CHƯƠNG
1
TÌM
THỰC TẠI CUỐI CÙNG
Con
người, cũng như vô lượng loài chúng sanh khác, từ ngàn xưa
vô thủy, thường bị dằn vặt bởi những nỗi khắc khoải
triền miên. Trong những cơn hoạn nạn, sợ hãi, lo âu kinh
hoàng, hoặc giữa những giây phút xuất thần, con người thường
bị những câu hỏi ám ảnh trở đi trở lại, và thường
thấy rằng những câu hỏi ấy có vẻ như vượt khỏi tầm
tay của mình.Ta là gì ? Kẻ khác là cái gì ? Sự vật là cái
gì ? Vũ trụ là cái gì ? Cái gì đã tạo nên ta và sự vật
? Ta là thực hay là ảo ? Vũ trụ này là thực hay ảo ? Nó
có cùng tận hay vô cùng tận ?..Nó có vẻ huy hoàng, lung linh,
nhưng hình như cũng hay phù du, tàn lụi. Vậy thì có cái gì
gọi là trường cửu miên viễn không ? . Vũ trụ này có ý
nghĩa gì không, hay chỉ là một trò đùa hoặc một lầm lộn
ghê gớm ? Tại sao lại có những đau khổ hoạn nạn, lại
có sanh già bệnh chết ? Tại sao không trường thọ hoài hoài
? Bậc thánh hiền hoặc người ngu muội, chết rồi thì còn
gì không ? v.v.
Ðại
khái những khắc khoải là như vậy . Mang cái thân xác phù
du này, cưỡi trên con ngựa Vô thường, con người lửng lơ
rong chơi giữa một cái vũ trụ lúc nào cũng nửa sanh nửa
diệt, nên không thể không khắc khoải muốn đi tìm một cái
gì miên viễn, một thực tại cuối cùng bền vững trường
cửu để làm chỗ đặt chân.
Do
đó, các triết thuyết các hệ phái, các nền tôn giáo mỗi
mỗi đều cố gắng đưa ra những đáp số ít nhất cho một
số những câu hỏi ấy.
Nhưng
phần đông các hệ phái triết học chỉ đưa ra được một
thứ mê đồ vọng tưởng, rồi chính mình sa lầy trong đó
như con ruồi mắc lưới nhện tơ. Cho nên, kinh Phật thường
gọi các trường phái triết học thế gian là những hý luận,
tức là những trò chơi bằng sự suy tư theo ý niệm, không
thể nào thể nhập được. Thật tướng (tức Thực tại)
và không có lợi gì nhiều cho sự giải thoát.
Tỉ
dụ như phát hiện sinh của Sartre. Sartre là một người rất
thông minh, nhưng thông minh theo nghĩa thế gian trí, và không
có mấy trí huệ. Ông cũng là người còn ưa xu hướng theo
thời thượng thế tục, nên muốn kết tập một thứ triết
thuyết nào phản ánh những tâm trạng ưa ghét của đám đông
quanh mình..Tư tưởng của ông đã đưa ra được vài điểm
đặc sắc : tỉ dụ như ông đã nhìn thấy cái rỗng không
của tâm thức con người (absolue vacuite de la conscience), hoặc
đề xướng rằng tâm thức đôi khi có khả năng hư vô hoá
sự vật (Lesprit parfois a le pouvoir de neantiser les choses).
Tuy
đề xướng như vậy, nhưng không biết khơi đào thêm nữa
sâu vào con đường đó. Cũng như nhiều triết gia cận đại,
ông cũng băn khoăn muốn tìm một cách, một con đường để
hoá giải sự vật (reduction phenomenologique).Nếu ông chịu khó
đào sâu cái rỗng không của tâm thức, thì có lẽ ông đã
nhìn thấy lấp ló con đường hoá giải sự vật. Ðằng này
không. Tuy đề xướng như vậy nhưng ông lại rẽ ngang sang
nẻo khác, để đi tới chỗ bế tắc, vô nghĩa và tuyệt vọng.
Vì có lẽ kết luận đó hợp với tâm tư ông và tâm trạng
thời đại hơn. Tâm trạng của ông là tâm trạng của một
người trí thức, rất trìu mến tâm thức và tâm tư, nhưng
cũng rất ngại ngùng e sợ sự vật. Thời đại ngày nay là
thời đại của những cái tạm gọi là vật, cao trào sự
vật dâng lên, bao vây và bao phủ con người khiến con người
nhiều khi cảm thấy rằng mình chẳng còn giá trị gì, còn
thua xa giá trị của sự vật. Nên ai nấy đều đua nhau tranh
giành, xâu xé để chiếm đoạt sự vật. Không mấy ai hiểu
rằng sự sự vật vật, qua cái diễn trình từ vô lượng
kiếp, chỉ là do sự biến hiện của những tâm tưởng tích
lũy của các chúng sanh mà ra. Và cả cái vũ trụ không ngằn
mé này cũng vậy. Sartre cũng vậy, cũng không hiểu chân lý
đó, vì không chịu dấn thân khổ công miệt mài đào sâu
cái rỗng không ấy nó đã tạo nên mọi sự vật. Rốt cuộc
ông ta vấp phải cái có vẻ thực tại bền bỉ và kiên cố
của sự vật, rồi kết luận rằng "sự vật là một thực
tại lù lù, vô nghĩa. Giữa đám sự vật vây quanh kín mít,
tôi cảm thấy mình như một thứ dư thừa. Có lẽ con người
chỉ là một sự đam mê vô ích." Nhưng vốn là một người
trìu mến tâm thức và tự do của tâm thức, nên ông đành
vớt vát kết luận rằng : "Rốt cuộc, con người chỉ là
một thái độ là phải dấn thân vào một hành động tối
thượng, để làm nổ tan cái tự do của mình vào giữa mặt
sự vật."
Tóm
lại, trên con đường mong hoá giải sự vật để giải thoát
con người, phần đông các triết gia cũng đều lầm lẫn về
đường hướng như Sartre. Vì họ chỉ biết dùng con đường
suy tư bằng ý niệm của ý thức, tức là Cogito mà thôi. Trong
khi đáng lẽ phải dùng con đường Non Cogito, tu Chỉ tu Quán
để đào sâu cái rỗng không của tâm thức, chiếu soi lọt
dần vào Vô thức, rồi phá vỡ Tàng thức và đạt tới Thực
tại Nhất như. Ðến đó, thì đương nhiên mọi sự vật của
pháp giới không ngằn mé đều bị hóa giải, vì pháp giới
chính là sự biến hiện của Tăng thức mà thôi. Cũng cần
nói ngay rằng con đường của chư Phật mười phương và ba
đời chính là con đường siêu tuyệt, để reduction phenomenologique
chứ không có gì khác cả.
Suy
ngẫm kỹ, ta sẽ thấy một sự kiện rõ ràng là : sự vật
bao vây con mắt ta, bao vây quanh ta, không lúc nào là mắt ta
không nhìn thấy vật. Ngay trong giấc ngủ, ý thức ta cũng
nhớ lại những bóng dáng tiền trần và tạo nên những độc
ảnh cảnh sự vật. Cho đến cõi trời vô tưởng, vẫn còn
ngấm ngầm có sự thấy biết. Vậy nếu không hóa giải nổi
sự vật, thì con người không sao tự tại được.
Hãy
nhìn đến khoa học trong việc tìm đáp số. Khác với triết
thuyết, khoa học không nuôi hoài bão muốn hóa giải sự vật.
Khoa học thực tiễn hơn, cẩn thận hơn, chỉ muốn tìm hiểu
sự vật để cải tạo và sử dụng sự vật, để tăng cường
quyền năng của con người. Nhưng trên đường tìm hiểu đo
lường sự vật, khoa học cũng nuôi hoài bão muốn tìm tới
cái then chốt cuối cùng của cái guồng máy đồng hồ của
vũ trụ.Ðã có một thời đầu thế kỷ 20, các khoa học gia
hết sức lạc quan, tuyên xướng rằng chẳng còn bao lâu nữa,
khoa học sẽ phanh phui hết mọi bí ẩn của vũ trụ và sẽ
tìm thấy cái then chốt cuối cùng. Thế rồi họ đi sâu lần
vào lãnh vực cực vi. Nhưng càng đi sâu vào, lại càng thấy
mịt mùng biến ảo, không biết đặt chân chỗ nào, tưởng
chừng như mình lạc bước vào một lâu đài huyền thoại.
Vì các phần tử cực vi cứ HIỆN ra không cùng, ngày càng
biến ảo, không biết lấy cái naò làm viên gạch cơ bản
của vũ trụ.
Những
trang sau đây sẽ đề cập kỹ càng hơn về cuộc phiêu lưu
kỳ thú này. Bây giờ, chỉ cần ghi là các khoa học gia càng
ngày càng nhận thấy rằng : Các sự vật bị nhận biết,
hình như không thể tách rời ra khỏi chủ thể con người
nhận biết. Và nhà khoa học lớn Eddington đã phải thốt ra
câu sau : "Cái vũ trụ này hình như cóc phải là một bộ máy
lớn. Nó giống như một TÂM TƯỞNG LỚN hơn là một bộ máy
lớn" (Cet univers ressemble à une grande pensée, plutôt quà une grande
machine).
Nhưng
điều đó thì lời kinh xưa đã nói rất lâu rồi. Vì kinh
xưa dạy rằng Trần không thể tách khỏi Căn được, và vũ
trụ chỉ là những ẢNH TƯỢNG TƯƠNG ƯNG chiêu cảm bởi
những tâm tưởng tích lũy từ vô thủy bởi mỗi chúng sanh
hoặc mỗi loại chúng sanh.
Vậy
về việc tìm đáp số, mặc dầu khoa học ngày nay tiến bộ
vượt bực và mang lại khá nhiều quyền năng cùng thần thông
cho con người, nhưng khoa học cho đến nhiều năm nữa vẫn
chưa thể nói lên lời đáp số cuối cùng về cái bí ẩn
của cái vũ trụ. Vả lại, sự tiến bộ của khoa học thì
cũng như mọi việc ở cái thế gian trần lụy này, nó cũng
vẫn là một đồng tiền hai mặt, có mặt phải thì bắt buộc
có mặt trái.
***
Nay
nhìn đến các hệ thống tôn giáo khác.. Ðáp số của các
tôn giáo lớn, tuy không phải là những phương trình toán học
có thể chứng nghiệm phổ biến, nhưng đáp số thường hoàn
bị, thâm sâu và cao viễn hơn nhiều.
Khoa
học là của những thứ Prométhée muốn cướp lửa của thần
linh và muốn tự xưng là thần linh, trong khi chính con người
Prométhée vẫn còn hàm chứa quá nhiều thú tính.Nhưng các
tôn giáo lớn thì là do chính các bậc Thần linh thị hiện
làm người lãng đãng nói ra qua các thời đại, rồi từ những
miền sa mạc, từ những rừng sâu, núi thẳm coi là đạo trường,
khoan thai và không mong cầu, nhắc nhở lại cho loài người
những chân lý vĩnh cửu, phí thời gian và không gian..Vì loài
người say sưa đuổi theo sự vật, nên luôn luôn quên những
chân lý ấy.
Cho
nên, các tôn giáo lớn như Cơ đốc giáo, Ẫn độ giáo, Lão
giáo.đều hàm chứa một số chân lý lớn. Vì chân lý lớn
nên tồn tại lâu dài. Và một số đông con người vẫn còn
đủ lượng năng để lẽo đẽo hay tận tụy đi theo.
Nhưng
bình tĩnh mà xét thì phần đông các tôn giáo lớn, tuy có
đưa ra một số chân lý vĩnh cửu, nhưng thường dừng lại
ở đó mà không nói lên được cái đáp số rốt ráo tột
cùng.
Ẫn
độ giáo chẳng hạn, giáo lý khá cao sâu. Các tu sĩ Bà-la-môn
thường là những bậc tu thiền định, và nhập những cơn
tam muội khá sâu. Khá sâu nhưng chưa phải là Ðịnh rốt ráo.
Do đó, mới chỉ nhìn thấy một phần cội nguồn của sự
vật.Nên giáo lý đó đã dừng lại ở quan niệm Nhất nguyên
thần hóa, coi Phạm thiên là đấng tạo ra muôn vật. Tuy nhiên
cũng biết dạy rằng : "Vũ trụ này chỉ là một giấc chiêm
bao của Phạm thiên.." Do đó, đã đi gần tới giáo lý Như
Huyễn của nhà Phật. Nhưng các tu sĩ Bà-la-môn chỉ biết
cho đó là một giấc chiêm bao của Phạm thiên mà không hiểu
rằng vũ trụ là giấc chiêm bao của chính cái tâm của mình.
Kinh
Ðại Bát Niết bàn và nhất là kinh Thủ Lăng Nghiêm Vương
đã giải thích rất kỹ càng về hiện tượng tu thiền định
lạc nẻo này. Kinh mệnh danh hiện tượng đó là tam muội
đảo điên. Số là các vị tu thiền định đều phải dùng
sức quán tưởng để phá và hóa giải ngũ ấm ngăn che là
: sắc, thọ, tưởng, hành thức.. Năm ấm đó là năm màn sương
mù che lấp cái Thực tại cuối cùng, nên cần phá cho hết.
Nhưng khốn nỗi là phần đông tu sĩ Bà-la-môn thường chỉ
phá được bốn ấm : sắc, thọ, tưởng, hành. rồi lại dừng
chân nơi Thức ấm. Ðến giai đoạn này, trong cơn tam muội,
các vị đó đều có thể xuất thần thức lên cõi trời Ðại
Tự Tại ở đỉnh cõi Sắc giới. Ngồi trong tam muội, thấy
an lạc quá, cho là niết bàn rốt ráo, ngồi lỳ trong đó.
Lại thấy Thức ấm rất vi tế nhỏ nhiệm, chu biến khắp
nơi, bèn cho là thường hằng. Lại thấy ông Phạm Thiên Ðại
Tự Tại có nhiều thần lực và tự-tại-lực quá, nên thường
lầm nghĩ rằng Phạm Thiên chính là đấng tạo ra muôn vật..
Các
kinh Cơ đốc giáo cũng chứa đựng nhiều chân lý lớn, nhưng
cũng ngừng lại ở nhất nguyên thần hóa. Chú trọng về khiá
cạnh cứu chuộc do lòng Tin, ít phát triển khiá cạnh Trí
tuệ nhận thức. Tuy nhiên, thánh Jean cũng có những cơn xuất
thần nhập định tại đảo Patmas, nên có vision về Apocalypse..
Lão
giáo cũng rất cao sâu. Biết nói tới cái Vòng Hư Vô vốn
là Thực tại bản nguyên . Biết nhắc tới cái Niệm mê mờ
vô thủy , là "do hốt do hoảng ". Nhưng chưa chỉ rõ ràng cái
Vòng Hư Vô ấy chính là Tâm . Tôi trộm nghĩ rằng đức Lão
Tử cũng là một Bồ Tát lớn , thì hiện ra đời ở Trung
Hoa , để chuẩn bị tâm thức của mảnh đất này, chờ đón
kinh điển Ðại thừa cùng thông điệp trực chỉ chân tâm
của ngài Ðạt ma .
Riêng
Ðức Mâu Ni thì chỉ thẳng là cái Tâm, và nói rõ rằng vũ
trụ là HUYỄN HỖA. Pháp giới không ngằn mé này chỉ là
sự huyễn hiện , chỉ là giấc chiêm bao của cái Tâm của
mỗi chúng sanh , của mỗi loài chúng sanh .Triển khai vừa trí
tuệ vừa lòng tin .
***
Ðã
có lần , có một vị Bà la môn tới hỏi đức Phật về nhiều
câu hỏi siêu hình như đã kể ở trên . Ðức Phật chỉ ngồi
im lặng , mỉm nụ cười vi tiếu .
Vì
sao ?
Thực
ra , sự im lặng và nụ cười vi tiếu của Phật có rất nhiều
ý nghĩa . Chỉ xin kể ra ba ý nghĩa :
-
Thứ nhất là Ngài muốn bảo rằng : Tất cả những câu hỏi
siêu hình đó đều chỉ là những câu hỏi và thắc mắc của
một người đương ở trong chiêm bao . Khi tỉnh giấc chiêm
bao , người ấy sẽ tự thấy rằng tất cả những câu hỏi
ấy đều không cần .
Thứ
nhì là Ngài muốn nói rằng : Cái Thực tại cuối cùng mà
ta chứng nhập được trong cơn đại-tam-muội rất sâu , nó
là Pháp thân thường trụ , là Thật tướng , là Chân thiệt
tế , là Chân tâm diệu minh. Nó là minh vì chính nó là Tạng
quang minh luôn luôn chiếu soi không hề ngừng nghỉ . Nó là
diệu , vì nó cực kỳ nhiệm mầu , diệu dụng vô cùng , và
luôn luôn phan duyên và duyên khởi ra mọi sự mọi vật . Nó
là Chân không , nhưng tính chất của Chân không lại chính
là Diệu hữu , vì chỉ từ cái Tột không mới có thể làm
đột khởi nên cái Có mà thôi . Nó lìa ngôn từ , lìa danh
ngôn , lìa mọi ý niệm , nó bất-tư-nghì , chỉ có thể tâm
truyền tâm , không thể dùng lời nói mà diễn tả . Nếu có
dùng đến ngôn từ , thì cũng chỉ là một phương tiện thiện
xảo bất đắc dĩ của cõi Ta-bà này thôi . Vì có nhiều cõi
Phật , trong đó chư Phật chỉ dùng hoặc quang minh hoặc mùi
hương , hoặc tiếng vang , hoặc nụ cười , hoặc tà áo ,
hoặc cơm thơm , hoặc hư không v.v. để khiến các chúng sanh
tâm ngộ mà thôi , chứ không dùng ngôn từ .
Thứ
ba là Ngài muốn bảo rằng : Những kẻ muốn đi tìm Thực
tại cuối cùng , mà cứ con mắt láo liên , lăng xăng chạy
Ðông chạy Tây, tìm quanh kiếm quẩn ở ngoài , thì thực là
nực cười và đáng thương xót ! Tương tự như một kẻ ,
có một hòn ngọc vô giá buộc trong tà áo , nhưng không biết
, cứ chạy đi kiếm kho châu báu . Tương tự như Bính Ðinh
Ðồng tử Hồng hài nhi , vốn chính mình là Thần Lửa , lại
cứ lăng xăng chạy quanh kiếm Lửa . Kẻ đó , trong mỗi sát-na
, đều chìm đắm ngụp lặn trong Thực tại, mà vẫn không
hay không biết . Thực tại đó rất khó tế nhận , nhưng lại
rất bình dị hiển nhiên . Nó ở ngay trước mắt chúng ta
, ở ngay trong mắt ta , trong tai ta , trong sáu căn , trong mỗi
cái nhíu mày nhướng mắt , mỗi cái lay động của thân ,
trong mỗi cái đột khởi của những tâm tưởng vi tế .
Nó
chính là cái Thần quang núp trong sáu căn của mỗi người,
khiến cho con người thấy nghe hay biết . Nó chính là cái-thấy-nghe-hay-biết
. Nhưng đó chỉ là một cách nói tạm mà thôi . Thực tại
ấy sâu thăm thẳm ngàn trùng , và cái thấy nghe hay biết cũng
chỉ là bóng dáng của nó thôi , tương tự như mặt trăng
dưới đáy nước .
Muốn
tế nhận được nó , cần phải khổ công miệt mài , phải
nhất tâm thẳng tiến đừng có dừng ở một con đường tẻ
nào cả , cứ nhất tâm cầu quả Vô thượng , lập thệ nguyện
rộng lớn ôm trọn cả pháp giới này . Vì pháp giới không
ngằn mé này có phải là gì đâu , mà chính là Vô thức của
mỗi chúng sanh ? !. Phải Yết-đế , Yết-đế , Vượt đi ,
Vượt đi . phải ngược dòng. Các đức Như Lai thuận dòng
đi xuống , nhưng chúng sanh phải ngược dòng đi lên . Vượt
cái gì , ngược dòng nào ? Vượt tất cả những màn sương
mù ngăn che là năm ấm , hay bảy đại , hay mười tám giới
. và ngược dòng Vô minh .
Vậy
các ông nên làm con Cá Tích . Cá tích xương nhỏ nghiệp nhẹ
, nên chúng dễ lội ngược dòng suối . Ngược dòng qua mọi
màn sương mù , đừng có dừng chân , vì màn sương nào cũng
là huyễn cả , không phải thường hằng . Dừng chân , tức
là tự mãn tự cho là đủ , là rớt vào ma chướng , rớt
vào ngoại đạo hư vọng , rớt vào định tính Thanh văn và
Duyên giác . Như thế thì các ông đương nhiên sẽ tới Chân
tâm diệu minh , nơi đó tất cả Phật pháp đều hiện tiền
, giải thoát tịch diệt hiện tiền , Thường tịch quang hiện
tiền , diệu dụng vô cùng hiện tiền . Và các ông sẽ tha
hồ vùng vẫy , hoá thân vô lượng cõi , tạo lập nghiệp
hoá vô lượng cõi .
Còn
có thể mong cầu gì hơn nữa ?
Tuy
nhiên tuy Ngài im lặng , mỉm nụ cười hàm tiếu như vậy
, nhưng đối với tất cả câu hỏi siêu hình nói trên , không
phải là Ngài không có đáp số . Trái lại trong các kinh Ðại
thừa , nhất là Lăng Nghiêm , Lăng Già , Hoa Nghiêm , Pháp Hoa
, Ðịa Tạng, Bát Nhã , Viên Giác . có đầy đủ các đáp
số về mọi vấn đề . Về các cõi , về Hoa tạng thế giới
, về cội nguồn vũ trụ , về lục đạo , về 28 từng trời
, về các loại chúng sanh , về các ma sự , về thời gian ,
về không gian , về sự lay động . Lời dạy hết sức hoàn
bị , không một hệ thống tôn giáo nào sánh kịp . Có điều
là những đáp số đó thường được rải rác trên các trang
kinh , tương tự như những ngọn hải đăng lác đác rải trên
mặt biển sương mù . Và kẻ hành giả cần nhìn những ngọn
hải đăng ấy , rồi gắng công lội qua mặt biển .
Nụ
cười vi tiếu cùng sự im lặng cũng nghĩ một số người
lầm nghĩ rằng giáo lý Phật mang mầu sắc một thứ bất-khả-tri-luận
(agnosticisme) . Hoặc lầm nghĩ rằng giáo lý Phật là không
có thần linh . Thực ra thì giáo lý Phật dạy chúng ta thấu
suốt mọi thứ , và không khí các kinh Ðại Thừa thường
là tràn ngập quang minh , tràn ngập thần lực của Phật và
Bồ tát.
Lời
Tựa: Hoà Thượng Thích Mãn Giác
Chương
1: Tìm Thực Thại Cuối Cùng
Chương
2: Pháp Giới Như Huyễn