và bắt thế giới này phải giống
như là mình muốn bây giờ? Bạn có thấy rằng sự tu tập
này có thể giúp bạn tự hiểu mình qua những lối khác nhau,
và giải thoát ta ra được khỏi những quan điểm nhỏ hẹp
và cũ kỹ?
20.-
LÀM CHA MẸ LÀ MỘT SỰ TU TẬP
A.-
Tôi bắt đầu học thiền vào năm mình được hai mươi mấy
tuổi. Những ngày ấy tôi có nhiều thời giờ, tôi có thể
tham dự đều đặn những khóa tu thiền kéo dài mười ngày
hoặc hai tuần. Trong những khóa tu này, mỗi ngày các thiền
sinh chỉ biết lo ngồi thiền và đi kinh hành trong chánh niệm,
xen vào bằng những buổi ăn chay, hoàn toàn trong thinh lặng.
Chúng tôi được hướng dẫn bởi những vị thiền sư nhiều
kinh nghiệm, mỗi tối các ngài ban cho những bài pháp thoại,
giúp thiền sinh đào sâu và mở rộng thêm sự tu tập của
mình. Và thỉnh thoảng các vị ấy cũng gặp gở riêng mỗi
người để xem sự tu tập của chúng tôi tiến triển ra sao?
Tôi
rất yêu thích những khóa tu này, vì nó giúp tôi gác lại
hết những việc khác trong đời sống, đi đến một nơi tươi
mát và thanh tịnh ngoài miền quê, được chăm sóc, và sống
một cuộc đời vô cùng giản dị và trầm lặng. Nơi đây
chương trình chánh của tôi chỉ có tu tập, tu tập và tu tập.
Nhưng
bạn đừng nghĩ rằng nó là dễ. Thường thì tôi phải chịu
đựng nhiều cơn đau ở thân vì phải ngồi yên trong nhiều
giờ, và không có gì có thể so sánh được với cái đau tinh
thần mà đôi khi khởi lên những lúc tâm và thân mình trở
nên yên lặng và ít bận rộn.
Khi
chúng tôi quyết định có con, tôi biết rằng tôi phải gác
chuyện đi tu tập lại, ít nhất là trong một thời gian. Tôi
tự dặn lòng, lúc nào tôi cũng có thể trở lại khung cảnh
thanh tịnh tu học ấy, khi con tôi trưởng thành đủ để không
cần đến mình nữa. Hình ảnh một ông già trở về đời
sống tu viện bao giờ cũng mang một nét rất thơ mộng. Viễn
tượng là mình sẽ từ giả những khóa tu, hay ít nhất cũng
sẽ phải bớt lại nhiều, không làm tôi phiền muộn gì, mặc
dù tôi rất yêu quý chúng. Tôi quyết định rằng mình có
thể xem việc có con như là một khóa tu thiền vậy, mà thật
ra thì nó có đủ hết những yếu tố của một khóa tu, trừ
ra sự thinh lặng và giản dị.
Ðối
với tôi thì như thế này: Ta có thể xem mỗi đứa bé như
là một em bé Phật hay một vị thiền sư, một vị thầy chánh
niệm dạy riêng cho mình. Vị thầy ấy xuất hiện vào cuộc
đời ta, mà sự hiện diện và hành động của ngài bảo đảm
sẽ thử thách cũng như thử thách hết mọi niềm tin và giới
hạn của ta, mang lại những cơ hội giúp ta thấy được những
vướng mắc của mình để buông bỏ. Mỗi đứa bé sẽ ban
cho ta một khóa tu kéo dài ít nhất là mười tám năm, mà không
thể nào bỏ về ngang được. Chương trình của khóa tu thì
rất là nghiêm khắc và luôn luôn đòi hỏi ở ta một thái
độ hy sinh và từ ái. Cuộc đời của tôi trước khi có con
chỉ cần lo cho những nhu cầu và ước muốn cá nhân, hoàn
toàn bình thường đối với một thanh niên. Trở thành bậc
cha mẹ rõ ràng là một thay đổi lớn lao nhất trong cuộc
đời tôi cho đến ngày hôm nay. Làm tròn bổn phận cha mẹ
của mình đòi hỏi một cái thấy sáng suốt nhất, biết để
cho những sự việc như - là, cũng như một sự buông bỏ lớn
lao nhất mà tôi chưa bao giờ bị thử thách.
Ví
dụ, những đứa bé lúc nào cũng cần và đòi hỏi sự chăm
sóc của ta. Những nhu cầu của chúng phải được thỏa mãn
đúng theo chương trình của chúng, không phải của ta, và mỗi
ngày, chứ không phải chỉ khi nào ta cảm thấy thích. Quan
trọng hơn hết, những đứa bé và trẻ thơ rất cần sự
có mặt trọn vẹn của ta để có thể phát triển và lớn
lên mạnh mẽ. Chúng cần sự bồng ẵm càng nhiều càng tốt,
ru hát, đùa giởn, vỗ về của ta, đôi khi trong những đêm
khuya khoắt hay sáng sớm, khi ta cảm thấy mệt nhoài, kiệt
sức chỉ muốn ngả lưng xuống giường, hoặc khi ta có những
bổn phận, công việc gấp rút và quan trọng khác cần đến
sự chú ý của mình. Những nhu cầu sâu xa và luôn thay đổi
của đứa bé là những cơ hội tuyệt vời để cho bậc cha
mẹ tập có mặt trọn vẹn trong chánh niệm, thay vì hoạt
động như một người máy. Chúng ta phải biết cảm nhận
được sự sống của mỗi đứa bé, và để cho sự linh hoạt,
sống động và ngây thơ của chúng khơi dậy những điều
ấy ở nơi ta. Tôi cảm thấy rằng, làm cha mẹ là một cơ
hội tuyệt vời để tu tập chánh niệm thâm sâu, nếu tôi
có thể cho phép gia đình và con cái tôi trở thành những vị
thầy của mình, cũng như biết học hỏi và lắng nghe cẩn
thận những bài học của cuộc sống, mà chúng sẽ đến rất
nhanh và rất mãnh liệt.
Cũng
như những khóa tu nhiều ngày, ta sẽ có những thời gian thoải
mái và những thời gian khó khăn, những giây phút kỳ diệu
và những giây phút đau đớn. Cuối cùng, cái nguyên lý đem
đời sống làm cha mẹ như một khóa tu, và tôn trọng những
đứa bé và hoàn cảnh gia đình như là vị thầy của mình
đã tự chứng minh được giá trị cũng như địa vị của
nó, hết lần này đến lần khác. Làm cha mẹ là một công
việc rất cực nhọc. Ngày xưa, đó là một công việc đủ
cho mười người làm, mà thường thì chỉ có hai người, hoặc
nhiều khi chỉ có một để cáng đáng mà thôi, và không có
sách vở nào kèm theo với đứa bé để hướng dẫn ta cách
săn sóc. Ðây là một công việc khó nhất trên trái đất
này, để ta có thể làm cho đúng, cho hay. Mà phần nhiều ta
cũng không biết mình có làm đúng không, hoặc làm đúng, làm
hay có nghĩa là thế nào! Và chúng ta cũng không có một ai
được chuẩn bị trước hoặc huấn luyện để làm cha mẹ
hết, chỉ có sự tự học trong khi thực hành, khi phải đối
diện với chuyện này chuyện kia xảy ra.
Ban
đầu chúng ta cũng còn có được một vài cơ hội quý báu
để tạm nghỉ ngơi trong chốc lát. Nhưng rồi công việc sẽ
đòi hỏi sự đối phó thường xuyên của ta. Những đứa
bé lúc nào cũng thử thách mức giới hạn của ta, để học
hỏi, tìm hiểu thế giới chung quanh cũng như về chính nó.
Và còn thêm nữa, khi những đứa bé phát triển và tăng trưởng,
chúng sẽ thay đổi. Khi ta vừa tìm ra phương cách tốt đẹp
để đối phó với một hoàn cảnh nào đó, thì chúng cũng
đã thay đổi, chuyển sang một trường hợp mới mà ta chưa
từng gặp bao giờ. Vì vậy lúc nào ta cũng phải giữ chánh
niệm và có mặt để tránh khỏi bám víu vào một quan điểm
đã không còn thích hợp nữa. Và dĩ nhiên, không có một quy
tắc hay công thức đơn giản nào là duy nhất để xử sự
cho "đúng" trong thế giới làm cha mẹ. Nó có nghĩa là lúc
nào ta cũng phải đối diện với những hoàn cảnh thử thách
và hoàn toàn mới lạ, và cùng một lúc, ta cũng sẽ đối
diện với những việc làm lập đi lập lại hết lần này
sang lần khác.
Công
việc làm cha mẹ sẽ còn nhiều thử thách hơn nữa, khi những
đứa bé trưởng thành và phát triển ý kiến cũng như ý muốn
riêng của chúng. Chăm sóc cho những nhu cầu của đứa bé
là một chuyện rất là đơn giản, nhất là khi chúng chưa
biết nói và thật dễ thương đáng yêu. Còn đối phó với
những đứa lớn hơn một chút, không còn mấy dễ thương
và đáng yêu, là một chuyện khác hẵn. Trong trường hợp
này ta phải biết nhìn cho rõ và đáp ứng bằng một sự thông
minh, vì dù sau đi nữa ta cũng là người lớn, và lúc nào
cũng sẽ có một sự va chạm giữa hai ý muốn, chúng có thể
tranh luận loanh quanh, chọc ghẹo nhau, đánh lộn, chống đối,
cãi lời, đối phó với những hoàn cảnh cần sự hướng
dẫn của ta, mặc dù có thể chúng sẽ không thèm nghe theo.
Nói tóm lại, nó cần một sự đối phó thường xuyên mà
ta sẽ không còn thì giờ cho chính mình nữa. Những trường
hợp ta cảm thấy sự điềm tĩnh cũng như sự sáng suốt của
mình bị "đảo lộn" thì nhiều vô số. Không có một lối
thoát nào, một chỗ trốn nào, một sự che dấu nào có thể
giúp ích cho mình hoặc cho chúng được. Những đứa con sẽ
nhìn thấy hết tất cả những gì là của ta, từ sát bên
trong và rất cận kề, như là những nhược điểm, cách cư
xử, lỗi lầm, mâu thuẫn và những thất bại của ta.
Nhưng
những khó khăn ấy không phải là chướng ngại cho việc làm
cha mẹ hoặc sự tu tập chánh niệm của ta. Chúng chính là
sự tu tập chánh niệm, nếu ý thức được điều đó. Bằng
không, đời sống làm cha mẹ có thể trở nên một gánh nặng
mệt mỏi, và vì thiếu sức mạnh và mục tiêu rõ rệt, ta
có thể không thấy được và tôn trọng những cái hay đẹp
trong con cái mình cũng như là trong ta. Những đứa trẻ có
thể dễ bị thương tích và mất đi tuổi thơ, nếu nhu cầu
và tâm hồn đáng yêu của chúng bị chối bỏ liên tục và
không được biết đến. Những thương tích ấy sẽ tạo thêm
vấn đề cho chúng và cho cả gia đình, như là sự thiếu tự
tin, thiếu tự trọng, không có khả năng truyền thông và tranh
đua. Những khó khăn ấy sẽ không biến mất khi chúng lớn
lên mà nhiều khi lại còn gia tăng thêm. Và là bậc cha mẹ,
chúng ta lại không biết cởi mở để thấy những dấu hiệu
của sự thương tích ấy, và vì vậy ta không thể nào chữa
lành những vết thương xuất phát từ hành động thiếu ý
thức của ta. Cũng có khi nó rất là tinh tế, ta có thể dễ
dàng trốn tránh và đổ thừa cho một nguyên do khác, rồi
từ đó không chịu nhận lãnh những trách nhiệm thật sự
là của mình.
Rõ
ràng là khi bấy nhiêu năng lượng của ta tuôn ra bên ngoài,
chắc chắn phải có một nguồn năng lượng nào đó thỉnh
thoảng đổ vào bên trong, thì mới có thể nuôi dưỡng và
làm hồi sinh lại những bậc cha mẹ. Nếu không thì quá trình
ấy sẽ không thể nào duy trì lâu dài được. Nhưng nguồn
năng lượng ấy phát xuất từ đâu? Tôi nghĩ nó đến từ
hai nơi: nhờ sự giúp đở ở bên ngoài từ người thân, bạn
bè, nhà giữ trẻ và thỉnh thoảng từ những việc làm mà
mình ưa thích; và nguồn năng lượng từ bên trong mà ta có
thể có được nhờ thực hành thiền tập, nếu ta có thể
bỏ ra chút thì giờ trong cuộc sống để giữ thanh tĩnh, để
có mặt, để ngồi lại, hoặc tập Yoga, để tự nuôi dưỡng
mình.
Tôi
ngồi thiền vào mỗi sáng sớm, vì đây là thời gian tất
cả nhà đều yên tĩnh và tôi không bị ai quấy rầy, và cũng
vì nếu tôi không ngồi thiền lúc ấy, thì có thể tôi vì
quá bận rộn hoặc mệt mỏi mà sẽ không muốn ngồi nữa.
Tôi cũng còn khám phá ra rằng, ngồi thiền vào buổi sáng
sớm sẽ quyết định cho phẩm chất của trọn ngày. Nó sẽ
là một sự nhắc nhở cũng như một sự xác nhận cho những
gì thật sự quan trọng trong đời sống, và nó sắp đặt
cho chánh niệm có thể lan rộng sang những lãnh vực khác trong
ngày.
Nhưng
khi chúng ta có con nhỏ trong nhà thì buổi sáng sớm cũng chỉ
như mọi thời gian khác mà thôi. Ta không thể cố chấp vào
bất cứ một chuyện gì, vì việc nào ta muốn làm dù đã
sắp đặt chu đáo đến mấy, cũng sẽ bị gián đoạn và
đôi khi còn phải hoàn toàn bị bỏ dỡ. Những đứa con nhỏ
của tôi ngủ rất ít. Dường như lúc nào nó cũng thức rất
khuya và lại dậy thật sớm, nhất là nếu hôm ấy tôi quyết
định sẽ ngồi thiền. Hình như chúng rình xem nếu tôi dậy
thì chúng cũng sẽ thức dậy theo. Có ngày tôi phải thức
dậy vào bốn giờ sáng mới có thể yên ổn ngồi thiền hoặc
tập Yoga. Có những hôm tôi quá mệt mỏi, bỏ hết và thấy
rằng chỉ có giấc ngủ mới quan trọng hơn cả. Và cũng có
khi tôi ngồi thiền với đứa con trong lòng mình, và để cho
chúng quyết định tôi sẽ ngồi được bao lâu. Chúng nó rất
thích được quấn mình trong chiếc mền ngồi thiền, chỉ
có cái đầu nhỏ lú ra, nhiều khi chúng ngồi yên rất lâu,
trong khi tôi theo dõi hơi thở vào ra không phải của riêng
tôi mà là của cả hai đứa.
Ngày
ấy tôi tin rằng, và bây giờ cũng thế, sự chánh niệm về
thân và hơi thở của tôi, và sự xúc chạm trong khi ôm đứa
con trong lòng, giúp nó cảm nhận được sự an ổn, cũng như
khám phá được sự tĩnh lặng và một cảm giác được chấp
nhận. Và sự thanh thản của chúng, chắc chắn là trong sạch
và chân thật hơn tôi nhiều, vì tâm chúng chưa bị bận rộn
bởi những ý nghĩ, lo lắng của người lớn, giúp tôi trở
nên an ổn hơn, thanh thản hơn và có mặt hơn. Khi chúng lớn
hơn một chút, tôi có thể tập Yoga trong khi chúng cởi trên
lưng, leo lên vai hoặc đu đưa trên tay tôi. Có khi đùa giởn
trên sàn nhà, chúng tôi tình cờ khám phá ra thêm những tư
thế Yoga mới cho cả hai cùng tập. Sự đùa giởn thực tập
không ngôn từ và trong chánh niệm này là một nguồn vui và
hạnh phúc lớn cho tôi, một người cha, và là một mối liên
hệ sâu sắc mà chúng tôi cùng chia xẻ.
Khi
những đứa con của mình càng lớn bao nhiêu, chúng ta lại
càng quên đi rằng chúng là những vị thiền sư bấy nhiêu.
Sự thực tập giữ chánh niệm, không phản ứng, và thấy
rõ phản ứng của mình, sẽ càng lúc càng trở nên khó khăn
hơn, khi ta dần dà mất đi tiếng nói của mình trong cuộc
đời của chúng. Những thói quen, tập quán xa xưa lại bừng
sống dậy thật mạnh mẽ, trước khi tôi kịp có ý thức
về chúng. Kiểu mẫu về một người đàn ông trong gia đình,về
thẩm quyền, làm sao thể hiện được quyền hành của mình,
hạnh phúc của tôi trong gia đình ra sao, những mối tương
quan giữa mọi người của mọi lứa tuổi và nhu cầu của
họ... Mỗi ngày là một sự thử thách mới. Có lúc tôi cảm
thấy mình bị tràn ngập, nhưng cũng có lúc rất là cô đơn.
Chúng ta cảm thấy có một hố sâu càng lúc càng mở rộng.
Dù biết rằng sự cách biệt ấy là cần thiết cho sự trưởng
thành và khám phá của đứa bé, dù biết rằng sự kiện ấy
là lành mạnh, nhưng ta vẫn cảm thấy đau đớn. Ðôi khi tôi
quên rằng mình là người lớn và hành động như một đứa
con nít. Mấy đứa con của tôi đã nhắc nhở và đánh thức
tôi dậy rất nhanh, những khi chánh niệm của mình bị lơ
là.
Làm
cha mẹ và đời sống gia đình là một môi trường tuyệt
vời cho sự thực tập chánh niệm. Nhưng nó không phải dành
cho những người yếu đuối, ích kỷ, lười biếng hoặc mơ
mộng không thực tế. Làm cha mẹ là một tấm gương bắt
ta phải tự soi lấy chính mình. Nếu bạn có thể học được
từ những gì mình thấy, bạn sẽ có một cơ hội rất tốt
để tiến triển.
Một
khi ta đã hiểu và chấp nhận rằng dù giữa hai người gần
gũi nhau nhất cũng đang có mặt những khoảng cách vô tận,
chúng ta sẽ có thể có một cuộc sống kỳ diệu bên nhau,
nếu ta biết yêu quý cái khoảng cách giữa hai người ấy,
vì nó giúp mỗi người có thể nhìn thấy được người kia
một cách toàn vẹn trên nền trời.
Rainer
Maria Rilke, Letters
Muốn
đạt được một sự trọn vẹn đòi hỏi ta phải bỏ ra cả
con người của mình. Không có thể ít hơn thế được, không
có một điều kiện nào dễ hơn, không có một sự thay thế
nào, cũng không có thể mặc cả được C. G. Jung
Thực
tập: Nếu bạn là bậc cha mẹ, hoặc ông bà, hãy thử tập
xem con cháu mình như là những vị thầy. Ðôi khi nên quan sát
chúng trong thinh lặng. Lắng nghe chúng cẩn thận hơn. Ðọc
những tác động của chúng.Ðánh giá tính tự trọng của
chúng bằng cách theo dõi thái độ của chúng, chúng vẽ những
hình ảnh gì, nhìn thấy gì, xử sự như thế nào. Nhu cầu
của chúng trong giây phút này là những gì? Trong thời gian
này trong ngày là gì? Ở giai đoạn này của cuộc đời chúng
là những gì? Hãy tự hỏi: "Ta có thể giúp ích gì cho chúng
được?". Rồi theo sự hướng dẫn của con tim mình. Và bạn
nên nhớ rằng, lời khuyên răn của bạn là điều cuối cùng
mà chúng muốn nghe, trừ khi đúng lúc, đúng thời và nếu
bạn khéo léo. Bạn hãy lúc nào cũng có mặt trọn vẹn, cởi
mở và có mặt, những điều đó là món quà rất lớn cho
chúng. Và ôm chúng trong chánh niệm cũng rất là bổ ích.
B.-
Lẽ dĩ nhiên, ta cũng là một vị thầy rất quan trọng trong
cuộc đời của những đứa con mình như chúng là thầy của
ta vậy. Và ta nhận lãnh trách nhiệm này bằng cách nào sẽ
ảnh hưởng rất lớn cho cuộc đời của chúng, cũng như là
của chính ta. Tôi nghĩ rằng làm cha mẹ là làm một người
giám hộ, theo nghĩa rộng, nhưng chỉ tạm thời mà thôi. Khi
ta xem con cái như là "của mình", và hành xử chúng như là
những sở hữu, để kiểm soát và uốn nắn theo nhu cầu của
ta, thì tôi tin rằng chúng ta đang có một vấn để rất lớn.
Dù muốn dù không thì những đứa trẻ bao giờ cũng vẫn chính
là chúng, mặc dù chúng cần tình thương và sự hướng dẫn
của ta để có thể trở thành một con người toàn vẹn. Một
người giám hộ hoặc người hướng dẫn giỏi cần rất nhiều
trí tuệ và kiên nhẫn để có thể trao lại cho thế hệ kế
tiếp những gì thật sự là quan trọng. Có một số người
- trong đó có tôi - cần phải có một chánh niệm liên tục
và sự thương yêu, để có thể bảo vệ và nuôi dưỡng những
đứa bé trong khi chúng phát triển sức mạnh, quan điểm và
tài năng của chúng, trên một con đường mà sau này tự chúng
có thể khám phá thêm thâm sâu hơn.
Có
những người rất ham thích phương pháp thiền tập, và họ
rất muốn dạy cho con mình cách ngồi thiền. Ðiều này cũng
có thể là một lỗi lầm lớn. Ðối với tôi thì phương
pháp hay nhất để truyền trao tuệ giác, phương pháp thiền
tập, hay bất cứ cái gì cho con mình, nhất là khi chúng còn
bé thơ, là tự mình phải sống đúng như thế: tự thể hiện
những gì mình muốn truyền trao và im miệng lại. Vì khi ta
càng nói về thiền tập bao nhiêu, càng ca tụng bao nhiêu, hoặc
là khăng khăng bắt chúng phải làm theo, là ta càng khiến cho
chúng ghét bỏ nó bấy nhiêu, có khi là trọn đời. Những
đứa trẻ sẽ cảm nhận được sự vướng mắc của ta, một
thái độ ép buộc và muốn thực hiện những niềm tin của
riêng ta, chứ không phải là của chúng. Chúng biết con đường
ấy là của ta chứ không dính dáng gì đến chúng. Và khi lớn
lên, chúng có thể sẽ nhận thấy nơi đó một sự giả tạo,
một khoảng cách rất xa giữa những gì ta nói và những gì
ta làm.
Nếu
bạn thật sự thực hành thiền tập, chúng sẽ ý thức và
nhận thấy điều ấy, và sẽ chấp nhận đó như là một
phần của cuộc sống, như một sinh hoạt thường ngày. Ðôi
khi những đứa bé cũng sẽ tập tành và bắt chước những
hành động khác của cha mẹ mình. Ðiều quan trọng là sự
ham muốn học hỏi và thực hành thiền tập phải được bắt
đầu phần lớn từ nơi chúng, và được thực hiện theo mức
độ ưa thích của chúng.
Một
sự truyền dạy chân thật thường thường không cần đến
ngôn ngữ. Những đứa con tôi đôi khi tập Yoga chung, vì chúng
thấy tôi tập đều đặn. Nhưng nhiều khi chúng có những
công chuyện khác quan trọng hơn và cũng chẳng thèm ngó ngàng
gì đến. Chuyện ngồi thiền cũng thế. Nhưng chúng biết về
thiền tập. Chúng có ý niệm thế nào là thiền tập. Chúng
cũng biết tôi tôn trọng và chính mình thực hành việc ấy.
Và khi nào muốn, chúng cũng sẽ biết cách ngồi thiền vì
đã từng ngồi với tôi từ thuở còn bé.
Nếu
thật sự tu tập, bạn sẽ khám phá ra rằng, đôi khi cũng
có những lúc thích hợp để ta khuyên dạy con mình về chuyện
thiền tập. Những lời khuyên ấy có thể có hiệu quả, cũng
có thể là không, nhưng chúng sẽ gieo trồng những hạt giống
cho sự đâm hoa kết trái sau này. Một trong những trường
hợp tốt là khi con chúng ta đang gặp chuyện sợ hãi hoặc
cảm thấy khó ngủ. Ðừng bao giờ làm quá lố, nhưng bạn
có thể dạy cho chúng quan sát hơi thở, chậm lại một chút,
tưởng tượng như đang thả trên một chiếc thuyền nhỏ trôi
trên những ngọn sóng, theo dõi nỗi sợ hoặc cái đau, dùng
trí tưởng tượng để "đùa chơi" với hoàn cảnh, rồi nhắc
nhở chúng rằng đó chỉ là những hình ảnh trong đầu mà
thôi, cũng giống như một cuộn phim vậy. Và chúng có thể
thay đổi truyện phim, ý nghĩ, hình ảnh, màu sắc, và có thể
sẽ cảm thấy vui vẻ trở lại nhanh chóng hơn và tự tin hơn.
Ðôi
khi phương pháp này có hiệu quả đối với những đứa trẻ
chưa đến tuổi đi học, đến lúc năm, sáu hoặc bảy tuổi,
có thể chúng sẽ cảm thấy mắc cở hoặc cho đó là vớ
vẩn. Nhưng giai đoạn ấy cũng sẽ qua, và rồi có lúc chúng
sẽ cảm thấy thích hợp trở lại. Dù sau đi nữa thì những
hạt giống cũng đã được gieo trồng, dạy cho chúng biết
rằng có những con đường nội tâm để đối phó với sự
sợ hãi và đau đớn, và thường khi chúng sẽ trở lại với
sự hiểu biết này sau khi đã lớn lên. Chúng học được
từ một kinh nghiệm trực tiếp là mình không phải chỉ là
ý nghĩ và cảm thọ mà thôi. Và điều ấy sẽ giúp cho chúng
có được thêm nhiều sự chọn lựa, để tham dự và ảnh
hưởng đến kết quả của những hoàn cảnh khác nhau. Chúng
hiểu rằng, vì tâm người khác náo động, nó không có nghĩa
là tâm của ta cũng sẽ phải giống như thế.
21.-
MỘT VÀI CẠM BẪY TRÊN ÐƯỜNG
Nếu
bạn đi theo con đường tu tập chánh niệm, trở ngại lớn
lao nhất trên đường hành trình ấy chắc chắn sẽ là cái
tâm suy nghĩ của bạn.
Ví
dụ, sẽ có những lúc bạn nghĩ rằng mình đã đạt đến
một trình độ nào đó, nhất là khi bạn có được những
giây phút an lạc, có thể đã vượt quá những kinh nghiệm
thông thường. Bạn có thể mang trong đầu ý nghĩ, hoặc đôi
khi phát biểu rằng, mình đã đạt được cái gì rồi, rằng
phương pháp thiền tập đã có hiệu quả. Cái Tôi của ta
bao giờ cũng cũng muốn xác nhận và tuyên dương những cảm
giác đặc biệt và sự hiểu biết mới ấy, bất cứ chúng
là gì. Khi việc ấy xảy ra,ta không còn thực hành thiền tập
nữa, mà ta đang trưng bày, quảng cáo. Chúng ta rất dễ bị
dính mắc vào nơi đây lắm, xử dụng thiền tập để nuôi
dưỡng cái tánh tự kiêu của mình.
Một
khi bị vướng mắc, ta sẽ không còn nhìn thấy sự vật được
rõ ràng. Dù là một tuệ giác trong sáng, một khi đã bị ảnh
hưởng bởi thứ suy nghĩ tự kỷ này, nó sẽ bị lu mờ thật
mau chóng và mất đi tính chân thật. Thế cho nên, ta lúc nào
cũng phải tự nhắc nhở rằng, mọi thứ tô màu cho cái "Tôi"
và "của Tôi" chỉ là những dòng nước lũ của tư tưởng,
chúng có thể cuốn ta trôi xa con tim mình và sự tinh khiết
của một kinh nghiệm trực tiếp. Sự nhắc nhở này sẽ giữ
cho chánh niệm luôn có mặt với ta, vào nhất lúc ta cần đến
nó và có thể đang sống trong quên lãng. Nó giữ cho ta nhìn
thật sâu, với một tinh thần quán xét và tò mò chân thật,
lúc nào cũng tự hỏi: "Ðây có nghĩa là gì?"
Và
cũng có thể đôi khi ta nghĩ rằng, sự tu tập của mình chẳng
đi đến đâu. Không có việc gì ta mong muốn xảy ra, mà lại
xảy ra. Nó có một cảm giác vô vị và chán chường. Và ở
đây cũng thế, vấn đề là ở sự suy nghĩ của ta. Thật
ra không có gì là sai với chuyện ta cảm thấy vô vị, chán
chường hoặc chẳng đi đâu hết. Cũng như không có gì sai
với cảm nghỉ là ta đã đạt được một cái gì, mà thật
ra có thể là sự tu tập của ta đã có những dấu hiệu vững
vàng và thâm sâu hơn. Cạm bẫy là ở chỗ khi ta đem thổi
phồng những kinh nghiệm và ý nghỉ ấy lên, và bắt đầu
tin chúng là đặc biệt. Chỉ khi nào ta bị vướng mắc vào
kinh nghiệm của mình thì sự tu tập của ta mới bị đứng
dừng lại và sự sống của ta cũng sẽ bị khô cứng theo.
Thực
tập:Khi nào bạn nghĩ rằng mình đang tiến bộ hoặc mình
chẳng đi đến đâu, bạn có thể tự hỏi những điều này:
"Tôi phải đạt được đến đâu?", "Ai là người phải đạt
được một điều gì?", "Tại sao lại có những trạng thái
tâm thức mà ta khó có thể chấp nhận và có mặt hơn những
trạng thái tâm thức khác?", "Tôi có thật sự thực tập chánh
niệm trong giây phút hiện tại không, hay chỉ là bị dính
mắc trong hình thức tu tập, rồi nhận lầm hình tướng với
thực chất của nó?". "Tôi có xử dụng thiền tập như một
phương tiện không?"
Những
câu hỏi này có thể giúp bạn cắt xuyên qua được những
trạng thái bị dính mắc ấy, những thói quen vô ích, và những
cảm xúc mạnh khống chế sự tu tập của ta. Chúng có thể
đem ta trở lại với sự tươi mát và cái đẹp chân thật
của mỗi giây phút. Có lẽ bạn đã quên hoặc không hiểu
được rằng, thiền tập là một hoạt động của con người
mà trong đó ta không cần phải đạt đến một nơi nào hết,
chỉ đơn giản cho phép ta được có mặt ở tại đây và
như ta đang là. Ðây là một liều thuốc đắng, nhất là khi
bạn không hài lòng với những gì đang xảy ra hoặc nơi chốn
mình đang có mặt. Nhưng đôi khi ta cần phải uống toa thuốc
đắng ấy.
22.-
CHÁNH NIỆM CÓ PHẢI LÀ TÂM LINH KHÔNG
Nếu
bạn tra chữ tâm linh (spirit) trong tự điển, bạn sẽ thấy
nó bắt nguồn từ tiếng Latin, Spirare, có nghĩa là thở. Hơi
thở vào là sự khởi đầu và hơi thở ra là sự chấm dứt.
Từ đó chúng ta có vô số những hình ảnh liên kết tâm linh
với hơi thở, như là năng lượng chủ yếu, tâm thức, linh
hồn, ơn phước bề trên, một cái gì thần thánh, thiêng liêng
và không thể diễn tả được. Nhưng chúng ta đã nhận thấy,
sự quý giá và to tát của món quà ấy có thể sẽ không bao
giờ được biết tới, nếu sự chú tâm của ta bị lôi kéo
đến một nơi chốn nào khác. Tác dụng của chánh niệm là
để đánh thức ta dậy với tính chất linh động của sự
sống trong mỗi phút giây mà ta đang có. Với chánh niệm, mọi
việc khởi đầu. Thật ra không có một việc nào lại không
nằm trong lãnh vực của tâm linh.
Tôi
luôn tránh xử dụng danh từ tâm linh được chừng nào tốt
chừng ấy. Tôithấy nó không cần thiết và cũng chẳng thích
hợp trong công việc của mình ở nhà thương, đem sự thực
tập chánh niệm vào môn y khoa và sự trị liệu, cũng như
trong những môi trường hoạt động khác của tôi, như là
với các cộng đồng thiểu số, ở nhà tù, trương học và
với những tổ chức chuyên nghiệp, thể thao gia... Tôi cũng
không thấy danh từ tâm linh thích hợp gì lắm đối với dường
lối tu tập, phát triển và đào sâu của chính tôi.
Nhưng
ta cũng không hề chối bỏ rằng, thiền tập có thể được
xem như là nền tảng của một phương pháp "tu tập tâm linh".
Chi có điều tôi không hài lòng với sự thiếu chính xác,
không hoàn toàn, và nhiều khi là lối giải nghĩa sai lầm của
danh từ ấy. Thiền tập có thể là một con đường uyên thâm
để tự phát triển, để tinh luyện quan điểm, cũng như tri
giác và tâm thức của mình. Nhưng theo tôi thấy, danh từ tâm
linh đã tạo nên nhiều vấn đề hơn là nó có thể giải
quyết.
Có
người nói về thiền tập như một "kỷ luật của tâm thức".
Tôi thích lối diễn tả đó hơn là tu tập tâm linh, vì danh
từ tâm linh có thể khơi dậy những ý niệm khác nhau tùy
theo mỗi người. Những ý niệm này dù muốn dù không, cũng
đã quấn bện vào trong niềm tin và những ước muốn nằm
sâu trong tâm thức của mình, ít khi nào ta chịu khảo sát
chúng cho kỹ. Ta đã để cho chúng ngăn cản không cho mình
phát triển hoặc tin rằng rằng mình thật sự có khả năng
ấy.
Thỉnh
thoảng cũng có những người đến gặp tôi trong nhà thương,
họ nói rằng thời gian ở trong bệnh viện chuyên khoa về
làm giảm sự căng thẳng, là một kinh nghiệm tâm linh lớn
nhất mà họ đã từng có. Tôi rất mừng khi họ cảm thấy
như vậy, vì nó xuất phát trực tiếp từ kinh nghiệm của
chính họ về thiền tập, chứ không phải từ một lý thuyết,
niềm tin hoặc một hệ thống tư tưởng nào. Tôi cho rằng
mình hiểu người ấy muốn nói gì, nhưng tôi cũng biết rằng
họ đang cố gắng diễn tả bằng ngôn từ những kinh nghiệm
nội tâm vượt ra ngoài mọi nhãn hiệu. Và tôi cũng mong ước
rằng bất cứ một kinh nghiệm hoặc tuệ giác nào, nó sẽ
tiếp tục sống, mọc rễ và tăng trưởng trong họ. Hy vọng
họ ý thức được sự tu tập không phải là để ta đi đâu
hết, dù dó là những kinh nghiệm tâm linh an lạc và thâm sâu
chăng nữa. Hy vọng họ sẽ hiểu rằng chánh niệm vượt ra
ngoài mọi ý thức, mong ước và ghét bỏ, rằng bây giờ và
ở đây là một sân khấu mà sự việc đang khai triển không
ngừng nghỉ.
Ý
niệm về tâm linh có thể giới hạn tư tưởng của ta thay
vì mở rộng nó ra. Chuyện ấy rất thông thường, vì từ
đó ta sẽ phân biệt cái này là tâm linh còn cái kia thì không.
Khoa họa có thuộc về tâm linh không? Làm cha mẹ có là tâm
linh không? Con chó có tâm linh không? Thân ta có tâm linh không?
Tâm ta có tâm linh không? Sanh con thì sao? Chuyện ăn uống có
tâm linh không? Vẽ, chơi nhạc, đi dạo, nhìn một đóa hoa
thì sao? Thở có thuộc về tâm linh không, hay là leo núi? Câu
trả lời rõ ràng là nó hoàn toàn tùy thuộc vào phương cách
tiếp xúc của ta, có chánh niệm và ý thức hay không!
Chánh
niệm cho phép mọi vật chiếu tỏa sáng như là danh từ "tâm
linh" đã gọi lên. Einstein có nói về một "cảm giác vũ trụ
tôn giáo" mà ông đã kinh nghiệm được, khi suy tư về sự
kết cấu cơ bản của thế giới vật lý. Nhà di truyền học
nổi tiếng Barbara McClintock, công trình của bà đã từng bị
khinh thường và bỏ qua trong nhiều năm, cho đến khi bà được
công nhận bằng giải thưởng Nobel vào tuổi tám mươi,có
nói về "một cảm giác đối với các sinh vật" trong một
cố gắng khám phá và tìm hiểu sự phức tạp của tính di
truyền trong cây bắp. Tôi nghĩ, cuối cùng thì tâm linh có
nghĩa là kinh nghiệm được trực tiếp sự toàn vẹn và sự
liên hệ mật thiết của mọi vật, thấy được cái một
và tất cả thể nhập vào nhau, không có một cái nào là riêng
rẽ và dư thừa. Nếu bạn có thể thấy được điều ấy
thì mọi việc đều là tâm linh theo nghĩa sâu xa nhất. Phát
triển khoa học cũng là tâm linh. Sự rửa chén cũng vậy. Chính
kinh nghiệm nội tâm mới đáng kể và bạn phải thật sự
có mặt. Những cái khác chỉ là tư tưởng mà thôi.
Nhưng
cùng một lúc bạn cũng phải cẩn thận, coi chừng khuynh hướng
tự dối lừa, tự mê hoặc, tự kiêu của mình, và những
sự thúc đẩy đi lợi dụng và sự tàn nhẫn đối với kẻ
khác. Thời đại nào cũng đã có quá nhiều khổ đau gây nên
bởi những kẻ bị dính mắc vào một quan điểm duy nhất
về cái "chân lý" tâm linh. Và còn bao nhiêu nữa được gây
ra bởi những kẻ núp sau tấm áo choàng tâm linh, sẵn sàng
hại người khác cho tham vọng của mình.
Hơn
thế nữa, ý hướng về tâm linh của ta thường bao giờ cũng
mang một màu sắc thiêng liêng hơn mọi điều khác. Những
quan điểm nhỏ nhoi còn kẹt trong chữ nghĩa này, lại hay đặt
để tâm linh lên trên những tính chất "thô lậu", "ô nhiễm",
"mê lầm" của thân, tâm và vật chất. Bị rơi vào quan điểm
ấy, người ta có thể lợi dụng danh nghĩa của tâm linh để
đi trốn tránh cuộc đời.
Trong
lãnh vực thần thoại, ý niệm về tâm linh có mang một đặc
tính hướng thượng và bốc lên, như James Hilmman và các nhà
đề xướng môn Archetypal Psychology có đề cập đến. Năng
lượng của tâm linh thăng hoa, vượt lên trên những tính chất
trần tục của thế giới này, để tiến tới một thế giới
vô sắc, đầy ánh sáng và tỏa chiếu, một thế giới không
có nhị nguyên, nơi đó mọi vật thể nhập lại làm một,
thành một vũ trụ đồng nhất. Nhưng vì sự đồng nhất không
phải là một kinh nghiệm thông thường của con người, nên
câu chuyện không hề chấm dứt ở đó. Thường thì đó gồm
có chín phần là mơ tưởng và chỉ có một phần là kinh nghiệm
trực tiếp mà thôi. Hoài bảo của một sự đồng nhất về
tâm linh, đạc biệt là ở tuổi trẻ, thường bị thúc đẩy
bởi sự ngây thơ và mơ mộng, một khao khát muốn thoát khỏi
mọi khổ đau và trách nhiệm của cuộc đời, mà trong đó
có cả sự ẩm thấp và tối tăm.
Ý
tưởng về sự siêu việt (transcendence) có thể là một sự
vượt thoát rất lớn. Ðó là lý do trong nhà Phật, đặc biệt
là Thiền tông, có nhấn mạnh về sự trở về với đời
sống thường ngày, hoàn tất một vòng tròn, hay còn được
gọi là "thỏng tay vào chợ". Nó có nghĩa là ta đứng vững
vàng ở bất cứ một nơi nào, trong một hoàn cảnh nào, không
trên cũng chẳng dưới, chỉ đơn giản có mặt nhưng thật
trọn vẹn. Trong nhà thiền có câu "Phùng Phật sát Phật, phùng
Tổ sát Tổ", là nếu ta có gặp Phật hay Tổ trên đường
thì cứ thẳng tay giết các ngài. Nó có nghĩa là bất cứ
một sự dính mắc nào trong khái niệm về Phật, về giác
ngôi cũng đều còn cách xa mục tiêu. Bạn còn nhớ bài tập
về thiền núi không? Hình ảnh ngọn núi mà ta xử dụng không
phải chỉ là một đỉnh cao cách xa mọi nền tảng của sự
sống. Nhưng nó ăn sâu vào nền tảng, đâm rễ vào đất đá,
một thái độ sẵn sàng ngồi yên và chịu đựng mọi tình
trạng thời tiết, sương mù, mưa gió, nóng, lạnh, tuyết đá,
hoặc nói theo từ ngữ của nội tâm là sự thất vọng, buồn
lo, giận dữ, bối rối và đau khổ.
Theo
tôi nghĩ, đất đá là một biểu tượng cho linh hồn (soul)
hơn là cho tâm linh (spirit). Chiều hướng của nó là đi xuống,
và hành trình của linh hồn là một biểu tượng trở xuống,
đi vào lòng đất. Nước cũng thế, là một biểu tượng của
linh hồn, thể hiện yếu tố hướng hạ như trong bài thiền
tập về mặt hồ, nước tích chứa ở những chỗ trũng thấp,
có tính cách tiếp nhận, thường là lạnh lẽo và ẩm thấp.
Cảm
nhận của linh hồn được mọc rễ trong cái nhiều hơn là
trong cái một, nó phát xuất từ một tự thể phức tạp và
mơ hồ. Nhưng câu truyện về linh hồn là những câu truyện
của một hoài bảo, của sự liều chết, của sự chịu đựng
tăm tối và đối diện với bóng đêm, của sự bị chôn vùi
dưới lòng đất hoặc đáy nước, của sự lạc lõng và đôi
khi hoàn toàn bối rối, nhưng lúc nào cũng kiên trì và bền
gan. Và chính nhờ sự bền gan ấy, cuối cùng ta cũng tiếp
xúc lại được với tự thể châu báu của mình, ta bước
ra từ bóng đêm và lòng đất tối tăm mà ta rất sợ hãi,
nhưng phải đối diện. Tự thể quý báu ấy của ta lúc nào
cũng có mặt ở đây, nhưng nó phải được khám phá lại
một lần nữa, mới tinh, qua sự trầm mình trong bóng tối
và khổ đau. Thật ra nó bao giờ cũng là của ta, cho dù người
khác hoặc chính ta có nhận thấy được hay không.
Những
câu truyện thần tiên trong mọi nền văn hoá phần nhiều là
truyện về linh hồn hơn là về tâm linh. Như người lùn trong
câu truyện "Dòng nước của sự sống" là một hình ảnh của
linh hồn. Câu truyện Cô Bé Lọ Lem cũng là truyện về linh
hồn. Trong suốt câu truyện, có một sự chuyển hóa diễn
biến trong nội tâm của nhân vật chánh, một sự trưởng
thành, một sự tôi luyện và sau đó một con người mới toàn
vẹn hơn xuất hiện. Ðó là một con người đã được phát
triển hoàn toàn, thể hiện được sự đồng nhất của linh
hồn và tâm linh, của thăng và trầm, sắc và vô sắc.
Thực
hành thiền tập tự nó là một tấm gương phản chiếu hành
trình tiến hóa và phát triển này. Nó phải trải qua biết
bao nhiêu những thăng trầm. Không những bắt ta đối diện
mà phải còn ôm chặt lấy nỗi đau và bóng tối, cũng như
hạnh phúc và ánh sáng. Nó nhắc nhở chúng ta nên xử dụng
bất cứ những gì xảy đến trong bất cứ một trường hợp
nào, như là một cơ hội để quán chiếu, để mở rộng,
để phát triển trong sức mạnh và tuệ giác, và để đi theo
con đường của chính mình.
Ðối
với tôi, những danh từ "linh hồn" và "tâm linh" là những
cố gắng để diễn tả kinh nghiệm làm người của mình,
trong khi ta cố tự tìm hiểu và đi tìm một chỗ đứng cho
mình trong cái thế giới kỳ lạ này. Không có một công trình
tâm linh chân thật nào lại có thể thiếu phần linh hồn,
cũng như không một công trình linh hồn nào lại không có phần
tâm linh. Những con quỷ dữ, con rồng hung tợn, người lùn,
bà phù thủy, hoàng tử và công chúa, ông vua, bà hoàng... trong
truyện thần tiên, tất cả những nhân vật ấy, đều đang
có mặt nơi đây, trong giờ phút này, để sẵn sàng chỉ dạy
ta. Nhưng chúng ta phải biết lắng nghe, và phải có thái độ
của bậc anh hùng, dám mang một hoài bảo lớn. Nhưng thật
ra, dù ta có ý thức được hay không, nó cũng đã thâm nhập
sâu xa vào trong cơ cấu của cuộc đời này, vì đó là sự
sống của một con người toàn vẹn. Có lẽ một việc làm
tâm linh nhất mà mỗi người chúng ta có thể làm, là nhìn
bằng chính con mắt của mình, thấy được sự toàn vẹn và
hành động với một nhân phẩm và lòng từ ái.
HẾT.