PHỎNG
VẤN
CƯ
SĨ TỊNH LIÊN NGHIÊM XUÂN HỒNG
Xin
Cụ vui lòng cho biết sơ lược tiểu sử của Cụ.
Tôi
sinh ở Hà Nội, khoảng 1920. Khoảng 1939, vào trường
Luật Khoa. Lúc đó, tình hình chính trị trong nước bắt
đầu chuyển mình sôi động. Thấy chán nản lối học
khoa cử, năm 1941, tôi bỏ học lang thang theo những phong trào
chính trị quốc gia mới xuất hiện. Tuy cũng bị ám ảnh
ít nhiều bởi trào lưu ý thức hệ Mác Xít, nhưng không hiểu
sao, mỗi khi gần gũi, tôi không hề thấy một chút cảm tình
gì với những người thuộc Mặt trận Việt Minh. Năm 1953,
làm luật sư. Năm 1954, di cư vào Nam. Năm 1975, di cư sang
Mỹ. Tôi có viết một ít sách về chính trị, triết
học, văn chương. Từ khi sang Mỹ, nằm dài đọc kinh
Phật.
Cơ
duyên nào đã dẫn dắt Cụ đến với đạo Phật?
Về
cơ duyên đến với đạo Phật, tôi nghĩ mỗi người là một
loài hoa. Có những thứ hoa nở sớm, lồ lộ,lộng lẫy.
Có thứ hao nở muộn. Có lẽ tôi thuộc loại hoa nở
muộn. Thưở nhỏ đi học cũng lười biếng, khờ khạo,
thích đánh bi đánh đáo hơn là học. Lớn lên, chơi với
những người bạn văn nghệ văn nghệ như Vũ Khắc Khoan, bỗng
nghĩ đến chuyện viết lách, thì trong nhiều năm cũng chỉ
nói mồm mà chẳng viết được quyển nào. Cho tới khi
bắt tay vào viết, tôi nghĩ rằng giỏi lắm cũng chỉ viết
được một vài cuốn là cùng, cho ra vẻ mà thôi; không ngờ
về sau cứ viết dài dài. Cho nên dần dần tôi mới hiểu
ra rằng: mọi sự ở đời, trong cuộc sống của mình,
đều chỉ là sự NỞ RA CỦA NHỮNG CHỦNG TỬ NẰM SÂU TRONG
VÔ THỨC của mình. Và mỗi khi nở ra, chúng thường chiêu
cảm sự DẪN DẮT ÐƯA ÐẨY của các vị quỷ thần và thần
linh, và lần lần, tôi cũng hiểu ra rằng, trên trái đất
này cũng như trên vô lượng hành tinh khác, loài người chỉ
có ba bốn tỷ, nhưng quỷ thần và thần linh cùng các loài
chúng sinh phi nhân khác thì vô lượng. Có lẽ cục nghiệp
khắc khoải siêu hình cứ lần lần nở ra trong tôi. Ðọc
sách luật thì thấy chán phè, nhưng đọc những mộng tưởng
kỳ ảo thì rất khoái trá.
Hồi
đó tôi có một người bạn cùng một xu hướng: đó là ông
anh ruột tôi tên là Nghiêm Xuân Cẩn, nay là Thượng Tọa Thích
Tâm Cẩn, trụ trì chùa Một Cột ở Hà Nội. Hai anh em
cứ bỏ học đi thăm chơi các chùa và tuy chẳng hiểu Phật
pháp gì bao nhiêu nhưng cứ vấn nạn lung tung các vị tăng.
Hồi đó chúng tôi hay bàn cãi sôi nổi về vấn đề: “Vũ
trụ là TẬN hay VÔ TẬN ?” mà chẳng biết quyết nghi
ra sao. Sau này đọc kinh Ðại Thừa mới biết đó là
một trong 14 câu hỏi khó trả lời. Và tôi mới thấy
rằng lời kinh xưa đã trả lời vừa bình dị vừa sâu sắc
rằng: khi tâm một chúng sinh còn động niệm, thì vũ
trụ vẫn còn hiện lên bời bời chẳng tận, nhưng khi chúng
sinh đó biết BẶT NIỆM, thì vũ trụ cũng nhòe đi và tắt
luôn.
Nhưng
thực ra, tôi còn một cơ duyên khác để đi vào giáo lý Phật
đà. Cơ duyên này thích thú hơn, có vẻ lãng tử hơn.
Ðó là mấy cuốn tiểu thuyết mà tôi say mê. Hồi chín,
mười tuổi tôi say mê Tây Dy Ký, nhất là nhân vật Tề thiên
đại thánh. Nghĩ rằng nếu mình có được 72 phép
thần thông biến hóa thì mới thực là sướng. Lớn lên
chút nữa, say mê cuốn Lục Giả Tiên Tung với những nhân
vật như Lãnh Vu Băng và Kim Bất Hoán. Mơ màng tu tiên
và luyện đơn trường sanh bất tử. Lớn lên chút nữa,
mê Liêu Trai Chí Dị. Giật mình nghĩ rằng thế giới này có
nhiều thứ chúng sinh phi nhân mà mắt thịt không nhìn nổi.
Thấy có nhiều thứ hồ ly quỷ mị và các thứ tình chướng
giăng mắc.
Lớn
lên ít nữa, đọc Nam Hoa Kinh. Thấy nói: nằm ngủ mơ
màng hóa thành bướm, nhởn nhơ bay lượn... Lấy làm thích
thú, nhưng hồi ấy vẫn hoang mang không chắc ý. Không
chắc rằng cái vụ BIẾN HOÁ đó có thể thực hay chỉ là
một giấc mơ thôi.
Tới
gần 50 tuổi, mới đọc kinh Ðại Thừa. Tôi bàng hoàng
nhận thấy rằng: trong các kinh, chư Phật nhiều như cát
sông Hằng, khác miệng nhưng đồng lời, đều khẳng định
rằng “các cõi, các thế gian đều chỉ là BIẾN HÓA, các
chúng sinh chỉ là biến hóa. Biến hóa của cái TỰ TÂM
ấy. Dệt nên bởi những quang minh của Thần Lực cùngNguyện
Lực của chư Phật cùng đại Bồ Tát, cũng như được
dệt nên bằng quang minh Nghiệp lực của chúng sinh. Những
quang minh của Nghiệp này, xoay vần miên viễn từ vô thủy,
lần lần bị nặng nề bởi vọng tưởng vọng tình, nên xoay
tròn hữu nhiễu, kết lại thành những hình hài chúng sinh
cùng những cảnh giới y báo.”
Cho
nên tất cả thế gian này chỉ là một trường biến hiện
của Thức tâm, một trường nhân duyên trùng trùng khởi lên,
một trường ào ảnh... chẳng phải hư, nhưng cũng chẳng phải
thực.
Những
điều đó thường được giảng dạy trong các kinh, nhất là
kinh Hoa Nghiêm. Tôi bàng hoàng vì lời kinh xưa không ngờ
rằng lại rốt ráo xác nhận cái khả năng BIẾN HÓA KHÔNG
CÙNG của Tâm thức; vì đó chính là giấc mơ thưở nhỏ của
tôi. Từ đó tôi say mê kinh Ðại Thừa và chính chân
lý ấy làm tôi sống. Ðôi khi tôi trộm nghĩ rằng:
một người chỉ cần có một niềm TÍN GIẢI sâu chắc vào
chân lý Duy Tâm sở hiện, thì có thể đi qua các cõi, các
kiếp một cách thong dong yên ổn, tuỳ duyên kiếp ứng....
Vì sao? Vì đó là giáo lý tối thượng về Ðạo lý vận
hành của pháp giới này và các vị Quỷ thần vương đều
phải kính trọng.
Xin
cụ cho biết ý kiến người Phật tử Việt Nam hiện nay nên
làm gì để hộ trì CHÁNH PHÁP và góp phần xây dựng DÂN
CHỦ cho đất nước?
Về
hộ trì CHÁNH PHÁP, vì căn cơ mỗi người đều đa dạng,
nên những phương tiện thiện xảo chắc có nhiều. Hoặc
có thể tạo lập những tổ chức, đào tạo những đội ngũ...
tuỳ tâm người thích làm. Nhưng riên tôi chỉ chú trọng
và khuyến tấn một phương pháp: đó là sự ÐỌC TỤNG
KINH và LUẬN Ðại thừa để khuyến tấn mọi người LẶNG
LẼ đi vào miền Tự giác của Tâm thức mình, và nhận thấy
được cái bí ẩn của Tâm thức và Pháp giới. Ðồng
thời, khuyến tấn phát Bồ Ðề Tâm để Phật chủng không
dứt đoạn. Phương pháp này không ồn ào và chậm chạp,
nhưng kết quả vững hơn. Nó thiên về Phẩm, về Huệ
tâm. Trong ba môn học Giới, Ðịnh, Huệ thì nó thiên
về Huệ, về Huệ Tâm. Giới và Ðịnh thường có thể
sinh Huệ, nhưng Huệ tâm ngược lại cũng sinh ra Ðịnh tâm
và Giới tâm. Và một Phật tử, khi đã có niềm tín
giải Ðại Thừa, người đó có thể thong dong đi qua cuộc
sống, tự tìm cho mình một con đường xử thế và tu tập.
Trong những hoàn cảnh hiểm nhèo, gió nghiệp thổi lên ào
ào, người đó vẫn có thể đủ tỉnh trí để tìm cách đối
phó với trường ảo ảnh.
Về
xây dựng DÂN CHỦ cũng vậy. Nếu dân trí cao thì thể
chế dân chủ sẽ xuất hiện.
Xin
Cụ cho biết, theo ý Cụ, pháp môn nào nên hoằng dương hiện
nay?
Trong
hàng ngũ Phật tử, cả tăng và tục từ xưa đến nay cứ
hay cãi nhau hoài về pháp môn, ví dụ như cãi nhau về Thiền
và Tịnh.
Các
vị cãi cọ đó đều không hiểu rằng tất cả pháp môn nhà
Phật đều là Thiền cả. Vì sao? Vì đều QUÁN CÁI TÂM,
Nhưng mỗi trường phái thường dùng những PHƯƠNG TIỆN KHÁC
NHAU để quán Tâm. Quán thế nào để có thể đi xuyên
qua bốn màn sương mù ảo ảnh là SẮC THỌ TƯỞNG HÀNH ẤM
để lọt vào biển không của Tàng thức sở năng biến, rồi
lại lặn sâu xuống chỗ đáy biển Tột Không Diệu Hữu.
Những
vị tu Thiền thường là đi thẳng vào cái Tâm trơ trụi để
quán mà chẳng cần dùng một phương tiện nào cả. Những
môn phái như của Hoà Thượng Thanh Từ thì tuy vẫn giảng
nói nhiều về ngữ lục đốn ngộ, nhưng trên thự tế thì
hòa thượng tu Như Lai Thiền và dụng công cốt yếu là TRI
VỌNG.
Phái
Thiền đốn ngộ kiến tánh thì đề xướng dùng Tham Thoại
Ðầu và đề khởi Nghi Tình, dùng nó làm mũi dùi phá vỡ
nền vô thức để lọt vào thiên la địa võng cát đằng kim
cổ dệt nên bởi ý thức, phá vỡ Ý thức để lọt vào biển
Tánh, tức biển hào quang của Tàng thức sở năng biến.
Tu
Tịnh Ðộ cũng là Thiền vì cũng nhằm đi tới NIỆM PHẬT
TAM MUỘI. Dùng câu niệm Phật hoậc quán chiếu đức
A Di Ðà, đi xuyên qua bốn màn sương mù, để lọt vào Tàng
thức sở năng biến. Vào tới đó sẽ thấy đức A Di
Ðà, vì hào quang của cõi cực lạc là hào quang của Tàng
thức sở năng biến, tức là hào quang hiện thức đầu tiên
của Diệu Tâm.... Tu pháp môn này thì dễ hơn, vì dựa vào
nguyện lực ÐẠI BI của đức A Di Ðà cùng chư Phật.
Tu
Mật tông cũng là Thiền, mà là một thứ Ðại thiền định.
Dùng rất nhiều PHƯƠNG TIỆN để làm nảy nở tâm thức và
chiêu cảm thần lực gia trì. Những phương tiện là:
Dùng lễ Quán Ðảnh thờ phương vị Bổn Tôn Yidam của mình,
dùng mạn Ðà la để triệu thỉnh, dùng Thân mật do sự kết
ấn, Khẩu mật do tụng chú, và Ý mật do sự quán chiếu chủng
tự. Nhưng tu pháp môn này rất khó.
Chúng
ta sinh nhằm thời mạt pháp. Căn cơ thường chỉ là hạ
căn hoặc trung căn. Trong lòng đầy phiền não kiết sử,
nhiều chấp ngã và đầy tham dục. Chung quanh toàn là
nghịch duyên, vì đều đuổi theo VẬT. Không có mấy
ai biết NHÌN TÂM. Lại sống giữa Dục giới của Ma vương
nên Tâm niệm đều chấp Ngã và Tham dục.
Nên
thiển nghĩ đại đa số nên tu theo Tịnh Ðộ, tham bác một
ít Tọa Thiền niệm Phật, và tụng Thần chú. Thần chú
có công năng huy động pháp giới, loại trừ ma chướng đầy
rẫy.
Thưa
Cụ, nên làm cách nào để đào tạo tăng tài và các thế
hệ thanh niên Phật tử ưu tú cho Việt Nam? Ví dụ như chương
trình giáo dục hiện đại hóa, dấn thân vào đời..v..v..
Tôi
là cư sĩ, không muốn lạm bàn việc đào tạo tăng tài.
Tuy nhiên, hiện ay vì môi trường, nhiều phần tử tăng già
bị băng hoại nặng nề. Nên thiển nghĩ các vị đạo
cao đức trọng trong tăng già, trước khi cho thọ Cụ túc giới
nên thiết lập một cuộc sát hạch về mức độ giới hạnh,
mức độ thiền định và mức độ học hỏi kinh sách của
giới tử.
Trong
hiện trạng, nghĩ tới việc đào tạo tăng tài và Phật tử
là rất tốt. Nhưng riêng tôi, tôi không thấy lo ngại
gì về tiền đồ của Phật pháp trên trái đất này.
Vì sao? Vì sức mạnh của Chân lý tối thượng mênh mang bát
ngát, sức huân tập thâu hút của biển Diệu tâm cũng như
sức thủy triều, sức gia trì của chư Như Lai cùng thần linh
lớn cũng bất khả tư nghì. Dù người có bê trễ, nhưng
vẫn có vô lượng quỷ thần vương cùng thần linh gìn giữ
đạo lý của Như lai tương tự như biển cả, nên tất cả
những giòng suối lau lách, những giòng sông, NGAY CẢ ÐẾN
KHOA HỌC nữa, trước sau cũng phải đổ vào Ðại hải.
(Trích:
Giao Ðiểm Số 9 15-7-1992)