CẦU
PHÁP
Nghiêm
Xuân Hồng
Giáo
lý của Ðức Phật, những lời từ kim khẩu Phật dạy, thường
được gọi là Pháp mầu.
Tại
sao lại Pháp mầu? Bởi vì Pháp đó là những giọt thuốc
chân lý, là ngón tay chỉ đường cho chúng ta vốn là những
kẻ từ muôn kiếp vô thủy lạc đường giữa rừng sâu đêm
tối của sáu nẻo luân hồi trong tam giới, thường chỉ chạy
theo những ánh đèn ào, chập chờn như ma chơi, nên không ra
khỏi rừng. Nay có một Ðức Bồ Tát động lòng từ
bi hiện hóa thân làm một vị Phật, hoặc làm một ông lão
già chống cây tích trượng, hoặc hóa làm một cây cổ thụ,
hoặc một con quỷ tùy theo duyên nghiệp của kẻ lạc đường,
rồi dùng một lời chân thật hay một câu ngụ ngôn bóng gió,
khiến cho chúng sinh đó như bừng tỉnh một giấc trầm kha,
rũ được những bóng vô minh của tam giới, và nhìn thấy
con đường mình nên đi. Noi theo mon men con đường đó
ngày càng thấy tâm thức mình lắng xuống, thấy sáu nẻo
luân hồi dần dần vắng lặng thanh tịnh, vuốt mặt thấy
bớt nhăn nheo, soi tâm thấy bớt phiền não, như thế không
gọi Pháp mầu thì gọi là gì?
Bọn
chúng ta không có nhiều túc duyên nên chưa được sinh vào
kiếp tăng, có hội Long Hoa, nên còn chịu cảnh chiến tranh,
tang tóc, chia ly, tha hương và lưu đầy. Nhưng cũng còn
một chút căn cơ tốt, vì chưa bị sinh vào giai đoạn cuối
cùng của thời mạt kiếp. Nên còn thoát được chiến
tranh và những bạo ngược của loài người. Và nhất
là còn giữ được cái thân huyễn, để dùng tai và mắt nghe
và đọc những lời của Pháp mầu.
Thoáng
nghĩ thì chưa thấy tầm quan trọng của cơ duyên may mắn đó.
Nghĩ sâu hơn, phải nhận đó là một túc duyên may mắn, không
có mấy sự may mắn nào khác hơn được. Là vì nếu
tỉ dụ như mình sinh vào thời buổi mạt kiếp, kinh sách mất
hết, không còn một ai nhớ đến Pháp mầu, loài người tàn
ác đến mực trông thấy nhau là chỉ muốn chém giết, hoặc
nh7 sinh vào cõi Bắc-Cu-Lưu-Châu, ở đấy chúng sinh rất sung
sướng nhưng không ai biết Phật Pháp, thì làm sao chúng ta
có thể nghe được Phật Pháp, để biết thế nào là mê,
thế nào là tỉnh, thế nào là thực, thế nào là huyễn, để
ra khỏi cảnh mê đồ của nơi dục giới này?... Bao nhiêu
nỗi mêm mê tỉnh thỉnh, bao nhiêu điều ngờ vực trong tâm
thức, nhưng sự học thế gian không đánh tan nổi, chỉ có
những lời Phật mới giải được toàn vẹn mà thôi.
Vì
thế, Pháp được đặt vào hạng Tam Bảo, ngang hàng với Phật
và Tăng.
Nhưng
không phải chỉ riêng bọn chúng sinh ngu muội như chúng ta
mới cần câù Pháp mà thôi. Các bậc cao như Thanh Văn,
La Hán, các bậc Bồ Tát lại càng cần cấu Pháp hơn nữa,
và càng cao bao nhiêu hoài bão cầu Pháp cần khẩn thiết hơn.
Thưở
nhỏ, chắc ai cũng đọc chuyện Tây Du Ký, kể chuyện Ngài
Huyền Trang sang Tây Trúc cầu Pháp. Cuộc hành trình thiên
nan vạn nan, đường đi khó hơn vào Ba Thục, mà hành trang
chỉ có một cây tích trượng, một con ngựa ốm, và một
bài chú Tâm Kinh do Ô Sào Thiền Sư (tức là vị thiền sư
ngủ trong một cái tổ quạ trong rừng) dạy cho. Dù biết
là lòng thành cầu Pháp đó đã khiến cho các chư thiên thấy
nóng ruột, phải nhìn xuống và đi hộ trì dọc đường cho
Ngài Huyền Trang.
Trong
Kinh Ðại Bát Nhã, có chép chuyện Ngài Bồ Tát (hình như tên
là Ðàm Vô Kiệt thì phải), vì muốn cầu Pháp Bát Nhã, đã
bán tim và óc của mình, để mua đồ lễ, rồi sang một nước
khác cầu Pháp.
Ngay
đến đức Thích Ca trong vô lượng kiếp quá khứ, khi chưa
thành đạo, đã nhiều lần xả thân cầu Pháp. Trong Kinh
Hiền Ngu chép rất nhiều tích đó. Ðại khái là vào
một kiếp nào đó, đức Thích Ca có phước báo đầy đủ,
được sinh làm một vị vua có 3000 cung tần mỹ nữ.
Nhưng Ngài vẫn thấy khắc khoải, mang mang nhớ rằng hình
như có một vị Pháp giải thoát mà chính mình lại không nhớ
rõ ra sao. Ngài tuyên bố cầu Pháp, và cam kết rằng kẻ
nào bảo Pháp cho Ngài thì muốn đòi gì Ngài cũng ưng thuận
trước hết. Lòng thành khẩn của Ngài đã gây một luồng
ba động mãnh liệt, khiến trên cõi trời, các chư thiên cũng
thấy nóng ruột. Có một vị chư thiên còn nhớ được
một vài câu Phật Pháp của các vị cổ Phật. Bèn hiện
xuống làm một vị đạo sĩ, và đòi điều kiện đức Thích
Ca phải xả thân chặt xương lóc thịt. Ðức Thích Ca
không chút ngần ngại làm ngay, rồi được nghe hai câu kệ,
đại khái như sau:
Mọi
sự vật đều vô thường,
Vì
do nhân duyên sanh.
Hai
câu kệ này, mới nghe như thoang thoảng không thấy gì.
Nhưng ngẫm kỹ, mới thấy man mác như trời biển. Trong
lịch sử, nhiều người ngồi trong núi, suốt đời chỉ quán
mười một chữ đó, cũng đủ đắc A La Hán.
Tinh
thần cầu Pháp là như thế.
Và
Pháp mầu ở chỗ mới nghe thì như không thấy gì, nhưng suy
ngẫm kỹ thì một đời cũng chưa hết.
Ngày
nay, ở giữa thời mạt kiếp, các tà kiến lộng hành, Phập
Pháp tuy có phổ biến, nhưng vì căn cơ chúng ta thấp kém,
nên pháp môn nào cũng thấy khó. Người xưa đôi khi chỉ
nghe một câu, một chữ cũng có thể chứng ngộ. Ngày
nay, chúng ta nghe hàng chục pho kinh mà chưa thếy tâm mình cựa
quậy. Ðối với căn cơ đa số chúng ta, thiền định
là một pháp môn khó vào, vì cheo leo, như vách đá, và khôngcó
tha lực.
Nên
đa số cần níu vững lấy câu niệm Phật, hoặc cầu chú.
Kinh dạy rằng một người niệm Phật hay niệm Chú lớn tiếng
trong đêm khuya, thì chư thiên bay ngang cũng phải dừng lại
nghe. Và suy ngẫm kỹ, sẽ thấy trong kinh, không có một
câu hay một chữ nào là sai.