TRANG
TÔN KINH HUYỀN HOẶC
Tường
Vũ Anh-thy
Hoa
nắng không phải là nắng hoa
Hoa
trăng không phải là trăng hoa
Nhìn
hoa nắng , ngắm hoa trăng, có lúc khởi bao nhiêu nghi tình về
thực tại lung linh này.
Nghi
tình không phải là tình nghi
Cho
nên trong ánh nắng, dưới ánh trăng, vắng bặt tri kiến điên
rồ của nhân thế. Hãy nghe một bài thơ của Nguyễn Du:
minh
nguyệt chiếu cổ tỉnh
tỉnh
thủy vô ba đào
bất
bị nhân khiên xả
thử
tâm trung bất dao
túng
bị nhân khiên xẩ
nhất
dao hoàn phục chỉ
trạm
trạm nhất phiến tâm
minh
nguyệt cổ tỉnh thủy
tạm
dịch mơ hồ:
ánh
trăng soi xuống giếng xưa
nước
không gợn sóng cho vừa lòng trăng
không
người lôi kéo lăng nhăng
thì
lòng trong vắng ví hằng giếng xưa
lỡ
ai khuấy động đong đưa
xôn
xao giây lát lại vừa lắng yên
tấm
lòng lặng lẽ như nhiên
trăng
xưa giếng cũ một miền hoa nghiêm
Hoa
nghiêm là chốn trăng và nắng đi về không dấu vết, nhưng
kết thành hoa: Hoa-Ðốm- Giữa-trời (chữ dịch của Tuệ
Sĩ, và tình yêu của Tuệ Sĩ ) Hoa-đốm-giữa-không-hư.
Từ tâm tư đó phát khởi tình yêu và đại nguyện (tức Ðại-bi-tâm)
Thế
gian ly sanh diệt
Do
như hư không-hoa
Trí
bất đắc hữu vô
Nhi
hưng đại-bi-tâm
(Kinh
Lăng Già)
Sự
không sinh cũng không diệt là hiện tượng của tình-yêu-không-bờ-mé.
Một niệm khởi đi là trùng trùng duyên khởi. Do bởi ánh
sáng của hoa nắng và hoa trăng kết tập nên thế giới lung
linh huyễn mộng:
tất
cả Phật như bóng
các
Pháp đều như vang
(Hoa
Nghiêm - Phẩm Nhập Pháp Giới)
Hỡi
ơi, như bóng, như vang, như mộng, mà không phải là vang bóng,
hay bóng vang. Cho nên Thiện Tai Ðồng Tử học nói. Lúc xướng
chữ A thời nhập bát-nhã-ba-la-mật-môn là vô-sai- biệt-cảnh-giới.
Lòng không ở mà ở. Không ở thì vô sở trụ. Ở thì huyễn-trụ.
Cái ngụ ý cua kinh thật là huyền hoặc.
Cho
nên tiểu thuyết đặt tên là Trang Tôn Kinh Huyền Hoặc. Cái
đặc biệt là trong sự huyền- hoặc-mơ-hồ-đến-hồ-đồ-bỡn-cợt
kia lại mở ra và khép lại bằng một lời-kinh-kỳ-bí-đến-nghiêm-
trang. Chiếc thang của truyện là mỗi tờ giấy trắng chữ
đen. Chiếc thang của giấy mực lại là cỏ cây hoa lá chốn
rừng xanh núi biếc. Và chiếc thang của tâm linh ngoi mãi nơi
bùn lầy để bước vào đóa hoa sen kỳ lạ: hoa nghieâm.
Phải
chăng tác giả Nghiêm Xuân Hồng muốn người đọc, đọc lại
thơ Nguyễn Du, đọc lại lời kinh xưa chưa hiển lộ. Ðọc
lại lòng mình, tâm tư mình, không vang bóng, chẳng bóng vang.
Cái tâm của Như Lai chân diện mục. Tác giả muốn đục bỏ
mọi giả-hiện của thế-gian, để phát khởi đại-bi-tâm.
Cho
nên có Thạch-sanh thì phải có Long- Cuồng-huệ. Có Long Cuồng
Huệ thì có Càn- Thát-bà. Có Càn-thát-bà lại có Phi-ly và
tất cả. Có tất cả phải xoay quanh công chúa Mỵ-ê là bóng
của hoa. Bóng của hoa là nắng, hình của hoa là trăng.
Giữa
Hoa Nắng và Hoa Trăng là câu chuyện tình Trang Tôn Kinh Huyền
Hoặc.
Hoa
nắng màu vàng
Hoa
trăng màu vàng
Trang
Tôn Kinh Huyền Hoặc hình như cũng màu vàng
Tất
cả mọi màu vàng của hoa đều là Bát Nhã
Uất
uất hoàng hoa
vô
phi bát nhã
Hỡi
ơi:
hành
thâm bát-nhã-ba-la-mật-đa thời
chiếu
kiên ngũ uấn giai không
độ
nhật thế khổ ách. . .
Tường
Vũ Anh-thy
MẤY
LỜI GIÁO ÐẦU
TRANG
TÔN KINH HUYỀN HOẶC
Cảnh
giới trong kinh mênh mông bát ngát. Ý thú của lời kinh
cũng mênh mông bát ngát. Mênh mông hơn đại hải và sâu
hơn đại hải. Mênh mông dường như hư không, nhưng vô
tình hướng hơn hư không, tương tự như dấu chim bay, khó
tìm thấy dấu vết.... Và tuy vô hình tướng, vẫn hieån
hiện đầy đủ các sắc tướng, các cảnh giới, các chúng
sinh vô lượng, vô biên như những hạt cát của vô lượng
sông Hắng.
Lời
kinh như hư như thực, như mộng như tỉnh, nhưng tuy như hư
như thực vẫn không có mảy may hư vọng. Suy nghĩ kỹ
thì thấy chân lý của kinh vẫn là chân lý của muôn thuở,
và con người hoặc loài chúng sinh khác không sao thoát khỏi
thiên la địa võng ấy, trừ phi tuân theo lời kinh. Do
đó, kinh mới được lưu truyền lâu dài ở các cõi thế gian.
Sau
đây là ghi lại câu chuyện mộc mạc của mấy Ðại Quái,
đam mê và lạc lõng vào thế giới của kinh, thế giới của
tâm thức.
Nếu
trong những trang sau, có câu nào sai lạc với ý kinh thì kẻ
viết xin sám hối về tội vọng ngữ....
Nghiêm
Xuân Hồng
TÓM
LƯỢC NỘI DUNG BA QUYỂN ÐẦU
Ðây
là kể lại câu chuyện mộc mạc đơn sơ của mấy Ðại Quái
đam mê lạc lõng vào thế giới của Kinh, thế giới mịt mùng
của tâm thức.
Thạch
Sanh vốn kiếp trước tên Mạn Thù Ðắc Thất Ðồng Tử,
và là đệ tử của đức Quán Thế Âm. Nhưng vì trong một
phút buông lung say rượu, lỡ tay đánh cháy mất bộ kinh Pháp
Bảo Du Hyù Thần Thông Biến Hóa Kinh, nên bị đọa xuống
làm một anh tiều phu thực thà xấu xí... Rồi do cơ duyên
run rủi, đi xuống âm cung tạ lỗi cho nàng công chúa Mỵ Ê,
dọc đường được thấm mấy giọt hào quang của ngài Ðịa
Tạng, nên được trở về dương thế, nhưng phải xuống tóc
làm sa môn đi sang Tây Trúc thỉnh kinh Du Hý Thần Thông.
Lúc
sống lại, gặp Long Cuồng Huệ và Càn Thát Bà đương đi
ta bà dưới nhân gian...
Cả
ba vượt biển sang Tây Trúc thì dọc đường, gaëp nạn nữ
quỷ La Sát Vương... Tình trạng trở thành nguy ngập thì bỗng
có vị cao nhân tấu bản đàn Huyền âm Khúc giải cứu bọn
Thạch Sanh.
Vừa
thoát nữ La Sát, bọn ba người gặp được Phi Ly... Phi Ly,
vốn là một con hồ có cánh, thác sanh tại đảo Qua Oa ấy.
Kiếp trước, gã vốn là một tay Bà La Môn tu sĩ của Vệ
Ðà Giáo, nhưng tu hành dang dở rồi bị rơi vào cơn điên
loạn do một khuôn mặt nữ nhân. Khi nổi cơn điên loạn,
gã thường nẩy tâm thù ghét bầy quạ đông đảo hay kêu
quang quác, bèn tìm cách giết chúng... Nên sau khi chết, gã
thọ sanh làm loài chồn có cánh căm thù loài quạ.
Phi
Ly xin nhập bọn, rồi cả bốn lại vượt trùng dương...
Dọc đường, gặp nạn cá Ma Kiệt, vốn là một thần vật
xưa kia vì bạo tàn quá mức nên bị đọa làm loài cá.
Rồi đi ngang qua đảo Laêng Già, gặp một Ðịa Hành Dạ Xoa,
kể lại cho nghe câu chuyện đức Phật trước kia thuyết kinh
tại đảo Lăng Già.
Rồi
tới đất liền miền Tây Trúc, đi hướng về phía Bắc.
Dọc đường, gặp một nhân vật Sãi Vệ Ðà Giáo, tên là
Trảm Tứ Cú... Gã này đi lang thang, trên vai gánh một đôi
lồng trúc lớn, nhưng rỗng không, coi đó như biểu tượng
công án, và đi ta bà tìm người giải đáp công án... Gã mắc
một căn bệnh trầm kha gọi là bệnh Bát Nhã Hồ Ðồ...
Cả
bọn tiến tới thành Tỳ Xá Ly... Gặp một ni cô xinh đẹp
đi đường, tay dẫn một đứa trẻ đầu để trái đào...
Ðứa nhỏ tên laø Lão Hồ Tử... kêu ca đi mỏi chân, và đòi
chui vào nằm khoèo trong chiếc lồng trúc của Trảm Tứ Cú...
Cả
bọn đi tới một quán trọ trên đèo.
Nhưng
đêm đó, Lão Hồ Tử vốn là một nhân vật cao thâm khôn
lường, đã nằm khoèo trong lồng, và thi triển một màn Biến
Hóa tuyệt vời. . . để dạy cho eả bọn về cái bí ẩn của
pháp giới này, cũng như về Chân Lý tối thượng Duy Tâm Sở
Hiện...
Sang
cuốn ba, cả bọn tiếp tục cuộc đăng trình.
Tới
thành Tỳ Xá ly, Thạch Sanh gặp lại một nhân vật tên là
Bát La Hoa, mà trước kia, chàng đã gặp một lần dưới âm
cung khi chàng xuống đoù để tạ lỗi cho nàng công chúa Mỵ
Ê. Chàng cứ tưởng Bát La Hoa đã chết rồi, nào ngờ vua
Diêm Vương đã cho gã sống lại trở về dương thế, vì gã
thường đeo trước ngực chiếc bọc đựng một cuốn kinh...
Rồi sau khi sống lại, vì thất tình, Bát La Hoa đã vỗ đít
đi tieáu ngạo giang hồ và lạc sang miền Tây Trúc.
Khi
được gặp lại Thạch Sanh, Bát La Hoa vì chẳng có việc gì
làm, nên xin nhập bọn cùng đi thỉnh kinh... Tuy gã chẳng biết
kinh kệ gì, nhưng lại có taøi nghệ thỉnh chuông.
Dọc
đường, Long Cuồng Huệ đắc thiền, vào được Thiền Thức
Xứ.
Trảm
Tứ Cú cũng tập tễnh tu thiền, nhưng Thiền lạc nẻo, nên
rớt vào cơn tẩu hỏa nhập ma khá trầm kha.
Cả
bọn đi tới thành Hoa Thị. Nơi đây, có nữ quaùi Khuất La
Ðô mở ngôi Lạc ảnh Quán, và mở hội Chiêu phu. Cả bọn
Thạch Sanh cũng lạc bước tới dự hội Chiêu phu.
Rồi
họ đi tới thành Ba La Nại. Nơi đây, vị ni cô xinh đẹp
tên Tịnh Ðế bị nhà vua xứ đó cùng các sãi Vệ Ðà buộc
tội ăn trộm nhưõng bảo vật trong tòa đại miếu Vệ Ðà.
Và bị đưa ra trước pháp đình xét xử. . . Bọn Thạch Sanh
cũng bị tới pháp đình, và trong phiên xử, Bát La Hoa đã
hiến trái tim Lộ Thiên của mình để chữa bệnh nhà vua và
giải cứu ni cô...
Cuốn
bốn này tiếp tục cuộc đăng trình tới Lôi aâm Tự, và
là trọn bộ.