Xây Dựng
Nền Tảng
Chương
3
Quan
Điểm Và Ý Kiến
Bát Chánh Đạo, con đường đưa đến giải thoát, Niết bàn,
bắt đầu bằng Chánh kiến. Vậy chánh kiến là gì?
Trong Phạm Võng kinh (Brahmajala-sutra), Đức Phật liệt kê sáu
mươi hai quan điểm, tất cả đều là những quan điểm sai
lầm vì chúng bị che phủ bởi màu sắc của cái ghét, cái
ưa do ảo tưởng về Ngã tạo ra. Đó là điều quan trọng
cần ghi nhớ. Quan điểm, ý kiến thường dẫn đến tranh
luận, sân hận, lo lắng, sợ hãi, tạo ra kẻ thù, mà chưa
chắc rằng chúng đúng. Làm sao chúng có thể hoàn
toàn đúng khi chúng ta còn chưa đạt đưọc Giác Ngộ.
Nói thế không có nghĩa là chúng ta không thể có ý kiến hay
quan điểm. Nhưng nên nhớ: ý kiến, quan điểm chỉ là
những thói quen suy nghĩ của ta về một vấn đề gì đó,
những định kiến về thế giới ta đang sống. Chúng
ta không thể không có ý kiến, quan điểm nhưng cần nhớ rằng
chúng không phải là chân lý tuyệt đối. Do đó, ta có
thể chấp nhận quan điểm của người khác, mà không phải
đưa đến những cuộc tranh cãi để giành phần thắng về
mình. Chúng ta có thể nói: “Đây là quan điểm của
tôi, và đó là ý kiến của bạn”. Hai quan điểm có
thể trái ngược nhau, nhưng không có nghĩa là chúng ta phải
trở nên giận dữ, cãi cọ vì nghĩ rằng chỉ có quan điểm
của mình là đúng.
Thí dụ: Có bốn người bạn đi qua một khu rừng, trong
bọn họ, có một người là nhà thực vật học. Anh ta
đi, tay mang sổ, viết để ghi xuống tên các loại cây, phác
họa các dáng cây. Anh tỏ vẻ rất thích thú trong công
việc đó. Một người khác lại là người chăm sóc bảo
vệ rừng. Anh ta chỉ chăm chú xem những gốc cây nào
đã bị hư hoại để anh đốt đi, hầu tránh lan bịnh sang
các cây khác. Người thứ ba lại là một nhà bảo vệ
môi trường, trong đầu anh phác họa ra những kiến nghị để
bảo vệ rừng cho những thế hệ tương lai. Và người
thứ tư là một nhà chăn nuôi bò sữa. Trong đầu anh
đầy những toan tính xem anh cần phải đốn bao nhiêu cây để
làm chuồng cho đàn bò của anh. Cùng một cánh rừng,
nhưng mỗi người có một cái nhìn riêng. Nếu mỗi người
đều cương quyết bảo vệ cho quan điểm của mình là đúng,
thì chắc họ sẽ khó là bạn của nhau lâu dài. Mỗi
người đều cho quan điểm của mình là đúng, trong khi có
bao nhiêu cách nhìn khác nhau về khu rừng, và họ cũng nghĩ
rằng họ đúng theo cách nhìn của họ. Thật ra ai cũng
có cái lý của mình, nhưng không có ai là hoàn toàn đúng cả.
Mỗi quan điểm đưọc tạo nên bởi cái yêu, cái ghét của
riêng mỗi người.
Chánh kiến của Đức Phật là samma ditthi, tam muội. Chánh
kiến là bước đầu trong Bát chánh đạo, nhưng cũng không
thể thiếu ở các phần tu tập khác. Là bước khởi
đầu, chánh kiến dẫn dắt ta vào con đường đạo, ở giai
đoạn cuối cùng, chánh kiến trở thành chánh định, tức
là trí tuệ của chân lý tuyệt đối. Nhưng trước khi
đến được nấc thang cuối cùng, ta phải tin tưởng
rằng tâm cấu uế có thể đưọc thanh tịnh hóa, rằng tất
cả những phiền nào, khổ đau không ở ngoài ta, không phải
là do lổi của thế giới bên ngoài. Chánh kiến ban đầu
đó là viên gạch lót đường để ta đi vào con đường tâm
linh. Giáo lý của Đức Phật chia làm ba phần: sila, samadhi
và panna. Sila là giới luật, samadhi là định và
panna là trí tuệ. Nhưng Bát chánh đạo bắt đầu bằng
chánh kiến như cánh cửa để vào các cửa khác.
Một khía cạnh khác của chánh kiến là nghiệp.
Tất cả những việc ta làm, nói, nghĩ suy đều ảnh hưởng
lẫn nhau. Khi ta có ý nghĩ thiện, lời nói lành sẽ theo
sau, và từ lời nói lành, sẽ dẫn đến hành động chính
đáng. Nghiệp quả tức thời (vipaka) của những
hành động, lời nói, ý nghĩ này là sự bình an, hỉ lạc
trong tâm, giúp cho việc hành thiền của ta đưọc dễ
dàng, trái với tâm hành thiền trong bất mãn, khổ đau.
Thiền mang lại cho ta sự bình an, hạnh phúc, nhưng ta sẽ không
thể tọa thiền nếu như ta ở trong trạng thái tâm khổ đau,
bất mãn. Vì chỉ có tâm an lạc mới có thể thực tập
hạnh buông xả. Nghiệp quả của tâm ý ta ảnh hưởng
rất lớn đến việc thiền quán của ta. Nên nhớ mỗi
khi ta có vọng tưởng hay hành động gì, là ta đang tạo ra
nghiệp quả cho mình, mà chúng ta thì không ngừng vọng tưởng,
nghĩ suy suốt ngày đêm. Cuộc đời đầy những chuyện
bình thường. Lâu lâu ta mới gặp phải một vài thăng
trầm, biến cố lớn lao. Thường ta chỉ phải trả lời
những câu hỏi không quan trọng lắm như: Tôi sẽ phản
ứng thế nào trong hoàn cảnh này? Giải quyết những
đòi hỏi kia ra sao? Làm sao tôi vượt được hoàn cảnh nọ?
Tâm tôi đang nghĩ gì? Những suy nghĩ của tôi có ích
lợi gì không? Tốt đẹp không? Tất cả những sự
lựa chọn này, từ sáng đến tối, góp phần tạo ra các nghiệp
quả của ta. Dầu chúng không tạo ra những hậu quả
trầm trọng, nhưng chúng cũng ảnh hưởng đến các trạng
thái của tâm khiến việc hành thiền của ta khó có kết quả.
Nên nhớ rằng mỗi lựa chọn của ta đều quan trọng vì đó
là quyết định của chính ta. Đừng để ta phải làm
nô lệ cho những tình cảm của mình hay bị trói buộc bởi
các hành động của mình. Sự lựa chọn nào cũng tạo
ra nghiệp.
Trong phạm vi của các nghiệp quả, ta chẳng có nhiều sự
lựa chọn. Nếu các quyết định của ta càng khôn khéo,
thì ta càng có nhiều cơ hội. Nếu muốn việc hành thiền
của ta đưọc có kết quả, ta cần phải luôn tỉnh thức
trong mọi nghĩ suy, hành động. Chánh kiến giúp ta hiểu
rằng ta là chủ nghiệp của mình, rằng các ý kiến của cá
nhân ta không thể là chân lý tuyệt đối. Ai cũng có
quyền có ý kiến, chỉ nên nhớ không phải lúc nào ta cũng
đúng. Nếu biết suy nghĩ như thế, ta sẽ ít xung đột
với người khác khi quan điểm, ý kiến của họ không giống
ta. Đó là những bước đầu trên con đường đạo.
Con đường dẫn ta đến sự thật tuyệt đối về con người
mà ta gọi là ‘tôi’, với những khó khăn, niềm vui, nổi
khổ, hy vọng, ước mơ, hoài ức riêng. Dần dần ta sẽ
nhận ra rằng con người này có những tình cảm, suy nghĩ hoàn
toàn khác với cái nhìn của chánh kiến về nó, vì có
quá nhiều phiền não trong tâm trí nó. Muốn có đưọc
tâm an lành, ta phải thay đổi bao quan niệm của mình.
Và để có thể hiểu rõ đưọc chính mình, ta cần tâm tĩnh
lặng, tâm đưọc kiềm chế để có thể xoay chuyển nó ra
khỏi những thói quen, định kiến về con người của mình.
Tất cả chúng ta đều có những suy nghĩ về chính bản thân
mình - về khả năng, ưu điểm hay khuyết điểm của mình.
Tất cả chỉ là những quan điểm, không phải là chân lý
tuyệt đối. So với thế giới tương đối ta đang sống,
chúng cũng có cái đúng, cái sai. Nhưng trên bình
diện tuyệt đối, cái tuyệt đối bao trùm vũ trụ, thì tất
cả đều không có nghĩa lý gì. Chân lý tuyệt đối
là mọi thứ đều biến đổi (vô thường). Tất cả
chúng ta chỉ là hiện thân của những biến đổi không ngừng
ở thân, ở tâm. Bốn yếu tố (đất, nước, gió, lửa)
đã cấu tạo nên chúng ta, không có yếu tố nào là chánh
yếu. Tuy nhiên tâm khó chấp nhận những điều này trừ
khi thiền định có thể mang lại cho ta những an lạc, hạnh
phúc hoàn toàn không phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài.
Tâm phiền não không thể nào chấp nhận rằng không có một
thực thể nào đó đang hứng chịu những khổ đau.
Có hai cách để hiểu Phật pháp: một cách tuyệt đối hay
tương đối. Một cách tương đối là tất cả chúng
ta đều phải cố gắng đạt đưọc tâm định. Trên
bình diện tuyệt đối, thì chẳng có ai, thực thể nào để
cố gắng. Để đạt đưọc trí tuệ tuyệt đối, ta
phải dựa vào thực tế tương đối của mình. Nếu
tôi không cố gắng, không thể nào tôi đạt đưọc chân lý
tuyệt đối. Có giai đoạn của suy tư và nhận thức.
Chúng ta sẽ không đạt đưọc mức độ của tâm linh sâu
lắng trừ khi ta đã trãi qua giai đoạn đầu.
Ở giai đoạn đầu, chánh kiến chỉ có tính cách tương đối:
ta nhận thức đưọc rằng ta có thể tu sửa bản thân, có
hiểu biết về nghiệp quả, hiểu biết rằng tất cả mọi
quan điễm của ta đều chỉ có giá trị tương đối.
Thực hành Bát chánh đạo dần dần sẽ giúp ta đến được
mức độ thứ hai, đạt đưọc chân lý tuyệt đối.
Một chi phần khác của Bát chánh đạo là chánh tư duy.
Điều tối quan trọng trên con đường tâm linh là cần phải
có sự suy nghĩ đúng. Ban đầu, có thể ta sẽ bắt đầu
bằng một mục đích ích kỷ, chỉ quan tâm cho sự giải thoát
của chính mình. Ta có thể đã tìm đến Đạo vì một
mục đích sai lầm. Nhưng điều đó có thể thay đổi.
Qua thực hành, tư duy của ta có thể thay đổi cho phù hợp
với đạo pháp.
Đức Phật có người em cùng cha là ngài Nanda. Ngài Nanda
không thể quyết định là nên xuất thế đi tu hay ở lại
thế gian lập gia đình như bao người khác. Vì Đức
Phật, người anh nổi tiếng của mình, ngài Nanda cũng muốn
đi tu. Nhưng theo sở thích của mình, thì ngài muốn lập
gia đình. Cha mẹ của ngài Nanda quá mệt mỏi vì sự
lưỡng lự của Ngài. Họ đi hỏi vợ và định ngày
cưới gả cho ngài Nanda. Đức Phật đưọc mời làm khách
danh dự. Sau buổi thọ trai, trước khi đám cưới bắt
đầu, Đức Phật nói với Ngài Nanda rằng: "Nanda, hãy đến,
mang bình bát của ta về tu viện". Ngài Nanda không dám
từ chối, vì Đức Phật là khách mời danh dự, và là người
đưọc tôn kính nhất trong họ tộc. Dầu không mấy sẵn
lòng, ngài Nanda vẫn bưng bình bát theo sau Đức Phật.
Khi họ về đến tu viện, Đức Phật bảo ngài Nanda ngồi
xuống một lát. Ngài Nanda trả lời là Ngài rất bận,
không thể ở lại. Đức Phật lại hỏi tại sao ngài
Nanda lại phải vội vã thế. "Bữa nay là ngày cưới
của con. Thế Tôn đã đến dự tiệc rồi". Đức
Phật nói: "Tại sao ngươi muốn lập gia đình? Có gì quan trọng
trong việc kết hôn?" Ngài Nanda thưa: "Cô ấy rất đẹp.
Con thương cô ấy và muốn lập gia đình với cô ấy.
Con phải đi đây, bạch Thế Tôn". Đức Phật trả lời:
"Nếu ngươi ở đây với ta, tu tập theo lời ta chỉ dẫn,
ngươi có thể có năm trăm người đàn bà đẹp hơn thế nữa."
Ngài Nanda hỏi: 'Thật sao?’ Đức Phật trả lời: "Đúng vậy".
Vì thế ngài Nanda đã ở lại tu viện với Đức Phật.
Thỉnh thoảng, ngài lại đến hỏi Đức Phật: "Năm trăm cô
gái đẹp Đức Phật đã hứa với con đâu?" Đức Phật
trả lời: "Ta đã nói rồi, khi nào ông tu chứng đắc,
ông sẽ đưọc gặp thôi. Giờ thì trở về tu tập thêm".
Ngài Nanda trở về, tin giữ giới luật, chứng đắc, và không
còn hỏi về năm trăm cô thiếu nữ đẹp nữa. Thật
ra điều mà Đức Phật hứa với ngài Nanda là nếu ông tu
hành chứng đắc, ông sẽ đưọc gặp các vị chư thiên đẹp
đẽ gấp bao nhiêu lần những người đàn bà đẹp ở thế
gian. Rõ ràng đây không phải là lý do chánh đáng để
đi tu, nhưng ở thời điểm đó, đối với ngài Nanda thì chỉ
có nói thế mới giữ đưọc ông ở lại. Qua bao công
phu tu luyện, ông đã thay đổi quan niệm của mình. Tóm
lại, ngài Nanda đã không có động lực chính đáng lúc ban
đầu, nhưng sau đó ông đã đạt đưọc kết quả chánh đáng.
Chánh tư duy phải đi đôi với ý chí gắng công tu tập, trong
lúc hành thiền cũng như trong đời sống hàng ngày. Hai
phần này: chánh kiến và chánh tư duy là những bước đầu
trên con đường Bát chánh đạo.
Đức Phật so sánh chúng sanh với bốn loại thuyền. Một
loại dưới đáy có lổ hổng. Chúng ta muốn chế bao
nhiêu nước vào đây cũng đưọc, vì nó lại chảy ra ngay.
Đối với loại người này, khi họ nghe Phật pháp, họ nghe
tai này và để ra tai khác. Loại thuyền thứ hai có những
vết rạn. Khi ta đổ chánh pháp vào đó, nó từ từ,
từ từ rỉ ra cho đến khi trên thuyền lại trống không như
lúc trước. Lọai thuyền thứ ba thì chứa nước bẩn
thỉu lên đến mạn thuyền. Ta không thể chế thêm nước
trong sạch vào đó, vì tất cả đều trở thành là nước
tù ao. Chiếc thuyền có ích duy nhất là chiếc thuyền
thứ tư, không có lổ hổng, không có vết rạn và hoàn toàn
trống không. Sự trống không ở đây không có ý nghĩa
tiêu cực, nhưng hàm ý là nói về tâm không lo lắng, sợ hãi
hay u phiền, tâm đó rộng mở để đón nhận Phật pháp vào
lòng. Tâm đó không chứa đựng các định kiến về con
người và thế giới mình đang sống. Nếu những quan
điểm, suy nghĩ của ta đã không đem lại hạnh phúc, an bình
trong đời sống hiện tại của ta, thì tốt nhất hãy buông
bỏ tất cả để làm chiếc thuyền trống mà chở Phật pháp
qua sông. Khi tâm đã tràn đầy chánh pháp, ta sẽ dần
dần thay đổi cách suy tư để có đưọc chánh kiến.
Khi đã đưọc giác ngộ, giải thoát, có nghĩa là ta không
thấy có gì quan trọng nữa. Không có gì đáng để bám
chặt, chất chứa trong tâm trí. Khi tâm không có định
kiến, nó có thể quan sát sự vật bằng con mắt của đứa
trẻ. Thí dụ nếu nhìn một cái cây với tâm định kiến,
ta sẽ thấy đó chỉ là một cây trong cái nhìn xưa củ, quen
thuộc của ta. Ta không thực sự thấy sự sống trong
cây đó. Chúng ta có thể thích nó vì nghĩ là cây mang
lại dưỡng khí cho ta, hay không thích vì nghĩ kiến có thể
làm tổ trên đó. Có thể ta chăm chút cây vì nó sinh
quả cho ta. Hay đốn bỏ cây, vì bóng cây không cho rau
cỏ mọc lên, nhưng ta chẳng bao giờ thực sự nhìn thấy nó
là gì.
Khi tâm không còn những định kiến, thì ta có thể nhìn thế
giới quanh ta dưới một khía cạnh khác. Hoàn toàn khác
với bây giờ. Mọi thứ đều luôn thay đổi. Như
khi ngồi trên xe lửa, ta có cảm giác như cảnh vật chung quanh
ta di chuyển. Thật ra là xe lửa đang chuyển động nhưng
ta không thế thấy điều đó. Chúng ta cũng thế, đang
ngồi trong một chiếc xe lửa đời chuyển động, nhưng ta
tưởng mình bất động. Đó là một cái nhìn sai lệch.
Nhưng nếu ta có thể nhìn mọi vật quanh ta, và kể cả chính
ta nữa, bằng con mắt không có định kiến, ta có thể đến
gần với thực tại tuyệt đối, từ đó phát triển chánh
kiến, trí tuệ nội tâm. Điều đó phù hợp với những
điều Đức Phật dạy -tự mình phải thực hành, mà không
nên tin một cách mù quáng. Chỉ khi nào ta có kinh nghiệm
của bản thân thì ta mới có thể tiến gần đến chân lý,
không kể đó là kinh nghiệm gì. Còn nếu như ta chỉ
nói về những điều ta nghĩ, ta tin, thì ta chỉ phát biểu
ý kiến, trình bày quan điểm. Và càng có nhiều ý kiến,
ta càng khó có cái nhìn đúng về thế giới quanh ta, hay có
đưọc sự thanh tịnh thiết yếu cho thiền định.
Thật thú vị nếu như ta biết rằng mắt chỉ thấy hình thể,
màu sắc, tai chỉ nghe âm thanh. Tất cả mọi thứ còn
lại đều là sản phẩm của tâm. Không có một thực
tại tuyệt đối nào đúng như những điều ta đã nghe, hay
thấy, nhưng ta luôn phản ứng theo các căn trần. Khi ta
nghe tiếng chim hót hay tiếng chó sủa, thực tại đó chỉ
là tiếng động. Nhưng tâm nói "Chó sủa. Oàn
ào quá, sao chúng không im đi, tôi đang cần im lặng để toạ
thiền". Hay "May mà tôi không nuôi chó". Tất cả
những thứ đó là phản ứng của tâm. Khi mắt nhìn thấy
màu sắc, hình thể, nó giải mã chúng qua những ý thức dựa
trên ký ức. Thật sai lầm khi chúng ta nắm bắt một
ý tưởng rồi cho đó là của mình, cho đó là chân lý.
Thí dụ, cái ta nhìn là một khối, đứa trẻ có thể coi đó
một toà nhà. Điều khác biệt là do mức độ trưởng
thành khác nhau. Sự suy nghĩ của tôi không cần phải
là chân lý. Chúng chỉ là khái niệm, có thể sai cũng
như cảm giác của ta. Thế giời bên trong và thế giới
bên ngoài không giống nhau. Hãy nhớ rằng quan điểm chỉ
là quan điểm, và trên một bình diện tuyệt đối, cả thế
giới này, kể cả chúng ta, không giống như ta nghĩ.
Chương
4
Điều
Phục Tâm
Phiền não đôi khi dấy khởi là do thân tứ đại bất ổn,
nhưng phần lớn là do tâm. Tâm tạo ra bao đau khổ cho
ta, nên ta cần phải biết điều phục tâm.
Chính tâm khiến ta cảm thấy hạnh phúc hay đau khổ –chứ
không do nguyên nhân nào khác. Ta thường phản ứng theo
bản năng trong mọi hoàn cảnh, vì thế ta cần theo dõi tâm
từng giờ từng phút.
Môi trường tốt nhất để làm điều đó là lúc hành thiền.
Trong thiền, có hai trạng thái: chỉ (samatha) và quán (vipassana).
Nếu ta có thể đạt đưọc định, dù chỉ trong một thời
gian ngắn, điều đó chứng tỏ việc tọa thiền của ta có
nhiều tiến bộ. Nhưng nếu tâm định tĩnh đó không
đưọc dùng để phát triển tuệ, thì cũng chỉ làm lãng phí
thời gian. Nếu tâm ta đưọc định, hỉ lạc sẽ phát
sinh, nhưng ta nên nhớ rằng niềm hỉ lạc đó chỉ thoáng
qua. Chỉ có tuệ giác thì không thay đổi. Khi định
càng sâu, ta càng có thể chịu đựng đưọc bao phiền não,
chướng ngại. Lúc ban đầu bất cứ tiếng động, sự
khó chịu hay vọng tưởng nào cũng có thể làm ta bị lôi
cuốn, nhất là khi tâm đã không đưọc an định suốt trong
ngày.
Lúc nào ta cũng cần nhớ rỏ về tính vô thường (anicca) của
vạn pháp, không chỉ trong lúc toạ thiền. Chánh niệm
là trung tâm điểm trong lúc toạ thiền, để đi vào định.
Chúng ta chỉ có thể dành một ít thời gian cho việc tọa
thiền, nhưng ta có thể dành tất cả thời gian còn lại để
quán sát tâm mình. Đó là nơi khiến mọi việc trên thế
gian này xảy đến cho ta. Không có gì có thể hiện hữu
ngoài tâm.
Càng quán sát tâm và thấy đưọc những gì tâm có thể mang
đến cho ta, ta càng cần phải chăm chút cho nó hơn. Sai
lầm lớn nhất của chúng ta là coi thường tâm. Không
biết rằng tâm có khả năng mang đến niềm vui hay phiền não
cho ta. Chỉ những khi ta có thể giữ được bình tỉnh,
an lạc, dầu cho bất cứ hoàn cảnh gì xảy ra, lúc đó ta
mới có thể nói là ta đã phần nào kiểm soát đưọc tâm.
Nếu không, có nghĩa là tâm nằm ngoài vòng kiểm soát của
ta, và lúc đó ta chỉ là kẻ nô lệ cho tư tưởng của minh.
Cái hại của kẻ thù gây cho kẻ thù
Hay oan gia đi với oan gia
Không bằng cái hại của tâm niệm hành ác
Gây ra cho ta.
Chẳng phải cha mẹ
Hay thân bằng quyến thuộc
Nhưng chính tâm niệm chánh thiện
Khiến ta thêm tốt hơn.
Dhammapada
42.43 (Kinh Pháp Cú 42 - 43)
Theo lời dạy của Đức Phật, không có gì quan trọng hơn
là làm chủ đưọc tâm. Tuy nhiên ta không chỉ cần điều
phục tâm trong lúc tọa thiền - đó chỉ là một trong những
cách thực tập đặc biệt. Giống như khi bạn học đánh
tennis. Bạn thực hành với huấn luyện viên ngày này,
qua ngày nọ, cho đến khi bạn có thể tìm thấy sự thăng
bằng, đủ bản lĩnh để tự đấu một mình. Chiến
trường để ta luyện tâm chính là cuộc sống hằng ngày -bao
gồm tất cả mọi hòan cảnh ta phải đương đầu.
Chánh niệm là phương tiện hỗ trợ đắc lực nhất của
ta, nghĩa là ta cần phải có mặt trong từng giây phút sống.
Nếu tâm lúc nào cũng bị theo dỏi, nó không thể tạo ra những
chuyện phiền não về thế giới hay bạn bè quanh ta, hay khiến
ta mong cầu thứ này, thứ kia. Tất cả những sự suy tưởng
trong đầu ta có thể xảy ra triền miên, nhưng một khi ta có
chánh niệm thì tất cả đều ngưng bặt. Có chánh niệm
nghĩa là có mặt trong từng giây phút, không chừa một kẻ
hở cho bất cứ tư tưởng nào có thể len lỏi vào. Lúc
nào ta cũng có mặt ở giây phút hiện tại, bất cứ đó là
gì -lúc đi, đứng hay nằm ngồi, cảm thấy hạnh phúc hay
khổ đau- và ta duy trì thái độ biết mà không có sự phán
đoán, phân biệt, 'chỉ biết'.
Có chủ đích rõ ràng hàm ý một sự đánh giá: thí dụ nói
chúng ta hiểu đưọc mục đích của tư tưởng, hành động
hay lời nói của mình, nghiã là chúng ta biết là mình có hành
xử khéo léo không , có đạt đưọc những điều mình mong
muốn không. Ta cần tạo cho mình một khoảng cách để
ta có thể đánh giá mình một cách khách quan, vì nếu ta tự
gắn mình với một sự kiện nào đó, thì ta khó thể giữ
đưọc sự khách quan. Chánh niệm đi đôi với chủ đích
rõ ràng tạo đưọc cho ta khỏang cách cần thiết đó.
Bất cứ sự đau khổ nào xảy đến cho ta, dầu lớn hay nhỏ,
triền miên hay thoáng chồc đều do tâm tạo tác. Tất
cả những gì xảy ra cho ta đều do chính ta tạo cho mình, không
có ai khác. Tất cả chúng ta đều vào vai trong vở kịch
'cuộc đời'. Đôi khi người khác tình cờ có mặt cạnh
ta, thế là ta nghĩ là họ có trách nhiệm về sự bất hạnh
của mình. Thực tế là tất cả những gì ta làm đều
do tâm hành của ta điều khiển.
Càng quán sát tâm trong lúc toạ thiền, ta càng dễ đi vào
định. Khi ta quan sát từng trạng thái của tâm lúc vọng
tưởng dấy khởi, hay khi ta ngưng không đuổi theo chúng, ta
sẽ dễ có thái độ khách quan hơn. Vọng tưởng không
ngừng đến rồi đi, giống như hơi thở vào ra của ta.
Nếu ta bám víu vào chúng, phiền não sẽ lập tức phát sinh.
Khi ta tin các tư tưởng này là ta, nhất là những suy tưởng
tiêu cực, ta sẽ tìm cách để phản ứng, chống cự lại.
Hành động này tạo ra phiền não, khổ đau.
Phương châm của Đức Phật về tứ chánh cần đáng cho ta
ghi nhớ: "Không để ác tâm phát khởi, nếu nó chưa phát khởi.
Không duy trì ý xấu nếu nó đã phát khởi. Phát khởi
thiện tâm nếu nó chưa phát khởi. Duy trì thiện tâm
nếu nó đã phát khởi".
Ta càng nhanh chóng thực hành đưọc những điều trên, càng
thêm tốt cho ta. Nhưng đó chỉ là
một phần của những gì ta có thể thực hành đưọc khi ngồi
thiền. Nếu ta có thể thực tập buông bỏ đưọc các
vọng tưởng dấy khởi khi đang toạ thiền, thì ta cũng có
thể hành động như thế đối với các tư tưởng bất thiện
trong đời sống hàng ngày. Khi ta có thể ngưng các tư
tưởng lo ra để chỉ chú tâm vào hơi thở, thì ta cũng có
thể sử dụng phương pháp đó để bảo vệ tâm ta trong bất
cứ lúc nào. Chúng ta càng có khả năng khép cánh cửa
tâm lại đối với những tư tưởng khiến tâm đau khổ,
thì cuộc sống của ta càng thêm dễ chịu. Khả năng
nhận biết và buông bỏ không đồng nghĩa với sự đè nén.
Tâm an lạc là tâm tràn đầy lòng từ bi.
Đau khổ là do tự chính mình gây ra cho mình. Nếu chúng
ta thực sự muốn tránh khỏi những khổ đau, ta cần phải
luôn quán sát tâm. Ta cần phải quay trở vào để thực
sự hiểu tâm ta muốn gì? Động lực nào khiến ta phản
ứng? Ta phản ứng như thế nào? Có trăm ngàn động
lực, nhưng chỉ có hai phản ứng. Một là thái độ hỉ
xả, hai là chấp chặt, tham đắm.
Bất cứ hoàn cảnh nào cũng có thể là một bài học tốt
cho ta. Hôm nay ta phải đứng chờ hơi lâu ở ngân hàng,
thì đó là bài thực tập tính kiên nhẫn cho ta. Dầu
sự thực tập có thành công hay không, không quan trọng.
Cái chánh đó là kinh nghiệm học tập của ta. Tất cả
mọi việc ta làm đều là một sự thực tập, và thử thách
đối với ta. Đó là mục đích sống của tất cả nhân
loại, đó là lý do hiện hữu của ta. Ta dùng thời gian
sống ít ỏi trên mặt đất này là để học hỏi, và trưởng
thành. Ta cần nhìn cuộc đời của mình giống như một
lớp học bổ túc. Tất cả những mục đích khác đều
là sai lầm.
Chúng ta chỉ là những người khách ở đây, với những hạn
chế của một người khách. Nếu ta biết sử dụng thời
gian của mình để tìm hiểu nội tâm của chính mình - về
những gì ta yêu, ta ghét, những sự lo lắng, sợ hãi của
chúng ta- thì ta đã sống một cuộc đời rất xứng đáng.
Một cuộc sống như thế đòi hỏi ta phải có nhiều nghệ
thuật sống. Đức Phật gọi đó là 'sự nôn nóng' (samvega),
khiến ta cảm thấy phải thực hành điều đó ngay bây giờ,
mà không thể chờ đợi tương lai, hay một ngày nào đó khi
ta có thêm thì giờ. Tất cả đều là những kinh nghiệm
học hỏi, và thời gian bắt đầu là ngay bây giờ.
Khi ta gặp khổ đau -người bạn thân thuộc của mọi người-
ta hãy hỏi: "Bạn từ đâu đến?" Khi đưọc trả
lời, ta phải gặn hỏi lại nữa, và tiếp tục đào sâu thêm
nữa. Chỉ có một câu trả lời đúng sự thật, nhưng
không phải dễ tìm thấy nó ngay. Đôi khi ta phải đi
qua bao câu trả lời trước khi ta đến đưọc đích cuối
cùng, nhận ra đưọc đó là do cái Ngã của ta. Khi
đã đi đến câu trả lời đó, ta biết là ta không cần phải
hỏi thêm nữa, vì đó là sự bắt đầu của trí tuệ.
Sau đó ta có thể quán sát tại sao tự Ngã của ta lại tạo
ra đau khổ cho ta. Chúng ta đã làm gì? Đã phản
ứng như thế nào? Khi đã tìm ra nguyên nhân, ta có thể
buông bò những cái nhìn sai lầm. Lúc đó ta sẽ tự thấy
nhân quả tức thời của hành động mình, và ta sẽ không
bao giờ quên điều đó. Từng giọt nước có thể làm
đầy thùng, từng sửa đổi nho nhỏ giúp ta thanh lọc đưọc
tâm. Từng giây phút đều xứng đáng công lao của chúng
ta.
Ta càng nghiệm thấy từng giây phút đều đáng cho ta chú tâm,
tâm càng thêm tinh tấn. Không có giây phút nào trôi qua
vô ích, mỗi giây phút đều quan trọng, nếu ta biết sử dụng
chúng một cách khéo léo. Tâm ta trở nên mạnh mẽ hơn.
Và chỉ cần những giây phút nhỏ nhoi đó đủ góp lại thành
một cuộc đời thực sự đáng sống làm sao.
Chương
5
Vô
Minh
Vô minh không có nghiã là chúng ta không có kiến thức.
Vô minh trong ngôn ngữ Phật giáo chỉ có một ý nghĩa duy nhất
-vô minh về Tứ Diệu Đế. Vô minh là khởi đầu của
bánh xe sanh tử (samsara), khiến luân hồi chẳng thể dừng
dứt. Tứ diệu đế là cốt lõi của Phật giáo.
Nếu là Phật tử mà không nắm rõ ý nghĩa của tứ thánh
đế này, thí chúng ta đã bỏ qua cái cốt lõi.
Có thể chúng ta đã biết về vài khía cạnh của giáo lý
Đức Phật, thấy chúng cũng thường, không có gì quá khó
hiểu. Có thể khi nghe về sự Giác Ngộ giải thoát, ta
cũng thấy hứng thú. Hoặc ta cũng cảm thấy thú vị
khi khám phá ra rằng ta không cần phải phản ứng, khi có ai
đó nói với ta những lời bất lịch sự. Hay ta cũng
hy vọng đưọc vào định sau những giờ tọa thiền dài lâu.
Tất cả những điều nói trên đều nằm trong những lời
giáo huấn của Đức Phật. Nhưng nếu chúng ta không thể
nắm vững đưọc cái căn bản, thì chúng ta chỉ đi quanh quẩn
bên những cái vi diệu của Phật pháp. Rồi từ đó lại
sinh tâm nghi hoặc. Lại khiến chúng ta bắt đầu tự
hỏi không biết có nên tiếp tục hành thiền, tiếp tục tu
tập hay đi tìm một cách sống vui vẻ, dễ chịu hơn.
Bản chất của cuộc đời, như ta đã biết trong cõi người
này, là sự bất như ý (dukkha). Không có gì hoàn toàn
ở đời, ngược lại, cuộc đời luôn đầy những thứ phiền
não của thân tâm. Đưọc sinh ra cũng khổ, đúng ra đó
là bắt đầu của mọi cái khổ khác. Nếu với tất
cả những gì ta đã biết, đã có, đã kinh qua mà ta vẫn thấy
không đưọc bình an, tròn đầy ở nội tâm, thì ta có con
đường nào khác không? Con đường nào có thể mở ra
cho chúng ta?
Câu trả lời của Đức Phật là sự bất tử, hay Niết bàn,
nghĩa là không còn có luân hồi trở lại. Hay mục đích
của ta là đưọc tái sinh trong những điều kiện hoàn cảnh
tốt hơn, nhiều của cải vật chất hơn, nhiều bè bạn, nhiều
sức khỏe, nhiều trí tuệ hơn? Hay là ta mong đưọc sinh
lên cõi trời? Đó là điều mong ước của nhiều người.
Họ tin ở một thế giới khác luôn tốt đẹp hơn thế giới
họ đang sống. Có thể cũng đúng. Cũng có những
điều người ta có đưọc ở cõi trời rất hấp dẫn.
Nhưng nếu ta biết sự thật rằng sinh là khổ, thì dù sinh
ở cõi nào thì cũng là khổ.
Làm thế nào để có cái 'không chết'? Đó là Niết bàn,
vì không còn tái sinh nữa ở đó, và khi không còn sinh thì
làm sao có tử? Nếu có cái bất tử, không hoại diệt,
và chúng ta biết rằng sinh là đau khổ, ta đâu còn lựa chọn
nào khác hơn là con đường đến bất tử? Nhưng nếu chỉ
hành thiền không ngừng nghỉ, với hy vọng đạt đưọc sự
may mắn kia, cũng như chỉ học hỏi phần nào về giáo lý
của Đức Phật thì chưa đủ. Chỉ đủ khi tận trong
tim ta thốt lên lời nói: ‘Không có lựa chọn nào khác hơn
là đạt đưọc Niết bàn giải thoát'.
Và chúng ta không thể có đưọc sự tin tưởng mạnh mẽ đó
nếu như ta đã không từng trãi qua đủ mọi điều khổ đau.
Dĩ nhiên ta không cầu mong điều đó sẽ xảy ra cho ai, nhưng
ta biết chỉ có những kinh nghiệm đau thương mới có thể
chuyển đổi đưọc con người. Có rất nhiều câu chuyện
ở thời Đức Phật còn tại thế về bao người phụ nữ
đã phải chịu quá nhiều đau khổ khi mất mát người thương,
gia đình, đến nổi họ không còn lựa chọn nào khác.
Ngày nay, trong xã hội của chúng ta lại có quá nhiều lựa
chọn. Ta có thể chọn lựa đi biển, hay du lịch qua Aán
độ, tìm một mối quan hệ mới. Xét về các sự lựa
chọn này, đôi khi ta thấy ngại ngùng, vì ta thấy mỗi sự
lựa chọn đều đem lại cảm giác xúc chạm (căn trần), có
nghĩa là rất phù du, thoáng qua. Ta cần có nhận thức
rõ ràng như thế, nếu không sự phát triển tâm linh của ta
sẽ gặp trở ngại. Trong thiền có câu nói rằng: "Khi
đi, bạn đi. Khi chạy, bạn chạy. Nhưng đừng có
đi ngã nghiêng thế kia". Vì thế nếu ta đã chọn lựa
một con đường đi, hãy đi đàng hoàng, vững vàng đến đích.
Ngoài sự giải thoát, sự chọn lựa duy nhất còn lại là
các dục lạc. Đức Phật có rất nhiều lời khuyến
cáo về sự nguy hiểm của ái dục. Ta có thể tự kiểm
chứng những lời dạy của Đức Phật xem đó là đúng như
sự thật hay chỉ là những câu chuyện thú vị ta chưa từng
đưọc nghe qua. Con đường đạo chỉ hiện hữu trong
nội tâm chúng ta. Phật pháp không thể chỉ sống động
trên các trang sách hay trong lời nói của ai đó; chúng phải
sống trong lòng chúng ta. Ta phải suy xét xem có đúng thật
là các niềm vui của ta là do sự xúc chạm mang đến,
và tất cả những đau khổ của ta là do sự thiếu vắng của
chúng hay do xúc chạm với cái mà ta không thích.
Chúng ta có hai lựa chọn. Một là ta có đưọc các niềm
vui của dục lạc, hai là chọn con đường đạo vững chắc
giúp ta thoát ra khỏi sinh, già, bịnh, chết, thoát ra khỏi
mọi khổ đau. Điều đáng ngạc nhiên là rất ít người
chọn lựa điều thứ hai. Sự đau khổ cũng là một cách
giúp ta tự chuẩn bị để chọn con đường đạo, và nguyện
cố gắng thực hành.
Chúng ta cần có can đảm để chọn con đường đạo pháp.
Vì nếu ta chọn con đường thoát ra khỏi mọi khổ đau, ta
cần phải từ bỏ bao tham đắm, bao thú vui nhất thời lại
đằng sau. Điều đó đòi hỏi can đảm. Chúng ta
phải buông bỏ rất nhiều thứ mà trước đó ta nghĩ là sẽ
đem lại hạnh phúc, sự trọn vẹn cho ta. Ta cần can đảm
rời xa chúng để tự đứng một mình. Điều đó không
có nghĩa là ta phải khó chịu với các bạn bè củ của mình
hay phải xa lánh người thân trong gia đình. Nhưng mà là
ta bắt đầu nới lỏng các sợi dây ràng buộc, bám viú vào
họ. Khi chúng ta nhận thức rõ ràng không có gì quan trọng
hơn là đi theo con đường đưa đến giải thoát. Lúc
đó tất cả năng lực, ưu tiên ta dành cho mục đích này.
Ta chỉ có thể thành công khi đã dồn hết mọi tâm sức vào
một việc. Lúc đó tất cả các kinh nghiệm của ta -lạc
thọ, khổ thọ hay không khổ không vui- ta đều biết đó là
một phần của vạn pháp, và đó cũng là một cách thực tập.
Nếu một khổ thọ nào đó dấy khởi, ta nhận biết ngay:
"Đây là một cảm giác khó chịu, tôi đang phản ứng lại
nó đây, nhưng tôi không cần phải làm thế, tôi có thể buông
bỏ cả phản ứng". Trái lại, nếu lúc đó ta vẫn còn
đắm theo các căn trần, thì điều đó khó thể thực hiện
đưọc. Không thể vừa có Bát chánh đạo, lại vẫn
còn đắêm trong ham muốn nhục dục. Hơn thế nữa, Bát
chánh đạo có thể còn mang đến cho ta một số những xúc
cảm khó chịu vì nó đòi hỏi sự tự kỷ luật, tự làm
chủ mình, có nghĩa là phải gò ép thân xác.
Ngoài ra ta cũng không thể mong đạt đưọc kết quả chớp
nhoáng. Nhưng ta biết đích tới của mình. Một khi
đã có phương hướng, ta không cần phải lựa chọn, không
lo lắng về các lời hướng dẫn, mà tràn đầy lòng tự tin.
Lúc đó ta có thể hoàn toàn dựa vào trí tuệ vô lượng của
Đức Phật, mà không cần phải tìm tòi, khám phá con đường
đưa đến sự tỉnh thức tâm linh. Ta đã đưọc thừa
hưởng những lời giáo huấn rõ ràng của chư Phật để lại
trong đời.
Có lẽ việc khó nhất còn lại cho ta là làm sao biết đưọc
điều gì là đúng cho cái mà ta gọi là 'tôi'. Chúng ta
đặc biệt về gì? Có năm cái khổ -một là thân khổ
và bốn cái khổ còn lại thuộc về tâm. Có bốn yếu
tố và ba mươi hai phần của thân thể. Không có gì,
không có ai đặc biệt hơn ai, ai cũng giống nhau. Mỗi
cá nhân chúng ta không cần phải xem thứ gì là thích hợp
cho mình. Tất cả những gì ta cần làm là lựa chọn
giữa những thú vui của các căn trần hay sự đoạn diệt
của khổ đau. Sự quyết định đó sẽ thay đổi cuộc
đời ta.
Nếu ta không còn lơ là với Tứ diệu đế nữa mà coi chúng
là trọng tâm trong cuộc đời ta, thì vô mình sẽ dần dần
bị dập tắt. Rồi hoàn toàn biến mất khi ta đạt đưọc
sự thật thứ ba: Diệt đế. Đó là lúc ta đã đạt
đưọc giải thoát, Niết bàn, chấm dứt mọi khổ đau.
Nhưng trước khi đến đưọc nơi ấy, ngay bây giờ ít nhất
ta có thể giảm bớt vô minh của mình bằng cách xét lại
nguồn gốc của vô minh, đó là chấp Ngã, coi Ngã là ta.
Tất cả mọi giáo lý của Đức Phật đều nhằm giúp ta vững
bước trên con đường đạo. Trong một bài giảng, Trưởng
lão Xá Lợi Phất đã nói đến nhiều phương cách giúp ta
tăng trưởng chánh kiến nhằm giúp cho trí tuệ của ta thêm
phát triển. Điều quan trọng nhất, ta cần phải xem động
lực nào thúc đẩy ta nói, suy nghĩ, hành động như ta đã
làm. Khi sự liên hệ của ta và người không đưọc êm
thắm, khi chúng không hoà tan vào nhau như nước với sữa,
ta cần phải nhìn lại động lực nào thúc đẩy ta làm thế.
Không phải để tìm lỗi của người khác. Động lực
giống như một tảng băng đá, ta chỉ có thể thấy những
phần nổi. Vì thế nếu ta không thực tập tìm hiểu
chính mình một cách cặn kẻ, ta sẽ không thể biết đưọc
mọi hành động là do ngã chấp thúc đẩy. Ta cần phải
xem xét lại các động lực hành động của mình để thanh
tịnh hoá tâm mình. Hãy tự hỏi: Ta hành động như thế
này là vì ích lợi của kẻ khác hay vì cái ngã của ta?
Chúng bắt nguồn từ lòng tự tin hay sự sợ hãi? Ta phải
suy xét lại các động lực, mục đích của mình vì chính
ta tạo ra nghiệp cho mình. "Tôi làm chủ nghiệp của tôi,
thừa hưởng nghiệp của tôi".
Nền tảng đạo đức của ta cần dựa trên chánh ngữ, chánh
nghiệp và chánh mệnh. Không có những thước đo mẫu
mực này, tất cả mọi nỗ lực cá nhân đều vô ích.
Sức mạnh của chúng ta không phải ở thân thể, nhưng tùy
thuộc vào lòng tin trong ta. Lòng tin này chỉ có thể có
đưọc khi ta biết mình trong sạch, không tội lỗi. Dựa
vào kẻ khác chỉ khiến ta sinh ra yếu đuối, một việc làm
nguy hiểm. Vì kẻ khác cũng không ổn định, luôn thay
đổi như ta. Mẹ, cha, chồng vợ, con cái, sư thầy -tất
cả đều sẽ ra đi, thay đổi hay không ở bên cạnh khi
ta cần đến họ. Ta cần làm người bảo vệ của chính
mình, tự trông coi từng bước đi của chính mình.
Chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định cần đưọc bám
trụ vững chắc trong ta. Chánh tinh tấn có nghĩa là luôn
áp dụng những điều ta đã học không chỉ trong lúc tọa
thiền mà trong mọi hoàn cảnh, ở mọi lúc, mọi nơi.
Nếu trong một ngày mà ta không học đưọc điều gì mới,
hay không giúp đỡ đưọc ai, không thương yêu ai, thì đó
là một ngày lãng qua. Thời gian rất quí báu, mỗi ngày
qua đi không thể tìm lại đưọc. Quá khứ thì đã qua,
tương lai thì chưa tới. Chuyến bay tới có thể không
hạ cánh, chuyến xe tới có thể không đổ bến. Ngay
giờ phút này là giờ phút để tu tập. Vì ta đã thoát
qua đưọc bao tai nạn, không có nghĩa là ta sẽ thoát khỏi
hiểm nguy. Vì thế, nếu ta không sử dụng một ngày của
mình trọn vẹn, một ngày để học hỏi, quán sát nội tâm,
tìm hiểu giáo lý, thì ta không thể có chánh tinh tấn.
Chánh tinh tấn cần đưọc phát triển thành một thói quen
tốt cho mọi người.
Có đưọc chánh niệm trong từng giây phút là một lý tưởng
có thể ta chưa nghĩ đến. Nhưng nếu ta không có quyết
tâm phát triển chánh niệm từng giây từng phút, ta sẽ dễ
dàng quên mình đang tu, đang cần hành pháp. Chánh niệm
không phải chỉ là những lời nói hay một bài giảng xuông
của Đức Phật, nó là một trạng thái tâm đầy ý nghĩa.
Nó có nghĩa là ta phải có mặt ngay bây giờ, trong giây phút
này, biết rất rõ những gì đang xảy ra ở bên trong hay bên
ngoài ta. Nó có nghĩa là cảnh giác về các động lực
hành động của mình, thực hành sửa đổi những tư tưởng,
tình cảm xấu, không lành mạnh thành các tư tưởng lành mạnh.
Chánh niệm là một tâm hành mà với thời gian nó sẽ giúp
ta đoạn diệt đưọc mọi khổ đau. Nó cho ta thấy rõ
ràng không có gì xảy ra ngoài sự vận hành của năm uẩn
-sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Ban đầu nhờ có chánh
niệm ta không còn lo lắng, sợ hãi quá khứ, tương lai, và
giúp ta trụ vững trong hiện tại. Dần dần chánh niệm
giúp ta có cái nhìn đúng về Ngã.
Về chánh định, tất cả những gì ta có thể làm đưọc
là cố gắng hết mình. Một phần của định là sự
buông bỏ, không chạy đuổi theo các âm thanh, màu sắc quyến
rủ, mùi thơm, sự xúc chạm và các vọng tưởng. Trong
khi thông thường ta rất thích các cảm giác xúc chạm, và
đeo bám vào chúng mãnh liệt. Ta cũng cần có đủ tự
tin trong khả năng thiền định của mình. Ta cần phải
đạt đưọc điều tưởng như khó có thể đạt đưọc này.
Tóm lại, ta cần chuẩn bị một nội tâm vững chãi để chấp
nhận Tứ thánh đế và Bát chánh đạo như là trọng tâm điểm
trong đời sống của ta. Mọi thứ khác chỉ là thứ yếu.
Nếu ta không chỉ tìm hiểu giáo lý của Đức Phật vì sự
tò mò, thì ta cần phải dốc hết tâm lực để sống, để
hành các chân lý đó, những chân lý mà ta tin tưởng chắc
chắn rằng sẽ giúp ta đến Niết bàn, giải thoát.
Chương
6
Lý
Duyên Khởi
Thập nhị nhân duyên (paticcasamuppada) đưọc bắt đầu bằng
Vô minh (avijja), qua đến hành, thức, danh sắc, lục căn, xúc,
thọ, ái, thủ, hữu, sanh rồi kết thúc bằng tử. Đã
có sinh ắt phải có diệt. Trong suốt quá trình sinh diệt
đó, chỉ có một lối thoát: giữa xúc và thủ. Đây
là các nhân duyên sanh tử luân hồi của chúng sanh.
Tuy nhiên Đức Phật cũng dạy về những lý duyên khởi siêu
việt, cao thượng hơn. Bắt đầu bằng khổ đế (dukkha).
Đó là sự tỉnh thức, tri kiến về những đau khổ không
thể tránh đưọc trong cõi nhân sinh. Khổ đế cần đưọc
nhận thức đúng như thực tướng của nó, là bước khởi
điểm của cuộc hành trình về tâm linh của ta. Nếu
chưa từng trãi qua khổ đau, ta không có lý do gì để tu tập.
Nếu ta không nhận thấy khổ đau hiện hữu trùm phủ trên
tất cả vạn vật, ta sẽ không có ý muốn thoát ra khỏi sự
trói buộc của khổ đau.
Khi đã nhận diện đưọc khổ đau, ta không còn tìm cách trốn
chạy chúng trong những hoàn cảnh của thường tình thế tục.
Ta sẽ không ham muốn đưọc giàu sang hơn, đưọc nhiều kiến
thức hơn, sở hữu nhiều của cải hơn, hay kết thêm bạn
bè. Thêm nữa, biết rằng ta không thể trốn tránh khổ
đau vì nó đi đôi với sự hiện hữu trong cuộc sống, ta
sẽ không thấy bị nó chế ngự. Ví như ta đã chấp
nhận sấm sét như một hiện tượng không thể trốn tránh
-biết rằng phải có mưa, có sấm sét, ta mới có thể trồng
trọt- vì thế không thể vứt bỏ chúng. Cũng thế, ta
không thể trốn tránh khổ đau. Không có khổ đau, con
người không thể hiện hữu. Sẽ không có tái sinh, hoại,
lão và tử. Hiểu đưọc như thế, ta sẽ không còn tìm
cách chạy trốn khổ đau. Do đó ta sẽ bớt khổ đau.
Sự trốn tránh, chống đối khiến ta không thể chấp nhận
khổ đau, và như thế lại càng làm ta đau khổ thêm bội phần.
Có khổ đau, ta mới có duyên tìm đến chánh Pháp, kinh điển
Phật giáo. Thật vậy, đó là do duyên lành của ta.
Có biết bao nhiêu chúng sanh chẳng bao giờ đưọc biết đến
Phật pháp. Ngay cả khi họ đưọc sinh ra ở những xứ
sở Phật giáo, họ cũng chẳng có dịp nghe đưọc Pháp.
Lại cũng có người không tìm đến Phật pháp vì họ vẫn
tin rằng có thể tìm ra lối thoát trong cõi thế tục, nhưng
đó là một phương hướng sai lầm. Nhưng ngay đối với
những người không tin rằng có thể tìm đưọc chân hạnh
phúc trong cõi thế tục, chính họ cũng cần phải có duyên
lành, mới có thể đưọc nghe chánh Pháp. Hiểu đưọc
như thế, tín tâm mới có thể thành tựu.
Tín tâm phải dựa trên sự tin tưởng, ủy thác. Nếu
không, con đường đạo sẽ bị bít lối. Chúng ta tin
tưởng, như đứa trẻ nắm tay người lớn băng qua đường.
Đứa trẻ tin rằng người thân của mình sẽ trông chừng
xe cộ, để tránh tai nạn có thể xảy ra. Vì đứa trẻ
chưa đủ khả năng phán đoán lúc nào an toàn để qua đường,
nó tin tưởng vào người có kinh nghiệm, từng trãi hơn.
Đối với Đức Phật, chúng ta cũng giống như đứa trẻ kia.
Với tâm hồn ngây thơ, trong sạch của đứa trẻ, chúng ta
hoàn toàn dựa vào giáo lý, phương pháp tu hành, nắm bàn tay
của Chánh pháp để dìu dắt ta đi. Cuộc sống và sự
tu tập của ta sẽ trở nên đơn giản hơn khi ta không mãi
lưỡng lự, cân nhắc: "Chắc tôi phải đi nơi khác xem người
ta tu cách nào". Có lựa chọn, cân nhắc mọi giải pháp,
cũng chưa chắc là ta sẽ tu tập tốt hay sẽ thoát khỏi khổ
đau. Lòng tin chân thành nơi chánh Pháp sẽ giúp cho tâm
ta thêm kiên định. Rồi qua thực hành, ta mới có thể
chứng nghiệm đưọc lời Phật dạy. Nếu không, ta sẽ
không bao giờ biết đưọc sự thật.
Nếu ta cứ cố chấp xem đau khổ như một tai họa, trong ta
sẽ không còn chỗ cho lòng tin. Vì lúc nào ta cũng đầy
đau khổ, phiền não, ta quên rằng tất cả là do nghiệp quả
của ta mang đến, không có gì hơn. Làm chúng sanh là phải
thọ nghiệp báo của mình.
Phải thấu hiểu bản chất của khổ đau thật rõ ràng, ta
mới có thể tin vào những giáo lý mà ta chưa từng thực hành.
Niềm tin đó sẽ mang đến cho ta an lạc, trái lại con đường
tu sẽ đầy khổ não. Là một yếu tố quan trọng trong
đời sống tâm linh, nhưng an lạc ở đây không có nghĩa là
khoái lạc, hưng phấn, rộn ràng. An lạc đem lại niềm
vui, tự tại, vì ta biết rằng mình đã tìm ra con đường
giải thoát mọi khổ đau. Đôi khi người ta lầm tưởng
rằng người thánh thiện, sùng đạo phải có vẻ mặt u buồn,
dáng đi thiểu não. Vậy mà không có ai ghi lại là Đức
Phật đã từng khóc, trái lại Ngài luôn đưọc minh họa với
nụ cười luôn ở trên môi. "Thánh thiện' không
có nghĩa là sầu não, mà có nghĩa là 'trọn vẹn'. Không
có niềm vui, thì khó có thể có tự tại, tròn vẹn.
Niềm vui nội tâm hàm chứa lòng tin tưởng rằng con đường
chúng ta chọn không sai lầm, con đường đó sẽ mang đến
thành tựu đạo quả qua các phương pháp chánh đáng.
Chúng ta cần phải ngồi xuống chiếu thiền với niềm vui
trong lòng. Như thế thì tất cả quá trình hành thiền
sẽ đưọc kết quả tốt đẹp. Sẽ mang đến cho chúng
ta sự tự tại, vì ta không còn đôn đáo tìm kiếm hạnh phúc
ở bên ngoài ta, mà nương trú nơi chính bản thân. Không
cần phải tìm kiếm nơi đâu, không phải nhọc sức làm gì,
tất cả đều ở trong ta. Sự bình lặng đó mang đến
cho ta cảm giác có mặt đúng lúc, đúng nơi. Nó khiến
tâm an tịnh, và từ đó diệt bỏ đưọc lòng hoài nghi (vicikiccha).
Sự bình lặng khiến cho tâm dễ nhập định. Chính khổ
đau giúp ta tìm đưọc đúng đề mục thiền quán, nếu ta
thực sự hiểu đưọc tính chất của khổ đau. Ta không
nên trốn chạy khổ đau, coi nó như một số phận nghiệt
ngã hay oán trách người khác đã gây ra đau khổ cho mình.
Chánh định giúp tâm thêm rộng mở. Trong khi tâm cố
chấp, nhỏ hẹp, ô nhiễm khó thể thâm nhập pháp vi diệu.
Nó có thể linh cảm có cái gì đó siêu việt hơn cái đang
cóù, nhưng không thể nào đến đưọc đó. Trừ khi tâm
đã đưọc an định.
Tâm định lúc đó có thể "tri kiến đưọc thể tánh như
như của sự vật", một câu nói Đức Phật thường dùng để
diễn tả một cách nhìn sự vật rất khác với cái nhìn sự
vật bằng con mắt xét đoán hay bằng sự ao ước chúng phải
như thế này,thế kia. Cho đến giờ phút này, chúng ta
đã có khái niệm rõ ràng về những điều ta không thích,
như những lúc sự việc xảy ra làm sụp đổ niềm tin về
tự ngã, những lúc cái ta không muốn lại xảy ra cho ta.
Nhưng khi đã biết nhìn và hiểu sự vật bằng chính bản
thể của nó, trí tuệ của ta sẽ trở nên sâu xa hơn.
Chúng ta sẽ nhận ra rằng trong thế giới của vô thường,
khổ đau và vô ngã, ta không thể nắm giữ điều gì, không
có gì bền vừng mãi, và có thể đem lại hoàn toàn thoả
mãn cho ta. Không có ai, không có của cải, không có suy
tưởng, không cảm thọ nào cả. Tất cả không có gì
bền vững, chắc chắn để ta có thể nương tựa vào.
Đó là chánh kiến, khác hẳn với cái nhìn bình thường hằng
ngày. Nó là kết quả của chánh định, từ thái độ
không coi đau khổ như thù địch, tiêu cực. Vì khi ta
tìm cách thoát khỏi đau khổ bằng cách cố quên nó, trốn
chạy nó, đổ lổi cho người khác, buồn phiền vì nó, hay
tự trách mình, chúng ta chỉ tạo thêm đau khổ. Tất
cả những cách đó đều chỉ là tự dối mình. "Nhìn
sự vật đúng như bản thể của chúng" là bước khởi đầu
trên con đường đạo của nội tâm; còn lại tất cả chỉ
là những công tác chuẩn bị.
Đôi khi sự hiểu biết của ta có thể ví như những bức
tranh bí mật trẻ con thường chơi. Có lúc bạn thấy
nó, có lúc không. Khi có đưọc tri kiến về bất cứ
khía cạnh nào của Pháp, ta phải thường quán chiếu trở
lại tri kiến đó. Nếu thật sự có đưọc tri kiến
đó, đau khổ không còn làm đau đớn đưọc ta, ta chấp nhận
chúng như mọi việc khác đã xảy đến cho ta. Sự lão
hoại, bịnh hoạn, chết chóc không còn làm ta phải sợ hãi
nữa. Còn gì nữa để sợ khi ta biết rằng tất cả
vạn vật đều hoại diệt không ngừng. Thân ta ngày một
hoại, tâm thì thay đổi từng phút giây.
Không có tri kiến về thực tại này, việc thực hành của
ta không đưọc dễ dàng. Ngược lại với tri kiến sáng
suốt, việc thực hành của ta trở nên là điều duy nhất
ta thấy cần phải làm. Mọi thứ khác đều tạm bợ,
đều làm ta sao lãng việc thực hành. Nhờ có tri kiến
sáng suốt đó, ta mới khởi đưọc lòng nhàm chán đối với
mọi quyến rủ của cuộc đời. Tất cả những hào nháng
chỉ là thỏi vàng tầm thường của kẻ ngu, đem lại hạnh
phúc cho ta phút này, thì phút sau đã đem đến bất hạnh.
Các cảnh trần trên thế gian dễ đánh lừa ta, nhưng ta vẫn
đeo bám theo chúng, do tập khí lâu đời mà ra. Vì
thế ta sẽ tiếp tục chịu khổ đau cho đến khi ta nhìn ra
đưọc sự thật.
Ở Úc có một tấm biển đề: "Cuộc sống: Hãy hòa nhập
vào đó". Có lẽ tốt hơn nên đề: "Cuộc Sống:
Hãy xa rời nó". Cuộc sống và sự hiện hữu của ta
bị trói buộc bởi những chuyển biến không ngừng của các
trần cảnh -khi căn tiếp xúc với trần: nghe, thấy, nếm,
xúc, tưởng. Chỉ khi nào ta đã có đưọc cái nhìn rõ
ràng về sự vật, ta mới biết nhàm chán, khi ấy dù cho cảnh
trần có tuyệt vời đến đâu, cũng không lay chuyển đưọc
ta. Quỷ Ma Vương, kẻ dụ ta làm điều tội lỗi, sẽ
phải bó tay, vì ta đã đuổi đưọc hắn ra khỏi cửa.
Nhưng hãy nhớ, hắn sẽ đợi ngoài cửa ngõ, rình chờ cơ
hội đầu tiên để có thể xuất hiện trở lại, điều
ấy có thể lắm chứ, nhưng chắc rằng hắn sẽ không bao
giờ có thể ung dung tự tại bước vào nhà ta nữa.
Tri kiến này mang đến cho ta bao niềm tin, khiến lòng ta cảm
thấy mãn nguyện nhường bao. Ta sẽ khó thể bị lôi
kéo khỏi con đường tu tập của mình. Khi Ma Vuong còn
ở bên cạnh ta, ta còn chưa đưọc hoàn toàn bình an.
Ta còn phải lo sợ với những điều mới lạ khác có thể
rù quến đưọc ta. Tuy nhiên khi đã có đưọc cái nhìn
rõ ràng về sự thật của mọi vật, ta sẽ có đưọc lòng
nhàm chán, ta sẽ nhận ra con đường Đức Phật dẫn dắt
ta đến tự tại, bình an, tận diệt mọi khổ đau.
Thực ra khổ đau chính là người bạn thân thiết nhất, trung
thành nhất. Ta khó lòng tìm đưọc người bạn nào có
thế giúp ích đưọc ta nhiều như thế, nếu ta có cái nhìn
đúng đắn về khổ đau, không chống cự, không phản kháng
lại nó. Lúc ấy ta có thể dùng khổ đau làm lực đẩy
để ta tu tập, trân trọng, biết ơn mỗi khi nó dấy khởi.
Điều đó khiến nỗi đau của ta không còn sắc bén, mà khổ
đau đã đưọc chuyển hóa thành những kinh nghiệm quí báu
nhất của chúng ta.
Chuơng
7
Tâm
Dễ Uốn Nắn
Trong các bài giảng của Đức Phật, ta thường nghe thấy rằng
'tâm dễ uốn nắn, dễ thay đổi, dễ sử dụng nhưng cũng
rất kiên định’. Làm sao tâm lại có thể có những
đặc tính như mâu thuẩn nhau? Tâm của kẻ phàm phu, không
biết tu lại có đặc tính cố chấp. Lúc nào nó cũng
nhớ về những tổn thương, đau khổ, lúc nào cũng so sánh
quá khứ với hiện tại, và luôn chấp chặt vào các khổ
đau. Hơn thế nữa, chúng ta phần đông đều tin vào những
suy nghĩ, các dự tính tràn đây trong tâm. Tâm chúng ta
giống như bị rào bó trong một cái khung, trong đó chứa đựng
tất cả những hiểu biết của chúng ta.
Có bao giờ ta nghĩ ra đưọc điều gì mới mẻ không, điều
gì chưa từng đi qua tâm trí ta? Có lần nào ta chiêm nghiệm
đưọc một chân lý vũ trụ? Nếu không có những sự
kiện đó, tâm ta khác nào một cây kim quay mòn trên cái đĩa
hát cũ, cứ chơi mãi một điệu nhạc nhàm chán ngày này qua
tháng nọ.
Khi ta có thể chú tâm, ngưng suy nghĩ lung tung, ta mới có thể
biết đưọc sự trong sáng của tâm. Lúc đó tâm có thể
đưọc uốn thành một hình dáng mới thay vì chỉ cứng nhắc
một khuôn mẫu cũ. Chỉ khi nào ta phát hiện ra đưọc
điều gì hoàn toàn mới trong tâm, ta mới biết đưọc rằng
tâm có khả năng suy nghĩ khác trước.
Ta nên thận trọng đối với những suy tưởng diễn ra suốt
ngày trong tâm, vì chúng không có nền tảng đích thực; chúng
chỉ là những bóng ảnh của bản ngã, của lòng tham muốn,
và thói quen từ bao đời của ta. Chúng không dựa vào
chân lý tuyệt đối. Nói thế không có nghĩa là ta có
thể vứt bỏ chúng ngay, nhưng ta cần thận trọng đối với
chúng. Chúng chỉ là những thói quen, chẳng tốt đẹp
gì, chẳng dẫn đưa ta đến bình an, hạnh phúc.
Khi chúng ta chánh niệm hơn với những suy nghĩ của mình, ta
sẽ kinh nghiệm đưọc thế nào là sự kiểm soát những cái
ta nghe, ta nhìn, ta cảm xúc -- ta có sự khám phá của trẻ
thơ, dưới trí tuệ của người lớn. Tâm trẻ con không
hoàn toàn trong sạch như ta nghĩ, nhưng chúng cảm nhận sự
vật trực tiếp, không bị ảnh hưởng của những suy nghĩ
như người lớn. Một khi đã trưởng thành, ta vẫn có
thể cảm nhận sự vật như trẻ con, như thể ta chưa từng
nghe, chưa từng thấy, nếm, xúc chạm hay nghĩ tưởng về điều
đó bao giờ. Với cách nhìn hoàn toàn mới mẻ về các
xúc cảm của mình, ta có thể nhận chân đưọc sự thật
như như - dầu chỉ là trong thoáng chốc.
Khi chúng ta chú tâm, chánh niệm, ta có thể nhận thấy rằng
tâm bị chi phối bởi các thói quen thường nông nổi, thiếu
trưởng thành, ngây ngô chứ không phải ngây thơ. Ta cũng
sẽ nhận thấy là tâm có khả năng thay đổi, dễ uốn nắn.
Biết đưọc như thế là ta đã biết đưọc con đường trở
về với nội tâm.
Đức Phật đã so sánh tâm với vàng. Khi còn ở trạng
thái thô ráp, chưa qua toi luyện, trong kim loại bằng vàng này
còn có năm thứ kim loại khác. Những cặn bã này làm
cho nó dòn, dễ vỡ, vì thế người thợ trang sức trước
hết phải đun nóng vàng lên, để những chất cặn bả có
thể đưọc chiết lọc ra. Rồi người thợ đó sẽ dùng
các dụng cụ của mình để uốn nắn vàng thành đủ loại
trang sức. Đức Phật đã dùng truyện ngụ ngôn này để
chỉ về năm chướng ngại trong tâm ta: đó là tham, sân, trạo
cữ, hôn trầm và mạn nghi.
Tâm có thể giúp ta đạt đưọc Giác Ngộ, nếu nó đã diệt
trừ đưọc năm chướng ngại đó, và trở nên trong sạch
như vàng ròng. Lúc đó ta sẽ tìm đưọc sự bình an cho
tâm, và sống hòa hợp với mọi người chung quanh.
Quá trình tu tập thiền định có thể giúp ta kinh nghiệm đưọc
nhiều trạng thái của tâm thức, không giống như tâm bình
thường ta hằng biết. Ý niệm về vô ngã hẳn là rất
khác với những ý niệm ta đã từng biết. Nếu ta đưọc
nghe nói nhiều về vô ngã, ta có thể tạm biết về nó, nhưng
sẽ không có gì thay đổi ở nội tâm nếu ta không thực sự
thực tập vô ngã. Nếu bất cứ điều gì phát khởi
trong tâm, ta đều đối mặt với nó như thể ta chưa từng
thấy hay nghe về điều đó trước đây, thì -dù chỉ trong
phút chốc, khi tâm hoàn toàn chìm sâu trong thiền định-
mọi tập khí cũ sẽ tiêu tan.
Nếu ta không thể chuyển hóa, làm mới tâm, thì suốt đời
ta chỉ lẩn quẩn với tâm cùn cụt. Nó cũng chỉ luôn
là "cái tôi và những gì tôi muốn", hay 'cái tôi và những
gì tôi không muốn'. Tâm hạn hẹp, tham lam đó không lợi
ích gì cho hạnh phúc và an vui. Vì cái tôi mới nhỏ bé
làm sao! So với vũ trụ bao la này, nó chưa bằng một
đầu kim. Hãy luôn nhớ như thế để hạn chế sự bành
trướng của cái ngã.
Khi nào ta có một sáng kiến hoàn toàn mới, một điều ta
chưa bao giờ nghĩ đến, tâm ta theo đó cũng đưọc phát triển.
Sự mới mẻ đó đưọc coi là tri kiến. Tuy nhiên nếu
điều ta tri kiến đưọc không ảnh hưởng gì đến hành động,
tư tưởng của ta, có nghĩa là ta đã không thực sự
hiểu ý nghĩa của nó, hay có hiểu cũng chỉ là một tri thức
vô dụng.
Tâm phóng khoáng có thể quan sát mọi sự vật quanh mình một
cách khách quan. Phiền não, vô thường và vô ngã là những
định luật tự nhiên trong vũ trụ, cũng như ái và các chấp
thủ khác. Khi chúng ta nhớ đưọc điều đó, những gì
ta đã trãi qua không còn là của riêng ta, không còn đầy kịch
tính nữa. Trái lại, ta cần nhớ đến sự bao trùm của
vạn pháp, đến thực tại tương đối mà ta sống trong đó.
Cho đến lúc đó - cho đến khi ta có thể nhận biết và chuyển
hóa cách suy nghĩ, hành động của ta- nếu không ta khó
thể bước chân vào thế giới của các chứng nghiệm mới.
Tâm dễ chuyển hóa phóng khoáng, có thể thay đổi, dễ dàng
chấp nhận tất cả pháp. Mỗi khi ta nhận biết đưọc
một chuyển đổi mới nào trong tâm, ta cần phải duy trì,
ghi nhớ để có thể biến chúng thành quán tính, một bản
năng. Một trong những dấu hiệu của các chuyển đổi đó
là sự bớt đòi hỏi các tiện nghi, bớt quan tâm tới
của cải, bớt ham muốn hay cố chấp. Thay vào đóù ta lại
suy nghĩ xem có thể bố thí những gì, làm sao để phát triển
đạo tâm, để tạo các nghiệp thiện. Tiến sâu hơn
nữa, ta có thể tập từ bỏ làm một cá thể riêng biệt,
mà hãy là một phần của vạn vật quanh ta, dù chỉ trong chốc
lát. Vì khi ta còn bị vướng mắc vào sự phân biệt
thân tâm của mình, ta khó tìm đưọc chân hạnh phúc.
Là ta tự giam mình trong ngục tù của 'tự ngã', chờ đợi
ai đó giải thóat cho chúng ta. Trong khi chìa khóa nằm
trong lòng bàn tay của ta.
Các phiền não ràng buộc tâm ta bằng những lậu hoặc sâu
dầy, nhưng nếu chính ta không tự nhận biết như thế, thì
sẽ không có sự thay đổi nào có thể xảy ra. Chúng
ta không thể chờ đợi người khác giải phóng cho tâm trí
mình. Sự giải thoát (mobbama) và bánh xe luân hồi (samsara),
cả hai đều ở trong tim ta. Đôi khi, trong những giây
phút ta tạm quên cái ngã của mình, khi ta hoàn toàn không
quan tâm lo cho chính mình, ta có thể kinh nghiệm thoáng qua trạng
thái của Niết bàn: đó là lúc 'cái tôi' của ta không còn
quan trọng nữa, khi ta không có một định kiến nào trong đầu,
khi chỉ có sự tỉnh thức mà không có chút tham ái nào.
Lúc đó có thể ta mới ý thức tự ngã không phải là cái
gì ta tưởng nghĩ, và diệt bỏ nó.
Đối với đa số chúng ta việc diệt bỏ cái ngã không phải
là chuyện dễ làm, vì ta sẽ nghĩ rằng chính ta tự đánh
mất mình khi không có tự ngã. Trong khi thực ra là chúng
ta có đưọc tất cả -mọi giáo lý tâm linh đều đồng ý
trên điểm đó. Bất cứ thứ gì ta sử dụng để
xác định mình đều là tù ngục của chính ta. Buông
bỏ là giải thoát. Khi chúng ta kinh nghiệm đôi phút giây
của buông xả, ta thường nhầm lẫn đó là do hoàn cảnh hay
người nào đó đã đem lại cho chúng ta. Thực ra, bất
cứ khi nào chúng ta diệt bỏ được các chấp thủ, ta sẽ
đưọc gỉai thoát. Hãy nhường nhịn đôi chút, hãy buông
bỏ đôi điều, đó là ánh sáng le lói ở cuối đường hầm,
để báo hiệu cho ta biết sự tự do, giải thoát là có thật.
Niết bàn và luân hồi đều ở trong tâm. Luân hồi khổ
ải có mặt khi ta còn có ý thức về ngã, và Niết bàn, chân
hạnh phúc sẽ phát khởi khi ta có thể diệt trừ ngã chấp.
Không có gì trên thế gian này -của cải vật chất, vinh quang,
sự tán thưởng, danh vọng, tiếng tăm hay trí tuệ- có thể
mang đến cho ta sự tự do và bình an vô hạn như thế.