1.-
NGỒI CẠNH ÁNH LỬA HỒNG
Ngày
xưa, sau khi mặt trời lặn khuất, nguồn ánh sáng duy nhất
mà con người còn lại, ngoại trừ ánh trăng và những vì
sao lấp lánh trên cao, là lửa. Trải qua hàng triệu năm, loài
người chúng ta đã ngồi quanh những đống lửa, nhìn vào
ánh lửa bập bùng cháy, màu đỏ than hồng, với bóng tối
và không gian cô lạnh phía sau lưng. Có lẽ những phương pháp
thiền tập chính thức đã được phát xuất từ đây chăng?
Lửa
là một niềm an lạc của chúng ta, nó là nguồn gốc của
nhiệt lượng, của ánh sáng và sự bảo vệ - dù nguy hiểm,
nhưng nếu cẩn trọng, nó có thể kềm chế được. Ngồi
cạnh đống lửa sau một ngày mệt nhọc, đem lại cho ta một
sự thoải mái. Trong vùng không gian ấm áp và ánh sáng bập
bùng, chúng ta có thể kể cho nhau nghe những câu chuyện và
nói về ngày vừa qua. Hay ta cũng có thể ngồi yên, nhìn hình
ảnh trong tâm mình phản chiếu trong ngọn lửa biến đổi
không ngừng, một vùng tỏa sáng của thế giới mầu nhiệm.
Lửa làm bóng tối trở nên bớt đáng sợ, nó giúp ta cảm
thấy an ổn và bảo đảm hơn. Lửa rất đáng được tín
cẩn, nó có tác dụng làm ta yên tâm, phục hồi, trầm tư
và cũng rất thiết yếu cho sự sinh tồn của ta.
Nhưng
tiếc thay, trong cuộc sống ngày nay chúng ta đã đánh mất
đi sự thiết yếu đó, và cùng với nó là những cơ hội
để tạo nên sự tĩnh lặng cho ta. Trong thế giới xô bồ
ngày nay, những đống lửa không còn là thực tiễn nữa. Khi
hoàng hôn buông xuống, ta chỉ cần đơn giản bật lên một
công tắc đèn. Chúng ta có thể thắp sáng thế giới này lên
bao nhiêu cũng được, và rồi lại tiếp tục với những sinh
hoạt, với những bận rộn của mình. Cuộc sống ngày nay
không còn cho phép ta có thì giờ cho chính mình nữa, trừ khi
ta biết cương quyết nắm bắt nó. Chúng ta không còn bị bắt
buộc phải tạm gát lại những gì đang làm, vì trời không
còn ánh sáng... chúng ta mất đi giờ phút mỗi tối ấy để
sống chậm lại và ngưng nghỉ những sinh hoạt ban ngày. Ngày
nay, chúng ta rất hiếm còn được những cơ hội quý báu để
cho tâm mình tĩnh lặng xuống bên cạnh một đống lữa hồng.
Thay
vào đó, vào mỗi cuối ngày chúng ta ngồi chung quanh một chiếc
máy truyền hình, một năng lượng điện tử xanh yết ớt,
so với sự sáng ngời của lửa. Chúng ta chịu khuất phục
dưới sự oanh tạc tới tấp của những âm thanh và hình ảnh,
chúng phát xuất từ đầu óc của kẻ khác, và tràn ngập
tâm ta bằng những tin tức vớ vẩn, với những cuộc thám
hiểm, náo động và tham vọng của kẻ khác. Máy truyên hình
cướp mất đi phần không gian ít ỏi còn lại trong ngày của
ta, mà có thể để dành cho sự tĩnh lặng. Nó nuốt hết thời
gian, không gian và sự yên lặng của ta, là một thứ thuốc
mê đưa ta vào một trạng thái thụ động vô ý thức. Báo
chí hàng ngày cũng thế. Tự chúng không phải là xấu, nhưng
vì ta thường cho phép chúng cướp đi những giờ phút quý
báu mà ta có thể xử dụng để sống trọn vẹn hơn.
Nhưng
sự thật thì ta không cần phải đầu hàng trước những mê
hoặc, cám dỗ của những thú vui và sự ồn ào bên ngoài
như thế. Chúng ta có thể phát triển những thói quen nào có
thể giúp ta trở về tiếp xúc lại với niềm ao ước sâu
xa của mình, về một cái gì ấm áp, tĩnh lặng và an lạc.
Khi ta ngồi với hơi thở của mình, thí dụ thì đó cũng giống
như là ngồi bên một đống lửa hồng vậy. Và khi nhìn sâu
vào hơi thở, ta cũng có thể thấy được ít nhất những
gì trong ánh lửa, những phản ảnh của các ý nghĩ đang nhảy
múa trong tâm. Nó cũng tỏa ra một sức ấm. Và nếu thật
sự ta không cố gắng để đạt một điều gì hết, chỉ
đơn giản cho phép mình được có mặt nơi đây, trong giờ
phút này, như nó là, chúng ta sẽ có thể dễ dàng bắt gặp
lại được một sự tĩnh lặng cổ xưa nào đó, người ta
đã kinh nghiệm được khi ngồi bên một ánh lửa hồng.
2.-
HÒA ÐIỆU
Trong
khi tôi vừa quẹo vào bãi đậu xe của bệnh viện, trên bầu
trời đã có hàng trăm con vịt trời bay ngang qua. Chúng bay
thật cao, tôi không hề nghe tiếng kêu gọi đàn của chúng.
Ðiều đầu tiên tôi nhận thấy là rõ ràng chúng biết chúng
đang đi về đâu. Chúng bay về hướng Tây Bắc và nhiều đến
nỗi đội hình của chúng kéo dài đến tận phía trời Ðông,
khi ánh sáng bình minh tháng mười một rạng rỡ nơi chân trời.
Nhìn con vịt trời đầu tiên bay ngang qua, cảm xúc vì vẻ
đẹp quý phái của chúng, tôi lấy đại giấy bút trong xe
ra, vội vã ghi lại đội hình của chúng bằng cái nhìn và
nét vẽ vụng về của tôi. Vài nét bút vội vàng cũng là
đủ... chút nữa thôi chúng sẽ biến mất khỏi bầu trời.
Hàng
trăm con vịt trời bay theo đội hình chữ V, nhưng có nhiều
con khác bay theo một sự sắp xếp phức tạp hơn. Ðường
bay của chúng hạ xuống thấp rồi lại cất cánh lên cao trong
một sự hòa điệu rất duyên dáng, giống như một tấm vải
lụa uốn mình trong gió. Rõ ràng là những con vịt trời có
truyền thông với nhau. Vì hình như mỗi con đều biết rõ
vị trí của nó, thuộc nơi đâu và phải ở nơi nào trong
đội hình phức tạp và biến đổi thường xuyên ấy.
Tôi
cảm thấy mình rất có phước được chứng kiến hình ảnh
ấy. Giây phút này là một món quà rất quý báu. Tôi đã được
phép nhìn thấy và được chia xẻ một cái gì tôi biết rất
là quan trọng, không phải là lúc nào ai cũng có được. Một
phần là sự hoang dã của chúng, một phần là sự hòa điệu,
trật tự và vẻ đẹp mà chúng biểu hiện.
Trong
khi tôi chứng kiến hành trình ấy, kinh nghiệm thông thường
về thời gian của tôi chợt dừng lại. Cách sắp xếp của
những con vịt trời, mà các nhà khoa học gia thường gọi
là "hỗn loạn", cũng giống như sự cấu tạo của những khối
mây hoặc hình dáng của cây cối. Nơi đó có một trật tự,
và bên trong tàng chứa một sự vô trật tự, nhưng cũng một
cách rất là có trật tự. Ðối với tôi thì hình ảnh đó
là một món quà tặng ký diệu và nhiệm mầu. Ngày hôm nay,
trong khi đi đến sở làm, thiên nhiên đã biểu lộ cho tôi
thấy tính tự nhiên của vạn vật trong một lãnh vực nhỏ
bé, nhắc cho tôi nhớ rằng cái biết của con người không
có là bao, và chúng ta ít khi biết tán thưởng sự hòa hợp
trong vạn vật, hoặc là có thể nhận diện được chúng.
Chiều
nay, về nhà đọc tờ báo hàng ngày, tôi nhận thấy cái hậu
quả tàn khốc của việc đốn cây khai thác những khu rừng
già trên vùng cao nguyên ở miền nam nước Phi Luật Tân. Hậu
quả ấy đã hiển lộ khi trận bảo dữ đi ngang qua vào cuối
năm 1991, khi vùng đất trơ trọi, không còn khả năng giữ
nước lại, đã để mặc cho một khối lượng nước lớn
gấp bốn lần bình thường, đổ tràn ngập xuống vùng đồng
bằng, làm chết đuối hàng ngàn người dân nghèo. Bạn đừng
bao giờ nói rằng: "Tại nó xảy ra như vậy!" Vấn đề là
nhiều khi chúng ta không dám chấp nhận trách nhiệm của mình
ở trong đó. Khinh thường sự hòa hợp của thiên nhiên là
một sự liều lĩnh lớn!
Tính
chất hòa điệu của thiên nhiên bao giờ cũng có mặt ở chung
quanh ta và trong ta. Ý thức được việc ấy sẽ mang lại cho
ta một hạnh phúc lớn. Nhưng ta chỉ biết tán thưởng khi
nó không còn nữa, hoặc trong ký ức mà thôi. Như cơ thể
ta chẳng hạn, nếu mọi việc đều bình thường, ta sẽ không
bao giờ để ý đến. Không nhức đầu, ít khi nào là một
vấn đề để ta chú tâm đến. Những khả năng như đi, đứng,
nhìn, nghe, suy nghĩ... thường thì chúng ít cần đến sự săn
sóc của ta, vì vậy chúng hay bị nhòa lẫn vào vùng không
gian của sự tự động máy móc và vô ý thức. Chỉ có sự
đau đớn, sợ hãi hoặc mất mát mới có thể đánh thức
ta dậy và mang thực tại trở về với sự chú tâm của ta.
Nhưng đến chừng ấy thì không dễ gì ta còn có thể nhận
thấy được sự hòa hợp nữa! Không khéo ta còn lại bị
lôi cuốn theo sự động loạn, nó như một dòng suối chảy
xiết, như một thác nước đổ, một chặn đường gian nan
trong dòng sông của cuộc sống. Cũng như một người nào đó
nói: "Bạn không biết những gì mình đang có, trừ khi bạn
đã đánh mất nó đi..."
Khi
tôi bước xuống xe, trong lòng tôi cúi đầu cảm tạ những
người khách lữ hành trên cao ấy, vì đã mang lại cho vùng
trời của một bệnh viện văn minh và hiện đại này, một
liều thuốc tươi mát của miền thiên nhiên hoang dã.
Thực
tập: Hãy vén lên tấm màn vô ý thức và cảm nhận một sự
hòa hợp trong giây phút hiện tại này. Bạn có thấy nó trong
những áng mây, trong bầu trời, con người, thời tiết, trong
thực phẩm, trong thân ta, và trong hơi thở này không? Hãy nhìn
và nhìn vào cho thật kỹ đi, ngay ở đây và trong lúc này!
3.-
BUỔI SÁNG SỚM
Mặc
dù ông không sở làm để đến, cũng không có con cái để
săn sóc và đưa đến trường, không có lý do nào bên ngoài
bắt ông phải dậy sớm, nhưng khi sống tại Walden, ông Thoreau
có thói quen thức dật thật sớm để xuống tắm ở hồ vào
lúc mặt trời mọc. Ông làm vì những lý do nội tại, như
là một giới luật tâm linh: "Ðó là một sư tu tập và là
một trong những việc mà tôi có khiếu nhất".
Benjamin
Franklin cũng đã từng ca tụng những đức tính như sức khỏe,giàu
có và sáng suốt mà ta có thể đạt được nhờ biết dậy
sớm, trong câu cách ngôn nổi tiếng của ông. Nhưng ông không
chỉ nói suông mà còn thực hành nữa.
Việc
dậy sớm không có nghĩa là ta sẽ có thêm thì giờ để dồn
nhét thêm những bận rộn, công việc vào một ngày của mình.
Sự thật ngược lại như thế. Ta sẽ có dịp để thưởng
thức sự tĩnh lặng và cô tịch của giờ phút ấy, và có
thể xử dụng thời gian đó để mở rộng tâm thức, để
quán niệm, để thật sự có mặt và cố ý không làm gì hết.
Sự an bình, bóng tối, bình minh và tĩnh lặng - tất cả những
điều đó giúp cho buổi sáng sớm là một thời gian đặc
biệt cho sự thực tập chánh niệm.
Hơn
nữa, thức dậy sớm sẽ giúp cho ta có cơ hội làm chủ được
một ngày. Nếu bạn có thể bắt đầu một ngày với một
chánh niệm vững vàng, thì khi bạn cần phải đi đây đó
làm việc, chắc chắn hành động của bạn sẽ được phát
xuất từ chính sự vững vàng và tĩnh lặng đó. Bạn sẽ
có thể duy trì được một chánh niệm vững chãi, một sự
an lạc và quân bình trong nội tâm trọn cả ngày, cho dù công
việc và trách nhiệm có nặng nề đến đâu. Một ngày chắc
chắn sẽ được tốt đẹp hơn, nhất là khi bạn không phải
vội vã nhảy ra khỏi giường và lao đầu ngay vào những đòi
hỏi của cuộc sống.
Việc
thức dậy sớm mỗi buổi sáng có một năng lực rất to tác,
nó ảnh hưởng vô cùng sâu đậm tới cuộc sống của ta,
cho dù ta có thực tập chánh niệm hay không. Chỉ cần nhìn
mặt trời bình minh mọc mỗi sáng tinh sương, tự nó cũng
là một tiếng chuông tĩnh thức cho ta rồi.
Nhưng
tôi khám phá ra rằng, buỗi sáng sớm là một thời gian rất
kỳ diệu để thực hành thiền tập. Chưa có ai thức dậy
hết. Sự nào nhiệt của thế giới cũng chưa thật sự bắt
đầu. Tôi bước ra khỏi giường và thường thường bỏ ra
chừng một giờ cho chính mình, để không làm gì hết. Sau
hai mươi tám năm trời, nó vẫn chưa mất đi sức quyến rũ
đối với tôi. Thỉnh thoảng, cũng có lúc tôi cảm thấy khó
mà dậy sớm, thân hoặc tâm tôi bị dằn co. Nhưng giá trị
ở chỗ tôi vẫn cứ làm, cho dù mình có thích hay không.
Một
trong những đức tính chánh của sự thực tập đều đặn
là ta sẽ đạt được một thái độ xả bỏ đối với những
trạng thái nhất thời của tâm ý. Ta cương quyết thức dậy
sớm ngồi thiền mỗi ngày, cho dù mình cảm thấy muốn hay
không. Sự thực tập ấy giúp ta có một tiêu chuẩn cao hơn
- nhắc nhở ta về sự quan trọng của chánh niệm, và sự
cám dỗ của thói quen sống trong thất niệm, vô ý thức của
mình. Việc dậy sớm để thực tập không làm gì hết, tự
nó cũng là một quá trình tôi luyện. Quá trình ấy phát ra
một nhiệt lực đủ nóng để sắp xếp lại những hạt nguyên
tử trong con người của mình, tạo nên một hàng rào pha lê
vững chắc để bảo vệ thân tâm, một hàng rào giữ cho ta
được thành thật và nhắc nhở rằng, cuộc sống này còn
nhiều việc to tát hơn là sự thành đạt của mình.
Kỷ
luật ấy sẽ giữ cho ta được vững vàng, không bị lệ thuộc
vào phẩm chất của ngày hôm qua và những việc gì sẽ xảy
ra trong ngày hôm nay. Tôi luôn cố gắng bỏ ra chút thì giờ
để thực hành thiền tập, cho dù chỉ trong vài phút, vào
những ngày có biến cố vui buồn lớn, khi tâm tôi và hoàn
cảnh chung quanh hoàn toàn bị náo động, khi có nhiều việc
cần phải làm và cảm xúc dâng cao. Ðược như thế, tôi mới
có thể thật sự cảm nhận được ý nghĩa của những giây
phút ấy, và đôi khi có thể lèo lái vượt qua được.
Khi
ta thực tập chánh niệm vào buổi sáng sớm, là ta tự nhắc
nhở mình rằng, mọi việc luôn luôn thay đổi, những điều
tốt xấu sẽ đến rồi đi và ta lúc nào cũng có khả năng
biểu lộ được một bình diện bất biến, của trí tuệ
và an lạc, dù phải đối mặt với bất cứ một tình trạng
nào. Mỗi sáng tinh sương ta thức dây sớm để thực hành
thiền tập là một biểu hiện của bình diện ấy. Ðôi khi
tôi nói về nó như là một cái gì rất "thông thường", nhưng
sự thật thì khác rất xa! Chánh niệm là những gì ngược
hẳn lại với thói quen thường lệ của mình.
Nếu
bạn còn chần chư chưa muốn thức dậy sớm hơn một tiếng,
thì bạn có thể thử nửa tiếng, mười lăm phút, hoặc năm
phút thôi cũng được. Tinh thần mới là quan trọng. Năm phút
thực tập chánh niện vào mỗi buổi sáng cũng có thể rất
giá trị. Và chỉ cần hy sinh năm phút của giấc ngủ thôi,
cũng có thể giúp ta thấy được cái tính mê ngủ của mình.
Ta thấy rằng, mình phải cần bao nhiêu là sự tự chủ và
quyết tâm để có được một chút thì giờ, để tỉnh thức
mà không làm gì hết. Vì dù sao đi nữa, cái tâm suy nghĩ của
ta có trăm ngàn lý do chính đáng để khất lại ngày sau, như
là ta đâu có thật sự đạt được cái gì, sáng hôm nay cũng
chẳng có gì quan trọng lắm, và có lẽ lý do thật sự hơn
hết là, tại sao mình không ngủ thêm một chút nữa cho khỏe
rồi ngày mai hãy bắt đầu?
Muốn
vượt qua những trở ngại trong tâm mà ta đã biết trước
ấy, ta cần phải tự quyết định vào đêm hôm trước rằng,
mình sẽ thức dậy cho dù có nghĩ gì đi chăng nữa. Ðó cũng
là hương vị đặc biệt của đức tự chủ và thật sự
có chủ đích. Ta làm vì đã tự hứa với mình và ta sẽ làm
vào giờ đã ấn định, cho dù một phần của tâm ta có ưa
thích hay không. Sau một thời gian, sự tu tập ấy sẽ trở
thành một phần của con người ta. Ðây chỉ đơn giản là
một lối sống mới mà ta đã chọn. Nhưng nó không có nghĩa
là "phải làm", vì ta không hề bó buộc mình. Những giá trị
cũng như hành động của ta đã thay đổi, thế thôi.
Nếu
bạn chưa sẵn sàng để thức dậy sớm, hoặc là có chăng
đi nữa, bạn bao giờ cũng có thể xử dụng giây phút vừa
thức giấc của mình, bất cứ lúc nào, như là giây phút của
chánh niệm, giây phút đầu tiên của một ngày mới. Ngay trước
khi bạn cử động, hãy cố gắng tiếp xúc với hơi thở của
mình. Cảm giác thân mình đang nằm trên giường. Thẳng người
ra. Và bạn hãy tự hỏi: "Tôi có tỉnh chưa? Tôi có biết
rằng tôi được ban tặng cho một ngày mới không? Tôi có
tỉnh thức để nhận lãnh nó không? Việc gì sẽ xảy ra trong
ngày hôm nay? Ngay bây giờ tôi cũng chẳng biết. Mặc dù tôi
đang suy nghĩ về việc gì cần phải làm, tôi có thể nào
mở rộng ra với cái không biết này không? Tôi có thấy ngày
hôm nay là một cuộc khám phá mới không? Tôi có nhận thấy
rằng thời gian này có đầy đủ hết mọi tiềm năng không?"
Buổi
sáng là những khi tôi tỉnh thức và bên trong tôi có một
bình minh... Chúng ta phải biết học cách tỉnh thức ấy và
giữ cho mình được tỉnh thức, không phải bằng những phương
tiện máy móc, nhưng là bằng một sự mong đợi bất tận
vào một bình minh sẽ không hề bỏ quên ta, dù ta đang đắm
chìm trong một giấc ngủ say. Tôi không còn biết đến một
sự kiện nào đáng khích lệ hơn là cái khả năng chắc chắn
của con người nâng cao sự sống của mình bằng một nỗ
lực có ý thức. Khả năng vẽ lên một bức tranh, tạc một
bức tượng, tạo nên một vài đối tượng mỹ thuật, là
cao đẹp lắm. Nhưng nếu ta có thể tạc hoặc vẽ được
cái bầu không khí và môi trường mà ta nhìn xuyên qua, khả
năng ấy còn tuyệt diệu hơn, vượt bực nữa... Làm sao để
ảnh hưởng được phẩm chất của một ngày, đó mới là
một nghệ thuật cao quý.
Thoreau,
Walden.
Thực
tập: Bạn hãy tự hứa với mình và cương quyết thức dậy
sớm hơn thường lệ. Làm bấy nhiêu thôi cũng sẽ thay đổi
được đời bạn. Hãy để thời gian ấy, dù dài hay ngắn,
là thời gian để sống, để tỉnh thức. Bạn không muốn
bỏ gì vào khoảng thời gian này hơn là chánh niệm và ý thức.
Không cần phải lo nghĩ về những việc cần phải làm trong
ngày và sống "trước" hiện tại của mình. Ðây là lúc của
sự vô thời gian, của tĩnh lặng hiện tại, và có mặt với
chính mình.
Và
khi vừa thức dậy, trước khi bước chân xuống giường, bạn
hãy tiếp xúc với hơi thở của mình, ý thức những cảm
giác trong thân, ghi nhận mọi ý nghĩ và cảm xúc đang có mặt,
hãy dùng chánh niệm soi sáng giây phút này. Bạn có cảm nhận
được hơi thở của mình không? Bạn có ý thức được sự
bình minh trong mỗi hơi thở vào? Bạn có biết tán thưởng
cảm giác hơi thở đang ra vào tự do nơi thân trong giây phút
này không? Tự hỏi mình: "Bây giờ, tôi có thật sự tỉnh
thức chưa?"
4.-
TIẾP XÚC TRỰC TIẾP
Chúng
ta ai cũng mang theo mình những hình ảnh và ý niệm về thực
tại. Ða số chúng được thu thập từ người khác, từ những
lớp học, từ sách đã đọc, hoặc từ truyền hình, ra dô,
báo chí, từ nền văn hóa nói chung. Chúng cho ta một ấn tượng
về những sự vật chung quanh mình và về việc gì đang xảy
ra. Và kết quả là chúng ta chỉ nhìn thấy tư tưởng của
mình hoặc của kẻ khác, thay vì là những gì đang thực sự
hiện diện ngay trước mặt hoặc bên trong ta. Chúng ta ít khi
nào chịu tìm kiếm hoặc xét lại cảm nhận của mình, vì
ta tự cho rằng mình đã biết và hiểu hết tất cả. Và vì
vậy ta tự đóng kín mình lại, không còn biết đến sự kỳ
diệu và sinh động của những cuộc gặp gỡ mới. Không khéo
chúng ta có thể quên rằng, sự tiếp xúc trực tiếp là một
cái gì có thể được. Ta sẽ không còn tiếp xúc được với
những gì là cơ bản nhất, mà không hề hay biết Chúng ta
có thể sống trong một thực tại huyễn mộng do mình tạo
nên, mà không hề ý thức được sự mất mát, một hố sâu,
khoảng cách không cần thiết ngăn cách ta với kinh nghiệm
của mình. Không ý thức được việc ấy, ta suốt đời sẽ
là một kẻ nghèo nàn về tâm linh. Và khi ta tiếp xúc trực
tiếp được với thế giới chung quanh mình, sẽ có những
sự kiện nhiệm mầu xảy ra.
Viki
Weisskopf, một người hướng dẫn và cũng là một người bạn
của tôi, một nhà vật lý học nổi tiếng, có kể lại một
câu truyện rất sâu sắc về sự tiếp xúc trực tiếp:
Vài
năm trước đây, tôi có nhận được lời mời đến giảng
thuyết tại đại học đường Arizona ở Tucson. Tôi rất vui
mừng và chấp nhận ngay, vì đây là một cơ hội tốt để
viếng thăm đài thiên văn trên đỉnh Kitts Peak, nơi đó có
một kính thiên văn rất mạnh, mà tôi từng mơ ước sẽ có
dịp được xử dụng thử. Tôi yêu cầu trường đại học
sắp xếp cho tôi một buổi viếng thăm đài thiên văn này,
để tôi có thể quan sát những vì tinh tú qua chiếc kính viễn
vọng ấy. Nhưng họ trả lời rằng việc ấy không thể thực
hiện được, vì chiếc kính viễn vọng lúc nào cũng được
xử dụng để chụp hình và cho những sinh hoạt nghiên cứu
khác, không có thì giờ cho việc quan sát khơi khơi như vậy.
Nếu vậy, tôi viết thư trả lời, là tôi sẽ không đến
giảng thuyết được. Chừng vài ngày sau, tôi được báo tin
cho hay rằng, mọi việc đã được sắp xếp theo lời yêu
cầu của tôi. Một buổi tối trời trong thật đẹp, chúng
tôi lái xe lên núi. Những vì sao và dãy Ngân hà sáng lóng
lánh trên cao, tôi có cảm tưởng gần đến nỗi mình có thể
với tay lên bắt được. Tôi vào căn nhà mái vòm của đài
thiên văn và nói với người chuyên viên điều khiển chiếc
kính viễn vọng bằng máy điện tử, tôi muốn được quan
sát Thổ tinh và một số thiên hà khác. Thật là một niềm
vui lớn khi được nhìn bằng chính đôi mắt mình, với đầy
đủ hết những chi tiết mà tôi chỉ có thể thấy trước
đó qua hình ảnh. Trong khi say mê quan sát, tôi chợt để ý
rằng căn phòng bắt đầu có đông người tụ tập, và họ
chờ nhau để đến phiên được nhìn vào chiếc viễn vọng
kính như tôi. Tôi được kể rằng, những nhà thiên văn này
làm việc nơi đây, nhưng họ chưa bao giờ có cơ hội để
trực tiếp nhìn vào đối tượng mà họ đang nghiên cứu.
Tôi chỉ có thể hy vọng rằng, lần gặp gỡ này, sẽ giúp
họ ý thức được tầm quan trọng của những tiếp xúc trực
tiếp như thế.
Thực
tập: Nhớ rằng cuộc sống của mình cũng thú vị và nhiệm
mầu như là mặt trăng và những vì tinh tú. Cái gì đứng
giữa bạn và kinh nghiệm trực tiếp với sự sống của bạn?
Bạn có thể làm gì để thay đổi được khoảng cách ấy?
5.-
BẠN CÒN MUỐN NÓI THÊM ÐIỀU GÌ VỚI TÔI KHÔNG?
Lẽ
dĩ nhiên, sự tiếp xúc trực tiếp cũng rất là quan trọng
trong mối tương quan giữa bác sĩ và bệnh nhân. Chúng tôi
cố gắng hết sức để giúp các sinh viên y khoa hiểu được
sự quan hệ này, để họ khỏi bỏ chạy trong kinh hoàng vì
nó có dính líu đến tình cảm cá nhân, cũng như đòi hỏi
một khả năng biết lắng nghe thật sâu sắc. Chúng tôi nhắc
nhở các bác sĩ tập sự nên đối xử với bệnh nhân của
mình như là con người, chứ không phải là một bài toán về
chứng bệnh, hoặc cơ hội để họ thử nghiệm sự phán đoán
và chữa trị của mình. Có biết bao nhiêu chuyện có thể
chen vào giữa sự tiếp xúc trực tiếp của ta. Và có rất
nhiều bác sĩ đã thiếu sự huấn luyện này trong lãnh vực
y khoa của họ. Họ vẫn không ý thức được tính chất quan
trọng của một sự truyền thông hữu hiệu, cũng như sự
chăm sóc đối với bệnh nhân. Chúng ta thường nghĩ ràng mình
lo cho sức khỏe của bệnh nhân, nhưng thật ra là ta chỉ lo
lắng cho bệnh tình của họ. Và dù ta có chăm sóc gì chăng
nữa, nó vẫn là một sự thiếu thốn lớn, nếu đối tượng
của ta bị loại bỏ ra ngoài chương trình.
Má
tôi có kinh nghiệm này, về việc không tìm ra một bác sĩ
nào thật sự quan tâm về nỗi lo lắng của bà. Bà rất bực
tức kể lại rằng, có một lần bà bị giải phẩu xương
hông, và được thay vào bằng hông nhân tạo. Sau một thời
gian, bà vẫn không thể đi đứng bình thường được và rất
đau đớn. Má tôi đã gọi vị bác sĩ giải phẩu của mình
nhiều lần để than phiền. Cuối cùng bà được hẹn để
vào gặp ông ta. Vị bác sĩ sau khi nghiên cứu tấm ảnh quang
tuyến X, bảo rằng mọi sự đều rất tốt đẹp, và không
hề nghĩ đến chuyện khám nghiệm lại cái hông và chân bằng
xương bằng thịt của bà, mặc dù bà than phiền rất nhiều
lần. Tấm ảnh chụp bằng quang tuyến X đủ để thuyết phục
vị bác sĩ là má tôi không hề có lý do gì để đau đớn
hết, mặc dù bà rất là khổ sở.
Các
bác sĩ có thể vô ý thức đi trốn phía sau những dụng cụ,
máy móc y khoa, hoặc những thử nghiệm và danh từ kỷ thuật
chuyên môn của họ. Họ rất ngại khi tiếp xúc trực tiếp
với bệnh nhân như là một con người, một cá nhân với đầy
đủ lo âu và sợ hãi, nỗi quan tâm và thắc mắc, dù có nói
ra hoặc thinh lặng. Có thể họ nghi ngờ khả năng của mình,
vì đây là một lãnh vực mới chưa từng được thăm dò.
Một phần cũng có thể vì họ không quen đối diện với những
tư tưởng, sự sợ hãi, nỗi quan tâm và nghi ngờ của chính
họ, cho nên đối với những gì của người khác, chúng cũng
rất là đe dọa. Và cũng có thể họ cảm thấy mình không
có thì giờ để mở ngõ cho những chiếc đê sắp vỡ tuôn
ấy, hoặc là tự ngờ khả năng đối phó thích ứng của
mình. Nhưng điều mà những bệnh nhân cần, rất đơn giản,
là sự lắng nghe và có mặt của ta, biết coi con người là
quan trọng, chứ không phải chỉ có căn bệnh mà thôi.
Với
ý định đó, chúng tôi dạy những sinh viên y khoa của mình,
một trong nhiều điều khác, là hỏi câu khiêu gợi sự trả
lời nơi người nghe: "Ông hay bà còn có điều gì muốn nói
thêm với tôi không?" sau mỗi cuối giờ phỏng vấn. Chúng
tôi khuyến khich họ nên ngừng lại, và im lặng một chút,
hoặc lâu hơn nữa nếu cần thiết, cho bệnh nhân có được
một khoảng không gian tâm linh để xét lại nhu cầu của mình,
và cũng như họ thật sự nghĩ gì. Những điều này rất ít
khi nào các bệnh nhân chịu đề cập tới ngay lần đầu,
lần thứ hai, hoặc có lẽ là sẽ không bao giờ, nếu họ
cảm thấy vị bác sĩ không biết lắng nghe hoặc quá vội
vã.
Trong
một khóa huấn luyện các nhân viên chuyên khoa về phương
pháp phỏng vấn bệnh nhân, chúng tôi được chiếu cho xem
một cuốn phim nói về những cuộc phỏng vấn của các sinh
viên y khoa với bệnh nhân của mình, được thu hình để học
hỏi. Cuốn phim gồm có nhiều cuộc phỏng vấn của các sinh
viên y khoa khác nhau, nhưng chỉ gom chiếu lại phần họ hỏi
bệnh nhân mình câu chót: "Ông hay bà còn có thêm điều gì
muốn nói với tôi không?" Trước khi được cho xem cuốn phim
tài liệu này, chúng tôi được yêu cầu hãy cẩn thận ghi
nhận việc gì thật sự xảy ra.
Xem
đến đoạn phim thứ ba, tôi phải cố gắng lắm mới khỏi
lăn ra đất mà cười. Hầu như trong tất cả đoạn phim, các
sinh viên y khoa đều thực hành đúng những gì mình đã được
dạy, là chấm dứt buổi phỏng vấn với câu hỏi chót: "Ông
hay bà còn có thêm điều gì muốn nói với tôi không?", nhưng
chính họ lại lắc đầu trong khi đặt câu hỏi ấy, như gián
tiếp nói với bệnh nhân mình rằng: "Thôi đủ rồi, làm ơn
đừng kể thêm gì nữa hết".
Vì
vậy, ta không bao giờ có thể dấu diếm được bất cứ điều
gì. Ta phải thật sự biết lắng nghe.
6.-
THẨM QUYỀN CỦA BẠN
Lúc
mới vào làm việc tại bệnh viện, tôi được phát cho ba
chiếc áo khoác dài màu trắng, bên ngoài có hàng chữ "Dr.
Kabat-Zinn/Phân khoa y học" được thêu thật đẹp trên túi
áo. Và chúng được treo phía sau cánh cửa văn phòng tôi từ
mười lăm năm nay, chưa bao giờ được dùng tới.
Ðối
với tôi, những chiếc áo trắng này là một biểu tượng
mà tôi không bao giờ cần đến trong ngành của mình. Tôi đoán
có lẽ chúng cần thiết cho các vị bác sĩ, giúp làm gia tăng
thêm cái hào quang thẩm quyền của họ và nhớ đó tạo một
ảnh hưởng tốt đối với các bệnh nhân. Và cái hào quang
ấy lại càng gia tăng bội phần, nếu họ có thêm một chiếc
ống nghe (stethoscope) treo lủng lẳng ngoài túi áo. Những vị
bác sĩ trẻ tuổi đôi khi nghiên cứu nghệ thuật này rất
kỹ, họ cố đeo chiếc ống nghe làm sao cho thật tự nhiên
trên cổ, và gác ra phiá sau lưng ngang vai.
Nhưng
trong một y viện chuyên khoa về ngành làm giảm sự căng thẳng
(stress reduction clinic), thì chiếc áo trắng là một chướng
ngại rất lớn. Tôi đã phải làm việc tối đa để phản
ảnh những cái tên mà người ta đã đặt cho tôi, như là
"Ông Thoải Mái", hoặc "Bác sĩ Biết Hết Tất Cả", hoặc
là "Ông Tình Thương và Trí Tuệ". Một trong những điểm chính
yếu của việc xử dụng chánh niệm để giảm sự căng thẳng
- là khuyến khích và thách thức người ta trở thành nguồn
thẩm quyền của chính họ, biết chịu trách nhiệm về cuộc
đời, về thân thể và hạnh phuc của mình. Thật ra mỗi người
chúng ta bao giờ cũng là nguồn thẩm quyền của chính mình,
nếu ta biết ý thức được những gì đang xảy ra trong ta
và chung quanh ta. Vì vậy, ta cần phải học hỏi rất nhiều
về con người ấy - những gì ta cần biết để tăng trưởng,
để chữa lành vết thương và để có thể chọn lựa hữu
hiệu trong cuộc sống. Và những gì ta cần học hỏi lúc nào
cũng nằm trong tầm tay ta, hay nói đúng hơn là nằm ngay nơi
đây trong hơi thở của mình.
Muốn
có một sự sống lành mạnh và an lạc, ta cần phải biết
lắng nghe cẩn thận hơn và tin tưởng vào những gì mình nghe
thấy. Bạn có nghe được những thông điệp của cuộc đời
bạn không? Chúng bao giờ cũng là những thành tố còn thiếu
sót trong khoa y học, Chúng tôi thường khuyên các bệnh nhân
nên có niềm tin và phải biết tự đóng góp vào cho sự lành
mạnh của chính họ. Chúng tôi gọi đó là "huy động nguồn
nội lực của bệnh nhân", để giúp họ tự chữa thương,
hoặc để có thể đối phó thích ứng hơn, nhìn sáng tỏ
hơn, cứng rắn hơn, dám đặt vấn đề hơn và xử sự khôn
khéo hơn. Lẽ dĩ nhiên, nó không thể hoàn toàn thay thế cho
sự chăm sóc của ngành y khoa chuyên môn được. Nhưng nó là
một bổ sung rất cần thiết, nếu bạn muốn sống một cuộc
sống lành mạnh thật sự - nhất là trong một hệ thống y
tế còn rất nhiều khiềm khuyết này.
Phát
triển được thái độ ấy có nghĩa là ta làm chủ được
đời mình, và từ đó ta sẽ chấp nhận thẩm quyền của
mình hơn. Nó đòi hỏi một điều là ta cần phải biết tin
tưởng nơi ta. Mà buồn thay, nhìn cho sâu, đa số chúng ta lại
không có được sự tự tin đó.
Năng
lực của chánh niệm có thể mang lại cho ta niềm tin ấy,
nó chữa lành được mặc cảm tự ti của ta. Vì thật ra tự
ti chỉ là một đánh giá sai lầm, một nhận thức không đúng
về thực tại. Bạn có thể thấy được rất rõ điều này
khi nhìn sâu vào cơ thể mình, hoặc là theo dõi hơi thở trong
khi thiền tập. Bạn sẽ nhanh chóng khám phá ra rằng cơ thể
mình cũng là một phép lạ. Trong mỗi giây phút, nó thực hiện
biết bao nhiêu là kỳ công, mà không cần đến sự cố gắng
của ta. Vấn đề tự ti phần lớn bắt nguồn từ những ý
nghĩ đã bị tô màu bởi quá khứ. Ta có thói quen đi tìm kiếm
những khiếm khuyết của mình và phóng đại chúng lên to tướng.
Và cũng lúc ấy, ta lại xem thường những đức tính tốt
của mình, hoặc đôi khi không thèm biết gì đến chúng. Có
lẽ chúng ta vẫn còn bị vướng kẹt trong những vết thương
sâu đậm của quá khứ, và vô tình quên đi hoặc không hề
ý thức được rằng mình cũng có nhiều đức tính rất hay,
rất đẹp khác nữa. Vết thương xưa tuy quan trọng, nhưng
những tính tốt của ta cũng quan trọng không kém, như là tình
thương, lòng từ ái của ta đối với người khác, tuệ giác
của cơ thể, khả năng suy nghĩ và phân biệt của ta. Và chúng
ta có một khả năng phân biệt, nhận thức, thương yêu, cao
thượng hơn là mình nghĩ. Dù vậy, thay vì có một cái nhìn
quân bình, chúng ta thường bị kẹt trong thói quen tạo ấn
tượng rằng, người khác bao giờ cũng hay ho và tốt đẹp,
còn ta thì lúc nào cũng thua kém.
Tôi
cảm thấy rất ngại ngùng khi người chung quanh đưa tôi lên
quá cao. Tôi cố gắng phản chiếu lại những ấn tượng đó
về tôi, hy vọng rằng người ta sẽ ý thức được việc
làm ấy, để thấy rằng năng lượng tích cực của họ dành
cho tôi thật ra là của chinh họ. Sự tích cực ấy là của
họ. Nó là năng lượng của họ, và người ta nên giữ gìn
lấy để xử dụng, cũng như nên biết ơn cái cội nguồn
ấy. Tại sao họ lại phải cho đi sức mạnh của mình? Thú
thật tôi không cần thêm gì nữa, tự tôi, tôi cũng đã có
đủ vấn đề lắm rồi!
Người
ta thường đo lường lòng kính trọng của nhau bằng những
gì kẻ khác có, mà không bằng những gì họ là... Không gì
có thể đem lại cho bạn sự an lạc ngoại trừ bạn.
Ralph
Valdo Emerson.
7.-
NƠI BẠN ÐẾN LÀ BÂY GIỜ VÀ Ở ÐÂY
Có
bao giờ bạn nhận thấy rằng, mình không thể nào trốn tránh
được bất cứ một vấn đề gì không? Rằng, không chóng
thì chầy, những sự việc ta không muốn đối phó, cố gắng
tránh né, hoặc phủ đậy lại và giả vờ như là chúng không
hề có mặt, rồi một ngày kia sẽ bắt kịp ta - nhất là
khi chúng có liên quan đến những tập quán hoặc nỗi sợ
của mình. Chúng ta thường có một ý niệm lãng mạn rằng,
nếu nơi này ta không vừa ý, ta chỉ cần đi sang nơi khác
thì mọi việc tức khắc sẽ thay đổi. Nếu việc làm của
ta không tốt, đổi việc khác. Nếu người bạn đời của
ta không vừa ý, chọn người bạn đời khác. Nếu thành phố
ta ở không tốt, dọn đi nơi khác. Nếu con cái của ta là
một vấn đề, giao chúng cho người khác lo. Ta nghĩ rằng,
cái lý do tạo nên sự đau khổ cho mình nằm ở bên ngoài
- như việc làm, nơi chốn. hoàn cảnh hoặc người khác. Chúng
ta tưởng rằng, khi ta đổi chỗ ở, thay hoàn cảnh, thì mọi
việc sẽ tự động trở nên tốt đẹp hơn, và ta có thể
bắt đầu trở lại và lập một cuộc đời mới.
Nhưng
quan niệm đó có một vấn đề mà ta quên, là lúc nào ta cũng
mang theo khối óc và con tìm mình, và cái mà người ta gọi
là nghiệp quả, ở bất cứ một nơi nào mà ta đến. Ta không
bao giờ có thể trốn tránh được chính ta, cho dù có cố
gắng bao nhiêu. Lý do gì bạn lại nghĩ rằng, sự việc sẽ
có thể khác đi hoặc tốt đẹp hơn ở một nơi xa xôi nào
đó? Sớm muộn gì những khó khăn xưa cũng sẽ phát khởi
lên, nhất là khi chúng bắt nguồn từ tập quán suy nghĩ, quan
sát và hành động của ta. Rất thường khi, cuộc sống của
ta không còn sinh động, vì ta không còn biết sống nữa, vì
chúng ta không dám nhận lãnh trách nhiệm về những việc xảy
ra và đối phó với những khó khăn của mình. Chúng ta quên
rằng, mình thật sự có thể đạt được một sự trong sáng,
hiểu biết và chuyển hóa ngay giữa những gì là bây giờ
và ở đây, cho dù chúng là bất cứ một vấn đề gì chăng
nữa. Nhưng dù sau khi ta đem những khó khăn, vấn đề của
mình đi đổ cho hoàn cảnh và kẻ khác, thì nó bao giờ cũng
dễ dàng và ít đe dọa đối với cái tôi của mình hơn.
Việc
đi tìm lỗi, trách móc hoặc tin rằng ta cần một sự thay
đổi ở bên ngoài, ta cần giải thoát ra những lực lượng
đã giữ, ngăn chận không cho ta phát triển và có hạnh phúc,
chuyện ấy rất là dễ. Ta cũng có thể tự trách mình, và
dùng nó như là một phương cách tối hậu để trốn tránh
trách nhiệm, cho rằng mình đã làm hư hao quá nhiều, và không
có thể sửa chữa được nữa. Trong cả hai trường hợp,
ta đều tin rằng mình không có khả năng sửa đổi và phát
triển và ta cần phải thôi làm kẻ khác đau khổ bằng cách
tự rút lui ra khỏi hoàn cảnh ấy.
Sự
tổn thương gây nên bởi cái nhìn sai lầm đó, có mặt khắp
nơi trong cuộc sống. Hãy thử nhìn chung quanh mình, bạn có
thấy những tình thân thuộc bị gãy đổ, gia đình sứt mẻ,
con người mất hết hy vọng, những kẻ lang thang không gốc
rễ, lạc loài, đi từ nơi này đến chốn nọ, từ công việc
này sang công việc khác, từ mối tương quan này đến mối
liên hệ kia, từ quan niệm giải thoát này đến quan niệm
khác... với hy vọng mong manh rồi sẽ có một người nào đó,
một công việc, một nơi chốn hoặc một quyển sách nào đó
sẽ làm cho mọi việc trở nên tốt đẹp hơn.
Thật
ra, thiền tập tự nó không ban cho ta khả năng thoát được
khỏi những thói quen ấy: đi tìm kiếm ở một nơi khác cho
câu trả lời hoặc giải đáp cho những khó khăn của ta. Trong
sự tu tập, đôi khi người ta cũng hay theo đuổi phương pháp
này đến phương pháp nọ, hoặc từ một vị thầy này đến
vị thầy khác, truyền thống này đến truyền thống khác,
mong tìm kiếm một cái gì đó đặc biệt, một pháp môn tối
thượng, một mối quan hệ cá biệt, một giây phút "giác ngộ"
tạm thời nào đó có thể mở tung được cánh cửa giác ngộ.
Nhưng việc ấy có thể trở thành một ảo vọng nguy hại,
một cuộc đi tìm bất tận, để ta trốn tránh khỏi phải
đối diện với những vấn đề đau đớn nhất. Ðôi khi vì
sự sợ hãi và vì khao khác muốn có một vị tôn sư giúp
đở, người ta thường bị vướng mắc vào những mối tương
quan không lành mạnh. Họ sẵn sàng chịu lệ thuộc vào vị
thầy của mình. Nhưng bạn nên nhớ rằng, dù cho một vị
thầy tài giỏi đến đâu, cuối cùng bạn vẫn phải tự mình
tu tập lấy, và sự tu tập ấy phải bắt nguồn từ chính
sự sống của bạn.
Có
một số người lạm dụng thời gian tu học của mình. Thay
vì xem đó như một cơ hội để tự quán chiếu, họ xem khóa
tu như một thời gian để củng cố lại những thói quen và
tập quán thường ngày của mình. Vì trong khóa tu, mọi việc
có thể trở nên dễ dàng hơn. Những nhu yếu trong đời sống
của ta đều được người khác lo hết. Thế giới này thấy
có ý nghĩa hơn. Tôi chỉ cần ngồi thiền, đi thiền hành,
giữ chánh niệm, sống trong hiện tại, được người khác
lo cho miếng ăn, thức uống, được lắng nghe những lời minh
triết từ những bậc đã có một quá trình tu tập dài lâu
và một đời sống tuệ giác. Và rồi tôi sẽ được chuyển
hóa, biết sống với mình một cách trọn vẹn hơn, biết chấp
nhận cuộc đời hơn và có một cái nhìn sáng tỏ về những
vấn đề của mình hơn.
Nói
chung những việc ấy cũng không phải là sai. Một khóa tu học
nhiều ngày với một vị thầy giỏi, có một giá trị rất
to tát và một tác dụng chữa trị lớn lao, nếu ta chịu quán
chiếu bất cứ những gì khởi lên trong khóa tu. Nhưng ở đây
cũng có một sự nguy hiểm mà ta cần phải cẩn thận. Những
ngày tu học của ta có thể trở thành một sự rút lui khỏi
cuộc đời và xã hội, và sự "chuyển hóa" của ta vì vậy
rất là nông cạn. Nó có thể kéo dài được chừng vài ngày,
vài tuần, hoặc vài tháng sau khi khóa tu chấm dứt, và rồi
mọi sự đâu lại hoàn đó như xưa. Và ta lại chờ đợi
đến một khóa tu kế, một vị thầy giỏi nào đó, hoặc
một chuyến hành hương sang Á Châu, hay là một ước mơ sẽ
có một ngày ta trở thành một người tốt hơn, mọi việc
sẽ được sáng tỏ hơn.
Lối
nhìn và suy nghĩ ấy là một cạm bẩy rất phổ thông. Trên
con đường dài, bạn không bao giờ có thể trốn thoát được
chính bạn, chỉ có một sự chuyển hóa mà thôi. Cho dù bạn
có xử dụng bất cứ một phương tiện nào, dù đó là thiền
tập, ma túy, rượu, ly dị, đổi công ăn việc làm... không
một biện pháp nào có thể giúp bạn phát triển, trừ khi
bạn dám hoàn toàn đối diện với hoàn cảnh hiện tại và
duy trì chánh niệm. Cho phép những sự gồ ghề của hoàn cảnh
mài dũa đi những góc cạnh còn gồ ghề của bạn. Nói một
cách khác hơn, bạn phải dám để cho sự sống này trở thành
vị thầy của mình.
Ðây
là con đường của sự tu tập trong bất cứ một tình cảnh
nào của ta với những gì đang xảy ra bây giờ và ở đây.
Vì sự thật tất cả chỉ là vậy thôi: nơi chốn này, mối
tương quan này, nỗi khó khăn này, công việc này... Sự thử
thách của việc tu tập chánh niệm là làm sao đối phó với
ngay tình cảnh mà ta đang có mặt - dù cho nó có khó chịu,
chán nản, giới hạn hoặc bất tận, và dính mặc đếu đâu
chăng nữa. Và ta phải biết cố gắng hết sức, hết năng
lực của mình, để tự chuyển hóa, trước khi quyết định
buông bỏ để lên đường. Bạn nên nhớ rằng, chỉ có bây
giờ và ở đây, sự tu tập cũng như công phu của ta mới
có hiệu quả.
Thế
cho nên nếu bạn nghĩ rằng, sự tu tập của mình quá nhàm
chán, không tiến bộ, rằng nơi này không có điều kiện thích
hợp, và bạn đang ước phải chi mình đang ở trong một hang
động nào đó trên Hy mã lạp sơn, hoặc trong một tu viện
ở rừng sâu, hoặc một trung tâm tu học nào đó giữa thiên
nhiên, thì mọi việc sẽ được tốt đẹp hơn, sự tu tập
của bạn sẽ được vững mạnh hơn... bạn hãy nên suy nghĩ
lại. Vì khi bạn đến được hang động ấy, tu viện ấy
rồi, thì cũng chỉ có bấy nhiêu thôi, cũng thân này, cũng
tâm này, cũng cùng một hơi thở này, mà bạn đã và đang
có trong giây phút hiện tại này đây! Có lẽ sau chừng mười
lăm phút trong hang động bạn sẽ cảm thấy cô dơn, thèm ánh
sáng, nóc nhà có thể bị dột, trời có thể nóng quá hoặc
lạnh quá. Nếu bạn đi tu học, có thể bạn sẽ không thích
vị thầy, thức ăn không hạp khẩu vị, phòng ngủ thiếu
tiện nghi... Bao giờ cũng sẽ có một cáigì đó làm bạn bất
mãn. Như vậy sao bạn không buông bỏ nó đi, và chấp nhận
ràng có lẽ nơi mà ta đang ở đây là tốt nhất rồi? Và
trong giây phút ấy, bạn sẽ tiếp xúc được với chính mình
và có thể mời gọi năng lực của chánh niệm bước vào
và chữa trị. Chừng nào hiểu được việc ấy, thì những
hang động, tu viện trong rừng, các trung tâm tu học... mới
có thể thật sự giúp ích cho bạn. Và dĩ nhiên là ở bất
cứ một nơi chốn nào khác, thời điểm khác, tất cả cùng
đều là như vậy.
Chân
tôi trượt trên một vách đá cao, ngay trong giây phút ấy,
tôi cảm thấy như những mũi kim đâm xuyên qua tim và thái
dương mình, thời gian vô tận tiếp xúc được với giây phút
hiện tại. Tư tưởng và hành động không khác gì nhau, và
đá, không khí, tảng băng, mặt trời, nỗi sợ và tôi, tất
cả chỉ là một. Cái nhiệm mầu là làm sao để kéo dài giây
phút ý thức sáng tỏ ấy vào những thời gian tầm thường
khác trong cuộc sống. Trong mỗi phút giây kinh nghiệm của
một con chim ưng, một con chó sói đang săn mồi, chúng là trung
tâm của vạn vật, không còn cần một bí quyết nào của
sự sống chân thật nữa. Trong ngay hơi thở này của chúng
ta, có tàng chứa cái yếu chỉ mà những vị đại sư hằng
cố gắng trao truyền lại, mà một vị Lạt Ma gọi đó là
"sự chính xác, mở rộng và tuệ giác của giây phút hiện
tại". Mục đích của thiền tập không phải là để giác
ngộ, mà là để biết chú tâm, dù trong những giây phút tầm
thường nhất, thật sự có mặt, thật sự hiện hữu và mang
chánh niệm của giây phút hiện tại này vào trong mỗi sự
kiện của đời sống.
Peter
Matthiessen, The Snow Leopard
8.-
LÊN THANG LẦU
Trong
đời sống hàng ngày chúng ta có rất nhiều cơ hội để thực
tập chánh niệm. Ðối với tôi, việc đi lên thang lầu là
một dịp rất tốt. Khi ở nhà, tôi làm việc ấy có đến
cả trăm lần. Tôi làm việc ở dưới lầu, nhưng thường
khi tôi cần phải lên lầu để lấy một cái gì đó, tìm
một vật gì, hoặc nói chuyện với ai, nên tôi cứ lên và
xuống thang lầu rất thường xuyên.
Tôi
khám phá ra rằng, tôi thường bị lôi kéo bởi ý muốn đi
đến một nơi khác, hoặc bởi một sự việc nào đó, tôi
nghĩ rằng nó cần được xảy ra. Khi tôi bắt gặp mình đang
phóng nhanh lên lầu, từng hai nấc thang một, có lúc tôi có
chánh niệm đủ để nhận thức được sự vội vàng đó.
Tôi ý thức được hơi thở hào hển của mình, biết được
tim mình đang đập nhanh cũng như là tâm ý. Tôi thấy rằng
con người tôi trong giây phút đó, đang bị thúc đẩy bởi
một mục tiêu vội vã nào đó, mà có khi tôi quên bẵng mất
khi đã lên đến nơi.
Khi
tôi ý thức được cơn sóng của năng lượng vội vã ấy
trong chánh niệm, lúc đang còn đứng dưới thang lầu hoặc
khi mới vừa bước lên, tôi sẽ cố ý đi chậm lại. Không
những tôi chỉ bước từng nấc thang một, mà còn thật là
chậm, có lúc một hơi thở vào ra cho mỗi bước chân, tự
nhắc nhở rằng mình không có một nơi nào cần phải đến,
và không có gì cần thiết đến nỗi mình không thể chờ
đợi được, để có thể thật sự sống trọn vẹn với
một giây phút này mà thôi.
Tôi
để ý thấy rằng khi tôi nhớ để làm việc ấy, tôi có
thể tiếp xúc được với quá trình lên thang lầu của mình
và được vững vàng hơn khi lên đến nơi. Tôi cũng khám phá
ra được một điều này là không có một sự vội vã nào
từ bên ngoài hết. Chỉ có trong tâm ta, nó bị thúc đẩy
bởi sự thiếu kiên nhẫn hoặc những sự lo lắng vô ý thức.
Những sự vội vã trong tâm rất là tinh tế, tôi phải lắng
nghe thật kỹ mới có thể nhận diện được và chúng cũng
mạnh mẽ lắm, không có thể làm lay chuyển nổi. Nhưng dù
vậy, ta bao giờ cũng có thể có chánh niệm về chúng cũng
như những hậu quả của chúng, việc ấy sẽ giúp ta khỏi
bị hoàn toàn lôi cuốn theo. Và lẽ dĩ nhiên, tôi cũng có
thể thực tập trong khi đi xuống thang lầu nữa. Trong khi đi
xuống ta sẽ dễ bị đi nhanh hơn, và cố ý đi chậm lại
sẽ là một sự thử thách.
Thực
tập: Hãy xử dụng những việc làm hàng ngày nào có tánh
cách đều đặn trong nhà, để làm cơ hội cho ta thực tập
chánh niệm. Khi ta đi ra cửa, trả lời điện thoại, tìm kiếm
ai, đi vào nhà tắm, giặt đồ... đều là những cơ hội để
ta có thể chậm rãi lại và tiếp xúc với giây phút hiện
tại. Ghi nhận sự thúc đẩy trong tâm mỗi khi ta nghe tiếng
chuông điện thoại hoặc chuông cửa reo. Tại sao bạn cần
phải vội vàng trả lời nó ngay, cho phép nó lôi kéo bạn
ra khởi sự sống mà bạn đang có mặt trong giây phút trước
đó? Sự chuyển tiếp ấy có thể nào được làm từ tốn
hơn không? Bạn có thể thật sự có mặt với những gì mình
đang sống không?
Và
bạn cũng nên tập có mặt với những công việc như tắm
rửa hoặc ăn uống. Khi bạn tắm, bạn có thật sự là đang
tắm không? Bạn có cảm giác được nước đang chảy trên
da, hay là bạn đang phiêu du ở một nơi nào khác, trôi dạt
trong sự quên lãng, mà không hề biết là mình đang tắm. Ăn
uống cũng là một cơ hội rất tốt để thực tập chánh
niệm. Bạn có nếm được mùi vị của thức ăn không? Bạn
có ý thức được mình đang ăn nhanh hay chậm, nhiều hay ít,
lúc nào, ở đâu và ăn những gì không? Bạn có thể nào biến
trọn một ngày thành những cơ hội để sống trong hiện tại,
hoặc mang ta trở về với phút giây hiện tại không?