Hoàn Thiện
Con Đừơng Tu
Chương
18
Đối
Với Bản Thân
Kinh Từ Bi đã chỉ cho hành giả biết phải đối xử với
tha nhân như thế nào -phải thương yêu họ như thương người
thân. Nhưng kinh nầy không dạy chúng ta phải đối với
bản thân phải như thế nào. Dĩ nhiên là ta phải đối
với bản thân giống như ta đối với tha nhân.
Vì tất cả chúng sanh ai cũng đều lo cho chính bản thân trước
hết, nên điều quan trọng là ta cần phải biết vấn đề
mình đang đối đầu là gì. Với sự có mặt của tha
nhân ở chung quanh, ta có ảo giác mình đang phải đối đầu
với thế giới quanh ta. Trên thực tế, chính là chúng
ta luôn luôn phải đối mặt với tâm bất tịnh, hay thanh tịnh
của mình. Tất cả những ngoại cảnh diễn ra quanh ta
chỉ là một chuỗi những chất xúc tác làm ngòi nổ cho các
hành động của mình.
Thế giới quanh ta có thể là các hoàn cảnh, kinh nghiệm hay
con người mà ta tiếp xúc qua các giác quan. Một trong
những giác quan nhạy bén nhất là tâm với khả năng suy tưởng
của nó. Tiếc thay, tâm tưởng lại có khuynh hướng bay
khỏi tầm kiểm soát của ta. Chúng ta thường không để
ý đến cái trước mặt mà nghĩ tưởng cái có thể là.
Chúng ta một là lo sợ cho tương lai, hay là mong mỏi những
điều tốt lành nhất. Sự mong muốn chỉ là ảo tưởng,
còn nỗi sợ hãi chỉ là những lo lắng không đâu. Cả
hai đều dẫn đến phiền não, rắc rối. Vì có mong muốn,
nên ta sinh lòng sợ hãi -sợ hãi rằng những mong ước của
ta sẽ không thành tựu. Ngược lại vì sợ hãi, nên ta
có ước mong -mong rằng nếu ta hành động khôn khéo thì những
lo âu, sợ hãi của ta sẽ không biến thành hiện thực.
Hơn nữa, ta còn lo sợ rằng mình không đủ sức chịu đựng
những gì sẽ xảy ra cho ta.
Do đó ta tự cảm thấy lo lắng, bất an, những khổ thọ mà
ta trốn tránh bằng nhiều hình thức như: ăn uống, tiêu khiển,
chuyện trò, ngủ nghê, đọc báo, xem truyền hình, dùng điện
thoại- bất cứ thứ gì trong tầm tay ta. Nếu không tìm
đưọc gì, ta trở nên trầm uất hay sân giận.
Trên thực tế tất cả những biến thái nầy (papanca) đều
do tính chất không thể kiểm soát của tâm. Chúng ta để
nó đi tán loạn, nghĩ về tương lai với hy vọng và âu lo,
nhớ tưởng quá khứ với niềm hối tiếc, xót thương, thay
vì tập trung tất cả chú tâm vào những gì đang xảy ra trước
mắt.
Chú tâm vào ngay giây phút hiện tại, đó là ý nghĩa của
chánh niệm. Khó có thể có đưọc tâm chánh niệm
hoàn toàn vì tâm thường lăng xăng. Nhưng nếu chúng ta
hoàn toàn chú tâm ở từng phút giây, thì làm sao lăng xăng
xuất hiện. Nhưng chỉ tự nhắc nhở mình phải có chánh
niệm không thôi thì chưa đủ. Ta còn cần phải có các
sự hỗ trợ khác. Biết chấp nhận, biết đánh giá cao
chính bản thân là một sự hỗ trợ tinh thần không thể thiếu.
Đó không phải là sự tự đề cao, liệt kê tất cả những
kiến thức mình có. Giữa hiểu biết đến hành động
có thể cách nhau một khoảng xa. Nhưng nếu ta có thể
tự đánh giá đưọc những việc mình đã làm thì rất hữu
ích. Không có gì đáng kể ngoài các hành động của
ta. Những hiểu biết của ta như thế nào không thành
vấn đề, nhưng những gì ta thực sự làm sẽ đem lại hậu
quả. Nếu cần phát triển cách đánh giá cao về mình,
ta cần phải nhớ đến những nghiệp thiện của mình.
Ngoài ra, ta cũng cần biết tự bằng lòng với chính mình,
nếu không ta sẽ không bằng lòng với bất cứ điều gì,
bất cứ ai hay ở đâu. Trong hoàn cảnh hiện tại, ta
đành chấp nhận còn phải bám víu vào 'cái tôi' nầy -bám
víu vào cái vừa là thầy mình, mà cũng vừa là kẻ phá hoại
mình. Điều quan trọng nhất là ta phải tự bằng lòng
với mình, để từ đó có thể nhận ra đưọc những bản
tính thiện căn bản của nhân loại. Điều nầy đã đưọc
trình bày rất rõ trong kinh Từ Bi. Kinh nói rằng chúng
ta cần phải biết bằng lòng và dễ dàng chấp nhận.
Kinh nói đến mười lăm điều kiện có thể mang đến cho
ta sự bình an. Nếu chúng ta không thể tìm thấy những
đặc tính nầy trong ta, thì sự bình an trong nội tâm không
thể có đưọc.
Biết an vui nghĩa là biết bằng lòng với những gì ta có,
biết chấp nhận hình dáng, cách nói năng, cách sống, cách
xử sự của mình. Điều ấy không có nghĩa là ta sẽ
không phải sửa đổi cho tốt hơn. Nhưng nếu ta luôn
mặc cảm về con người mình, thì sẽ ảnh hưởng đến thái
độ, cách cư xử của chúng ta. Người ta thường có
ước muốn đưọc hơn cái mình có. Càng bỏ đưọc các
ước muốn nầy, ta càng bớt khổ. Nhưng muốn thực hiện
đưọc điều đó, ta cần phải biết bằng lòng với cái trước
mắt, dầu cho đó không phải hoàn toàn như ý ta mong muốn.
Chúng ta thường có những mong mỏi, đòi hỏi nơi chính bản
thân mình và ở tha nhân, dầu những điều đó không thực
tế. Vì ta thường quên vạn pháp đều vô thường.
Tất cả vạn vật đều luôn thay đổi. Có những điều
hôm qua hoàn toàn đúng, thì hôm nay lại sai. Làm sao để
sống an vui trong những hoàn cảnh ta cho là khó chấp nhận?
Trước nhất, ta phải xét hoàn cảnh đó cho kỹ càng?
Tại sao khó chấp nhận nó? Nó sai sót ở đâu? Không
thoả mãn bản ngã chăng? Không phải điều ta mong đợi
chăng? Một khi đã hiểu rõ tại sao một việc gì đó
không toàn hảo, ta sẽ thấy nó quá nhỏ mọn, không đáng
để tâm.
Khi có những việc luôn tạo khổ đau trong ta, khiến ta không
toại nguyện ước mơ, thì ta hãy tự nhủ: "Ta rồi cũng chết,
ta không thể thắng đưọc sự chết". Tại sao không luôn
nghĩ về sự chết? Quán tưởng về cái chết sẽ không
mang đến cho ta sự bi thương hay trầm uất, nhưng nó mang ta
đến gần hơn với thực tế. Liệu chúng ta có cau có,
bực bội khi biết mình chỉ còn mười phút nữa để sống?
Nếu thật sự ta chỉ còn sống đưọc thêm mười phút nữa,
thì không ai trong chúng ta còn bực bội, khó chịu. Có
thể do ghét, ta sinh lòng sợ hãi, nhưng tại sao phải ghét
điều ta không thể tránh khỏi? Tại sao ta lại phải
ghét cái điều chắc chắn sẽ xảy ra, vì nó sẽ xảy ra?
Đó là một trong muôn vàn cái vô minh của ta.
Bằng lòng cũng hàm chứa ý nghĩa chấp nhận, chịu ơn chính
bản thân mình. Khi tất cả mọi thứ quanh ta dường như
đảo điên, hỗn loạn, chúng ta vẫn có thể quay về với
nội tâm của sự thánh thiện, hoàn mỹ. Nếu chúng ta
không có những sự thuần khiết căn bản trong nội tâm, thì
không có lý do gì để ta tiếp tục tu tập nữa. Tuy nhiên,
ta có thể nuôi dưỡng, vun trồng cho nội tâm trong sạch lớn
mạnh thêm, và phát triển sự nhận thức về nó. Bất
cứ khi nào có khó khăn, sợ hãi, bất như ý hay khổ đau vì
những ước muốn không thành tựu, chúng ta đều có thể quay
vào bên trong ta, nơi an vui trú ngụ.
Chúng ta thường lầm tưởng rằng sự an vui của mình tùy
thuộc vào hoàn cảnh hay con người nào đó. Làm sao nó
có thể tùy thuộc vào một điều gì đó bên ngoài chúng ta?
Nếu chúng ta muốn đưọc sự an vui thật sự, thì phải tùy
thuộc vào những gì bên trong ta. Như thế ta có thể phát
khởi sự an vui liên tục. Trái lại nếu phải tùy thuộc
vào người hay hoàn cảnh để có đưọc sự an vui, thì ta
có khác nào là nô lệ cho chúng. Trong khi con đường đạo
của Đức Phật là con đường dẫn tới tự do, giải thoát.
Cũng giống như sự an vui, lòng biết ơn cũng giúp rất nhiều
cho cuộc sống của chúng ta. Lòng biết ơn không cần
phải nhắm vào một người nào hay một điều gì đặc biệt.
Có thể là lòng biết ơn đối với những duyên nghiệp khiến
cho các nỗ lực của ta đưọc thành tựu, hay đưọc có một
cơ thể khá tốt. Nó giúp cho ta không coi nhẹ những gì
mình có đưọc . Người càng giàu sang, càng coi những
thứ họ có đưọc là chuyện đương nhiên. Càng có sức
khỏe hay nhiều may mắn, ta càng coi thường chúng. Thái
độ đó sẽ không giúp ta biết an vui, bằng lòng. Chỉ
có lòng biết ơn mới đem đến an vui.
Nếu không có thái độ đúng, biết tự bằng lòng, biết để
lòng thanh thản, không vướng bận, ta sẽ không tìm thấy tổ
ấm dù ở bất cứ nơi nào. Sự yên ổn, tổ ấm là
ở nội tâm, chứ không phải ở bên ngoài. Khi ta biết
mở lòng ra, để có lòng biết ơn, cảm nhận, bằng lòng
với chính mình thì ta có thể tìm thấy tổ ấm, dù đang ở
bất cứ nơi nào trên trái đất hay trong vũ trụ nầy.
Một căn nhà chỉ là một nơi chốn với bốn bức tường
bọc quanh. Nhưng một căn nhà lý tưởng thì phải có
sự ấm cúng, nhất là khi thế giới bên ngoài đầy lạnh
giá. Sự ấm cúng từ đâu ra, nếu không từ những trái
tim chúng ta? Đó là nơi ta cần tạo ra sự thoải mái,
hạnh phúc, an bình khó nắm bắt mà ta luôn tìm kiếm.
Trái tim là trung tâm. Khi mọi việc êm thuận, ta coi đó
như là chuyện phải thế, nhưng khi gặp trở ngại, đối đầu
với khó khăn, thì ta lại quay ra tìm sự giúp đỡ ở bên
ngoài ta, đâu biết rằng chỉ có thể tìm đưọc lời giải
nơi trái tim mình. Nếu chúng ta đã tạo ra đưọc một
nền tảng vững bền, ấm áp, đầy thương yêu ở nội tâm,
thì ta luôn có thể nương tựa vào đó.
Phải dựa vào người khác để có đưọc hạnh phúc, thì
quá dại khờ; dựa vào họ để đưọc bảo vệ, chở che
thì thật kỳ quặc. Làm sao ta có thể dựa vào họ, khi
chính họ cũng đang đi tìm hạnh phúc và sự chở che?
Chỉ có những người đã tìm đưọc kho tàng nội tại mới
là người đã tìm đưọc mái ấm của mình. Dựa vào
chính hạnh phúc, sự chở che của bản thân, mới có thể
giúp ta chịu đựng đưọc mọi thử thách, khó khăn trong đời.
Không có ai trong thế giới tránh khỏi khổ đau, nên khi đã
có một mái ấm nội tâm, ta sẽ biết tìm về nơi đâu trong
những khi căng thẳng. Những căng thẳng nầy có thể
ở mức độ nhẹ như khi ai đó đòi hỏi mình điều gì hay
khi những mong ước của chúng ta không thành hiện thực.
Lúc đó ta bước vào mái ấm trái tim của mình, nơi ta sẽ
tìm đưọc sự ấm áp, lòng biết ơn, cảm nhận và hoan hỷ.
Bằng cách là diệt bỏ tất cả mọi ý tưởng bất thiện,
để chỉ còn có tư tưởng tốt đẹp, hữu ích, tích cực
đọng lại. Càng chất chứa nhiều tư tưởng ô uế,
thì mái ấm trái tim ta càng hôi hám, ô nhiễm. Mỗi khi
ta hủy diệt đưọc một tư tưởng bất thiện, ta sẽ có
thêm sức mạnh để bỏ nó lần sau, lần sau nữa. Bằng
cách ấy ta đã tự dọn sạch ngôi nhà tâm của mình.
Mỗi ngày ta đều quét phòng, quét ngõ. Hãy quét dọn
tâm ta mỗi ngày như thế!
Mỗi khi ta dọn sạch cái gì -một khu vườn cỏ dại, một
nhà bếp, quần áo dơ- ta cũng nhớ để dọn sạch tâm mình
cùng lúc. Khi tâm ta đã thanh tịnh, bền vững, ta sẽ
tràn đầy tình thương cho chính mình, cho mọi người chung
quanh. Lúc đó ta không cần cố gắng để thương yêu
tha nhân; lòng thương đã thành quán tính do ta biết yêu
thương chính bản thân mình. Nhưng đó không có nghĩa
là tự dễ dải với chính mình. Mà chỉ là sự vun trồng
tình yêu thương cho bản thân, để rồi ta có thể dễ dàng
thương yêu người khác.
Tha nhân cũng đưọc hưởng lợi lộc do sự vững chải của
chúng ta. Ta là cái neo, là hòn đá để cho người khác
tựa vào. Vì dầu cho có gì xảy ra, chúng ta vẫn luôn
cứng rắn, không lung lay.
Khi tình thương, sự vững chắc đầy trong tim, thì sự hành
thiền của ta cũng đưọc tốt đẹp và cuộc đời ta cũng
thay đổi. Chúng ta sẽ cảm giác giống như trước đó
cuộc sống của ta không trọn vẹn, nhưng giờ ta cảm thấy
toàn vẹn hơn, giải thoát hơn. Và cuộc sống thánh
thiện đâu có gì hơn là được sống trọn vẹn, tràn đầy.
Chương
19
Tình
Thương Yêu
Bạn có từng nghe nói đến tình thương yêu chăm sóc chưa?
Trẻ em sẽ không thể sống nổi, nếu thiếu tình thương yêu
chăm sóc, cả chúng ta cũng thế. Khi trẻ thiếu tình thương
yêu chăm sóc, thì dù có đưọc nuôi bằng thực phẩm dinh
dưỡng tuyệt hảo nhất, đưọc chữa trị bằng các loại
thuốc hay nhất, cũng không thể lớn lên một cách bình thường.
Các mối liên hệ giữa con người với nhau cũng lụy tàn,
nếu thiếu tình thường yêu. Thiền cũng không là một
ngoại lệ. Thiền định khó thể phát triển nếu thiếu
tình thương yêu chăm sóc.
Trước hết, chúng ta cần phải thương yêu chăm sóc tâm mình.
Đừng để nó biến thành một chú bò hoang lạc vào thành
phố, mà chỉ cần một hành động theo bản năng, không kiểm
soát là sẽ tạo ra bao hỗn loạn. Những hành động thiếu
chánh niệm, dù rất nhỏ, cũng là biểu hiện của sự thiếu
thốn lòng thương yêu. Bất cứ khi nào ta không giữ đưọc
các giới luật, dù là trong những điều tưởng như rất nhỏ
nhặt, cũng chứng tỏ là ta đã không biết thương yêu chăm
sóc chính bản thân.
Các giới luật không phải tự nhiên mà đưọc bày ra.
Mỗi giới luật đều đưọc đặt ra vì một mục đích.
Mục đích chính của các giới luật là để giúp chúng ta
khỏi chìm đắm trong những lo nghĩ tầm thường, để quay
vào quán sát nội tâm mình. Nếu ta coi thường một giới
luật nào đó, thì công phu tu tập thiền của ta sẽ bị gián
đoạn. Dầu là một lỗi nhỏ trong giới luật cũng thế,
cũng chứng tỏ là ta đã để tâm chạy theo tập khí không
vâng lời, dễ dải của ta. Tâm đó sẽ không phát triển
đưọc tình thương yêu đối với tha nhân, do đó thiền định
của người đó cũng sẽ bị ảnh hưởng. Vì nếu suốt
ngày, ta để tâm tán loạn, thì làm sao ta đòi hỏi nó phải
biết chú tâm trên chiếu thiền? Công phu tu tập
thiền của ta chỉ có thể đem lại kết quả nếu như ta có
thể làm chủ đưọc tâm, xử dụng tâm đúng đắn trong ngày,
và có lòng tin yêu, chăm chút đến sự hành thiền của bản
thân. Khi ngồi xuống chiếu thiền, trong một tư
thế đĩnh đạc, với một tấm lòng thương yêu đến với
tất cả chúng sanh.
Nghi thức hành thiền ở một số nơi là trước khi ngồi xuống,
thiền sinh cúi lạy trước chiếu thiền của mình, cũng như
người ngồi đối diện. Cử chỉ lịch sự đó biểu
lộ lòng cung kính và quan tâm đối với người và vật quanh
mình, với tất cả những gì ở trong tầm quan sát của ta.
Chúng ta cũng có thể hướng những tư tưởng thương yêu,
trân trọng đến với hơi thở của mình trước khi bắt đầu
thiền quán.
Tâm nghi hoặc, trách cứ, chống đối, lo âu hay xét đoán khó
thể trụ trong thiền quán. Không chỉ vì đã ngồi xuống
chiếu thiền là chúng ta sẽ có thể chấm dứt, buông bỏ
đưọc chúng.
Chỉ có một phương cách duy nhất để ngồi thiền cho tốt
là: Hãy dẹp bỏ những lo nghĩ tầm thường thế tục.
Thiền là một hoạt động tâm linh siêu việt, không thể chấp
nhận các tâm tràn đầy thế tục. Khi mà những lăng
xăng, lo nghĩ về chuyện thế tục còn rù quến đưọc ta,
còn đem đến cho ta lạc thú, thì ta không thể nào đạt đưọc
tâm siêu việt. Trong ngày, mỗi khi các tư tưởng thế
tục khởi lên, ta cần quán sát xem chúng có bao giờ đem đến
cho ta những niềm vui thường hằng không. Nếu câu
trả lời là không thì ta có thể dễ dàng buông bỏ chúng.
Dầu làm bất cứ công việc gì, ta cũng có thể coi đó là
một cách để thực hành thiền, nếu như ta làm với tâm hoàn
toàn chánh niệm, chỉ chú tâm vào việc trước mắt, và buông
bỏ tâm phân biệt, phán đoán. Ta không cần phải xét
xem công việc đó có cần thiết, có quan trọng không; có khó
khăn, phức tạp, hay nhàm chán? Điều duy nhất ta cần
làm là chú tâm vào công việc trước mắt, và hãy thương
yêu chăm sóc bản thân vì đã đang cố gắng hết sức mình.
Thí dụ như công việc dọn dẹp vệ sinh. Nếu chúng
ta có thể làm công việc đó với sự cẩn trọng, chăm chút
cũng như với tất cả những công việc hằng ngày khác, thì
khi ngồi xuống chiếu thiền, ta cũng có thể hành thiền với
cùng tấm lòng thương yêu, chăm chút đó. Hai việc làm
nầy thì có khác gì nhau?
Tâm ta đã chất chứa bao thói quen từ nhiều kiếp. Nếu
ta có thể nhận biết đưọc chúng để thay thế những cái
xấu, cái dở bằng những cái hay hơn, tốt hơn. Chúng
ta có thể làm đưọc bằng tình cảm thương yêu, phục vụ
người khác. Chúng ta có thể tự nhắc nhở mình nhớ
đến những đau khổ của nhân loại, nhớ đến tính vô thường
của vạn vật. Nếu ta có thể luôn tưởng nhớ đến
những lời dạy nầy trong tâm, tức là ta đã dẫn dắt tâm
đi đúng hướng, giúp nó thoát ra khỏi đưọc những lối
mòn xưa cũ.
Khi hành thiền, nếu ta có đưọc cảm giác thích thú thì công
phu đó mới có kết quả, nếu không thì ta khó có cơ hội
thành công. Lòng nghi hoặc, chán ghét, hay thờ ơ, lãnh
đạm, đều cản trở con đường ta đi. Vì thế khi đã
quyết thực hành thiền, ta cần phải chọn thái độ đúng
đắn, với trí tuệ và lòng từ bi đối với bản thân.
Tâm ấu trĩ, chưa trưởng thành thì cũng giống như một đứa
trẻ. Nó cần đưọc dẫn dắt cẩn thận. Khi chúng
ta còn chưa đạt đưọc giải thoát -Niết bàn- ta còn cần
phải chăm sóc cái tâm mong manh, dễ vở của mình. Chúng
ta không nên ô nhiễm nó bằng lòng sân hận, chống báng, ghét
bỏ, lo âu, sợ hãi, hay nghi hoặc; mà ta cần phải chấp nhận
mọi khía cạnh cuộc đời, dầu đó là điều ta mong muốn
hay không trông đợi. Nếu ta không chăm sóc tâm kỹ lưởng,
nó sẽ ngưng phát triển, trong khi ta tu tập, thực hành là
chỉ để tâm đưọc phát triển, trưởng thành. Tâm trưởng
thành không tùy thuộc vào tuổi tác nhưng tùy thuộc vào sự
tu tập, thực hành của ta, trên chiếu thiền cũng như ngoài
đời (làm sao mà tách hai thứ ra đưọc chứ?)
Nếu không dốc cả tâm trí vào chuyện mình đang làm, là ta
chưa thực sự nỗ lực hết mình. Không thể có chọn
lựa. Nếu ta chỉ chọn thứ nầy, và bỏ qua thứ khác,
ta đã tạo nên sự chia rẽ. Chúng ta không đưọc lựa
chọn người để thương yêu, không đưọc lựa chọn giáo
pháp để nhớ, hay giới luật để giữ. Mỗi khi ta chống
đối, bỏ qua hay lơ là với một ai, với điều gì đó, ta
đã cản trở việc hành thiền của mình. Phải thương
yêu tất cả mọi người, phải chú tâm đến tất cả mọi
công việc phải làm, phải giữ tất cả mọi giới luật.
Nếu ta không thể dốc tâm vào một việc, một cách tuyệt
đối,thì tâm ta chỉ có thể hành động nửa vời. Có
thể nó chỉ chịu đưọc hai mươi phút hành thiền đầu tiên,
mà chểnh mảng với bốn mươi phút còn lại. Có thể
nó chỉ thích chủ tâm vào hơi thở, và không thể chịu đưọc
khi có ai gây ra tiếng động.
Một buổi hành thiền tốt đẹp là một khích lệ, nếu không
muốn nói là động lực: "Nếu tôi có thể sống tốt đẹp
trong ngày, tôi sẽ hành thiền tốt tối nay". Không ai
biết tâm hoạt động như thế nào. Chỉ biết là nó
diển tiến đúng như thế. Tâm là dụng cụ duy nhất
khiến mọi thứ đều là điều có thể, từ những ước muốn,
hành động thấp hèn nhất, đến những ý thức cao cả nhất.
Ta cần phải nhớ thế đểâ thương yêu, chấp nhận tất
cả những gì xảy ra như một phần trong quá trình tu tập
thực hành.
Nếu chúng ta thích thở, thì ta dễ dàng trụ vào đó.
Những gì ta thích có khả năng làm sức hút. Những gì
ta không màng đến, không tạo ra hứng thú gì trong ta.
Vì thế ta có thể quan tâm đến hơi thở của mình vì đó
là chủ đề quán tưởng của ta hay chủ tâm đến tọa cụ
vì nó nâng đở ta khi ta ngồi thiền. Chúng ta cũng cần
để tâm, thương yêu người ngồi thiền quanh ta, và thọ ơn
họ. Tình thương yêu, chăm chút có thể khiến mọi thứ
đều đơm hoa kết quả, từ những hạt mầm nhỏ bé đến
tâm chứng đạt thiền quả rộng lớn, hoàn toàn buông bỏ
ngã chấp.
Chương
20
Hãy
Làm Điều Khó Thể Làm Đưọc
Chúng ta thường tự hạn chế trong nhiều công việc bằng
cách nghĩ rằng việc nầy, việc nọ không thể thực hiện
đưọc hay khả năng chúng ta chỉ có giới hạn. Nhất
là trong lãnh vực tâm linh. Thật ra, nếu chúng ta có thể
bỏ qua ý nghĩ về công việc khó khăn không thể thực hiện,
bỏ qua những đắn đo vụn vặt -cái ta thích hay không thích,
những lo âu, sợ hãi, bất mãn- chúng ta có thể tiếp thu đưọc
bao bài học mới.
Chúng ta thật sự chỉ biết rất ít về những gì hiện hữu
trên thế giới. Những gì chúng ta cảm nhận đưọc qua
các giác quan chỉ là một phần rất nhỏ trong cái tổng thể.
Các chú ong có thể nhìn thấy đưọc ánh sáng của những
tia cực tím, trong khi ta không thấy đưọc. Các chú chó
có thể nghe đưọc những âm thanh mà tai ta không thể nào
tiếp nhận. Đó là những sinh vật kém hơn ta, nhưng đã
có những giác quan vượt trội hơn ta. Và đó cũng chỉ
là một vài thí dụ trong biết bao điều có thể xảy ra trong
vũ trụ mà ta không hề biết tới. Sự thiếu hiểu biết
khiến chúng ta tự hạn chế mình biết bao.
Chúng ta cảm thấy gần gủi với các phát minh tiến bộ khoa
học, hơn là những tiến bộ tâm linh. Mọi người đều
đưọc hưởng ích lợi từ các tiến bộ khoa học. Năm
mươi năm trước nói đến việc lên mặt trăng là điều không
tưởng, một trò đùa. (Nhưng nếu các nhà khoa học không
nghĩ điều đó có thể thực hiện đưọc, họ đã không tìm
tòi nghiên cứu để cuối cùng làm ra đưọc các hỏa tiễn
phóng lên cung trăng). Vậy mà bây giờ, chưa hết một đời
người, ta đã coi việc thám hiểm không gian là điều tự
nhiên. Một điều tưởng chừng không tưởng đã thành
hiện thực.
Những điều tương tự cũng có thể xảy ra trong lãnh vực
tâm linh và thiền định. Không ai có thể giới hạn những
gì ta có thể đạt đưọc trong thiền định, trong việc vun
trồng ngôi vườn tâm linh hay lòng tin của chúng ta. Không
có gì có thể ngăn trở chúng ta thực hiện điều gì -trừ
sự ngăn trở từ chính chúng ta khi nghĩ rằng có bao chướng
ngại không thể vượt qua đang bủa vây ta. Nhưng nếu
ta có thể thay đổi cách nhìn, dám nghĩ đến những điều
chúng ta có thể thực hiện đưọc, thì không tưởng có thể
trở thành hiện thực. Trong cuộc đời, cũng như trong
thiền định, không có gì vượt quá khả năng của ta.
Ta có thể nhiếp tâm, đi sâu vào nhiều trạng thái thiền
định, một khi ta đã có thể vượt qua những chướng ngại.
Chúng ta cần biết chấp nhận những gì đang có, biết từ
bỏ những thói quen cũ. Biết tùy duyên, biết buông xả
là những yếu tố quan trọng giúp ta thiền quán thành công.
Chúng ta nương theo hơi thở, buông bỏ những suy nghĩ theo thế
tục, là những suy nghĩ tự nó cũng không thật. Trong
khi sự thật là vô thường, khổ và vô ngã. Tất cả
những thứ khác chỉ là tư duy, ý kiến cá nhân. Nếu
tâm ta luôn chứa đầy tất cả những gì ta đã suy nghĩ, đã
nói năng trong ngày, thì còn chỗ nào cho sự nhiếp tâm, cho
thanh tịnh, và tri kiến? Nếu ta cứ để tâm luôn phóng
theo điều nầy, ý nọ, thi làm sao ta có thể đột nhiên bắt
nó ngưng lại, mỗi khi ngồi xuống chiếu thiền?
Có thể chẳng bao giờ chúng ta có thể giải thích đưọc.
Nhưng chình lòng thiết tha đưọc đạt đạo sẽ hướng dẫn
chúng ta tìm đến sự hoàn mỹ. Nếu không có lòng thiết
tha nầy, ta sẽ không bao giờ có thể chịu đựng nỗi những
đau đớn, khó chịu nơi thân mà tiếp tục hành thiền.
Không cần ai phải nhắc nhở ta vẫn biết rằng có nhiều
thứ ta chưa đưọc nếm trãi trong cuộc sống. Ta tự
biết rằng còn có sự thanh tịnh, bình an sâu thẳm của nội
tâm mà ta chưa đạt đến đưọc.
Chúng ta cần phải phát huy tâm tối đa. Cần đạt đến
một thế giới hoàn toàn khác, nơi mà tất cả những lo toan
của cuộc sống thế gian không có mặt. Nói thế không có
nghĩa là ta phải dẹp bỏ tất cả mọi công việc, bổn phận,
trách nhiệm hay sinh hoạt hằng ngày của mình, nhưng ta không
đưọc để chúng ảnh hưởng đến ta. Chúng ta vẫn có
thể tiếp tục chăm sóc hoa cỏ trong vườn, vẫn nấu ăn,
may mặc, làm việc. Đó là những việc cần phải làm
trong cuộc sống, chúng ta vẫn làm như thường nhật, nhưng
hãy giữ tâm trong sáng, không vướng mắc. Hãy để tâm
không buồn giận, thắc mắc hay buông lung. Kinh Đại Phước
đã diển tả các vị A La Hán như sau: "Dầu ở trong cuộc
sống thế tục, tâm của các vị không hề bị ô nhiễm.
Không vướng bận, không lo buồn, luôn vững chãi, đó là những
phước báu cao cả nhất". Điều đó không có nghĩa là
ta không đưọc để tâm đến chuyện thế tục, nhưng phải
có tâm phóng khoáng, không bị chướng ngại, ta sẽ có cái
nhìn nội tâm hoàn toàn khác với người đời. Có đưọc
cái nhìn đó đòi hỏi nhiều công sức, vì chúng ta cần có
khả năng xả bỏ mọi thứ. Có thể chúng ta cũng nghe
tiếng pháo, nhưng xả bỏ không nghĩ đến tiếng pháo.
Muốn làm đưọc như thế, cần phải có sức mạnh tâm linh,
một ý chí cứng rắn. Do đó, ta cần phải phát triển
những sức mạnh đó -và cả lòng tha thiết, tin cậy vào sự
tu tập của mình- nếu không, ta chỉ lãng phí thời gian, và
sự hành thiền của ta cũng chỉ là hy vọng, cầu mong.
Khi diễn giải về các trạng thái thiền định (Jhana), Đức
Phật luôn nhắc đến tâm thanh tịnh. Sự thanh tịnh là
để bảo vệ, gìn giữ tâm, tạo cho tâm một không gian để
phát triển, rộng mở. Nếu không đưọc che chở để
có thể phát triển, trưởng thành, tâm khó thể nở đóa hoa
hữu ích.
Chúng ta cần chăm chút cho nội tâm, bảo vệ nó như một viên
ngọc quý, để nó không bị trầy sướt, sứt mẻ. Người
ta khó thể thiền định với tâm ố uế, không tròn vẹn.
Nếu ta bảo vệ đưọc tâm không khởi ác, tránh xa những
hành động xấu, không cần thiết, thì việc hành thiền của
ta trở nên dễ dàng hơn. Đối với thân, ta cố hết
sức mình để bảo vệ nó, để nó không bị phỏng, bị đánh,
bị thương, bị đau đớn. Khi tai nạn xảy ra, ta vội
vả cấp cứu, đi bác sỉ, bịnh viện. Nhưng lại để
tâm ta bị đun nóng, trầy sướt bằng ngã chấp, ngã sở;
để nó bị uế nhiễm với những tư tưởng thế tục của
yêu, ghét, nóng giận, hờn lẩy. Những suy nghĩ nầy làm
ô nhiễm sự trong sạch của tâm. Và khi ta tiếp tục
làm tổn thương nó nhiều lần -điều nầy không ngoại trừ
ai- thì những vết trầy sướt sẽ thành những vết sẹo sâu,
khó thể lành. Những vết sẹo nầy là bằng chứng của
các khuyết tất của ta. Tâm ta là viên ngọc quý, đẹp
đẻ trong suốt. Làm trầy sướt tâm sẽ chỉ mang đau
khổ đến cho ta.
Nhưng chỉ có ta mới có thể bảo vệ đưọc tâm mình.
Chỉ có ta mới ngăn đưọc các tư tưởng ô uế không làm
rầy xướt sự trong sáng như viên đá quý của tâm. Khi
chúng ta đã thực sự tu tập để có đưọc nội tâm thanh
tịnh, chúng ta không cần phải đổ thừa hoàn cảnh bên ngoài
để biện minh cho các hành động của ta. Tự chúng ta
phải là người bảo vệ, vun trồng tâm. Tâm ta ví như
một cánh đồng bao la, chưa đưọc khai khẩn gì ngoài một
vài hạt giống đã đưọc ươm mầm, một vài trầy sướt
tạo nên những rãnh sâu. Khi chúng ta đã tìm ra đưọc
các hạt giống tốt, ta sẽ bắt đầu vun trồng.
Nuôi dưỡng, vun trồng tâm đòi hỏi thời gian, lòng kiên nhẫn,
thiện nguyện và quyết tâm. Nếu không nuôi dường tâm,
ta sẽ không tiến bộ, sẽ mãi ù lì trong một hoàn cảnh,
sẽ chỉ có suy tưởng mà không có thiền định. Chúng
ta sẽ tiếp tục bực tức vì đủ mọi thứ chuyện, mà đôi
lúc khi nhìn lại, ta thấy thật là nhỏ mọn. Chúng ta
hoàn toàn lơ là, lảng quên sự hiện hữu toàn diện, sự
chế ngự của thần chết, sự giác ngộ của tâm không phân
biệt, và sự giải thoát khỏi những khổ đau là điều có
thể thực hiện đưọc.
Tâm mà chỉ chú trọng đến những vấn đề thế tục tầm
thường là tâm nhỏ hẹp, thường có những cái nhìn nông
cạn. Chúng ta cần có tâm nhuần nhuyễn, dễ uốn nắn,
có thể chấp nhận mọi hiện hữu. Qua bao nhiêu kiếp,
năm nầy qua năm nọ, ngày nầy qua ngày kia, chúng ta đã rập
khuôn tâm theo những quy trình của thế tục -nhưng ta không
thể tiếp tục thế mãi. Chúng ta may mắn đã có đầy
đủ khả năng để tự lo cho bản thân, có khả năng làm việc
kiếm sống. Chúng ta không cần phải phát triển những
khả năng nầy thêm nữa. Giờ là lúc phải rèn luyện
tâm giải thoát, dẹp bỏ mọi trở ngại, để dẫn ta đến
hạnh phúc bình an không giới hạn. Điều cần nhấn mạnh
ở đây là sự buông xả. Khi tất cả mọi suy nghĩ, vọng
tưởng khác đã đưọc buông bỏ, trí tuệ sẽ phát sinh, sự
bình an sẽ tràn đầy trái tim ta.
Sự phiền muộn, đau khổ, than thở đều là cấu uế.
Không có lý do gì phải ở trong những tình trạng đó.
Khi Đức Phật sắp niết bàn, Ananda, thị giả của Ngài, chỉ
mới đạt đưọc quả Tu-đà-hoàn, là đạo quả thấp nhất
trong bốn quả dự lưu. Ananda không giấu đưọc nỗi
khổ đau. Trong khi các huynh đệ, tất cả đã đạt đưọc
quả vị A-la-hán, chỉ ngồi im lặng, chấp nhận sự việc
sẽ xảy ra. Đức Phật gọi Ananda đến, và hỏi ông:
"Tại
sao Thầy than khóc? Thầy khóc vì cái thân xác già nua,
đáng bị vứt bỏ nầy sao?" Thầy Ananda trả lời: "Con
khóc vì sắp mất một người thầy, người đã tận tụy
chỉ cho chúng con con đường phải đi". Đức Phật đáp,
"Ta đã chỉ cho Thầy tất cả những gì cần làm để đạt
đưọc giải thoát. Không còn gì phải thắc mắc.
Thầy chỉ cần tinh tấn tu tập".
Đức Phật muốn truyền dạy một điều rằng chúng ta không
cần phải lo lắng về những lựa chọn của mình. Chúng
ta thường lãng phí thời gian để tìm xem tu hành cách nào
thì tốt nhất. Điều đó dẫn đến những tranh luận,
bàn cãi, nghi ngờ, làm lãnh phí năng lực đáng lý ra ta có
thể dùng cho tâm linh một cách hữu ích hơn.
Nếu chúng ta ngồi xuống gối thiền với tâm của một đứa
trẻ thơ, ta sẽ thấy có thể dễ dàng quên thế giới bên
ngoài hơn. Đôi khi đối với những việc chừng như không
thể thực hiện đưọc, ta cần có lòng tin của một đứa
trẻ. Trẻ con tin vào ông già Noel, vào các chuyện thần
tiên, vào những sinh vật bé nhỏ, vào tất cả những thứ
dường như không thể có. Đó là lòng tin ta cần có khi
tu thiền. Ta cần tránh nghi ngờ, tránh tìm những câu
trả lời hợp lý, tránh tỏ ra mình thông thái. Chỉ có
trí tuệ thật sự mới đáng kể, và điều đó thì chỉ có
thể xuất phát từ một trái tim vô nhiễm. Thật sự,
không có gì quan trọng để ta phải ghi nhớ. Nếu có
gì quan trọng, ta có thể viết xuống để ghi nhớ, xong rồi
thì hãy trở về với hơi thở, với sự chú tâm vào giây
phút hiện tại.
Khi chúng ta có thể bắt đầu hành thiền với tâm hoàn toàn
cởi mở, không bị chi phối bởi thế giới bên ngoài, với
lòng tin rằng ta có thể làm đưọc điều đó, thì tâm ta
cũng sẽ hưởng ứng theo một cách tích cực như thế.
Từ đó, ta có thể bước vào thế giới của cảm thông, chánh
niệm; có thể phát triểân những khả năng cần thiết cho
cuộc sống tâm linh. Thêm nữa, chúng ta cần hoàn toàn tin tưởng
vào tâm thanh tịnh của chính mình, mà không cần phải dày
vò tự vấn hay mong chờ thái quá.
Đôi khi ta có thể nghi ngờ khả năng của bản thân, của
người chung quanh, như thầy ta, các giáo lý hay cách thức tu
hành. Trong vô thức, hình như có tiếng nói: "Tôi có thể
làm tốt hơn". Nếu thế, thì hãy bằng mọi cách làm
tốt hơn. Hãy tự tin và trân trọng những nỗ lực của
chính mình.
Thiền có thể là điều tuyệt vời nhất đã xảy đến cho
ta, nhưng chính ta phải có sự nỗ lực riêng. Giáo lý
của Đức Phật đi vào ngõ ngách tâm hồn của con người
một cách thâm sâu; tâm bình thường khó thể nắm bắt hết
mọi ý nghĩa của Phật pháp. Trừ khi tâm của ta cũng
trở nên siêu việt qua thiền định, có lẽ chẳng bao giờ
ta hiểu đưọc hết những diệu pháp của Đức Phật .
Tâm bình thường không có chiều sâu, không đủ uyển chuyển,
phóng khoáng để chấp nhận trí tuệ siêu việt đó.
Hoàn toàn thể nhập thiền định là cứu cánh đưa ta tới
mục đích của Giác Ngộ. Nếu tâm tán loạn, không thể
trụ vào đâu thì khó thể đạt đưọc Giác Ngộ. Tâm
sẽ tiếp tục bị chi phối, u độn, trở ngại bởi những
thử thách. Khi chúng ta có thể điều khiển tâm bất
cứ lúc nào theo ý ta muốn, chỉ khi đó ta mới có thể phát
huy tột bực tất cả những khả năng của mình. Chỉ
có lúc đó thì bao đau khổ, vô thường, ngã đều trở thành
một thực tại nội tâm.
Chỉ trừ khi mọi phản ứng, mọi chướng ngại đã đưọc
diệt trừ khỏi tâm, thì mới có chỗ cho những khám phá,
nhận thức mới thành hình trong tâm. Sự hiểu biết Phật
pháp của chúng ta bị trở ngại bởi chính những rào cản
do chính ta dựng nên. Thiền định giúp chúng ta phá bỏ
những rào cản đó, rộng mở những chân trời mới cho ta,
đào sâu thêm những nhận thức của mình. Chúng ta cũng
có thể đặt niềm tin vào những điều không có thể như
trẻ con vẫn làm, và hãy tin tưởng vào mầm Giác Ngộ đã
có sẳn trong tâm ta.
Chương
21
BUÔNG
XẢ
Để
có thể hoàn toàn hướng về con đường tâm linh, thong dong
bước trên con đường đạo với lòng tự tin, ta phải biết
buông xả. Buông xả không đời hỏi là ta phải mặc
áo nâu sòng, phải cạo tóc. Mà chỉ có nghĩa là ta cần phải
buông bỏ mọi vọng tưởng, mọi ước mơ mà tâm ta mong cầu,
bám víu, chấp chặt. Tâm không bao giờ thoả mãn với
cái nó đang có. Lúc nào nó cũng muốn có thêm. Khi không đưọc
như ý, nó tự vẽ vời ảo tưởng, và sống trong thế
giới huyễn hoặc đó. Nhưng tâm sẽ chẳng bao giờ đưọc
hạnh phúc, an nhiên tự tại thực sự, nếu không biết buông
xả. Buông xả, dẹp bỏ tâm tham đắm là nét chính yếu của
Phật giáo. Chúng ta cần nhận thức rõ ràng, dứt khoát
rằng, có nhiều hơn chưa hẳn là tốt hơn. Sẽ không có điểm
dừng khi còn muốn có hơn. Vì lúc nào ta cũng phải tìm kiếm
thêm nữa. Trái lại ít có lòng ham muốn hơn sẽ khiến
ta có lúc cũng thấy đủ, thấy có điểm dừng.
Thử
hỏi tại sao ta phải ngồi thiền ở nơi vằng vẻ, bỏ qua
bao nhiêu cơ hội, thú vui mà cuộc đời có thể dành tặng?
Ta có thể đi du lịch, đảm nhận những trách vụ quan trọng,
gặp gở, làm quen với người tâm giao, viết thư từ hay đọc
sách báo, theo đuổi những cuộc vui ở đâu đó, thật sự
thõa mái, hay theo đuổi một con đường tâm linh khác.
Khi chúng ta ngồi thiền mà không có kết quả gì, ta lại khởi
tưởng: "Tôi đang làm gì đây? Tu tập như thế nầy có thật
sự ích lợi gì cho tôi không? Tôi không thể tu thiền
đưọc, chắc là tôi phải tìm pháp tu khác". Đúng là
thế giới hào nháng nầy hứa hẹn với chúng ta rất nhiều
điều, nhưng chẳng bao giờ thực hiện lời hứa đó. Tất
cả chúng ta đều đã từng chạy đuổi theo những quyến rủ
của cuộc đời, nhưng chẳng có gì thật sự đem lại cho
ta hạnh phúc hoàn toàn. Sự thoả mãn hoàn toàn -một
sự bình an tuyệt đối, hoàn toàn cảm thấy đầy đủ-
khó thể tìm thấy trong cuộc đời nầy. Không có gì trong
cuộc đời nầy có thể hoàn toàn thoả mãn tham vọng của
chúng sanh. Tiền tài, vật chất, người yêu, tất cả đều
không thể đem lại cho ta sự bình an đó. Vậy mà lúc nào
chúng ta cũng hy vọng: Có thể tôi sẽ tìm đưọc điều gì
đó dễ chịu hơn, người nào đó dễ thương hơn và tất
cả sẽ mới mẻ, đẹp đẻ hơn.
Chúng
ta cần phải nhận định rõ rằng tâm, cũng chỉ là một trong
năm uẩn. Căn của tâm là não bộ, cũng như căn của
sắc là mắt. Khi tâm xúc chạm với các trần, thì nó phát
khởi các tưởng, nhưng chúng ta lại tin vào các tưởng đó,
cho chúng chính là mình. Chúng ta rất coi trọng những
suy nghĩ của mình. Bảo vệ chúng như bảo vệ của
báu, dầu rằng chúng chẳng bao giờ mang lại hạnh phúc cho
chúng ta. Chúng chỉ mang lại ảo vọng, lo âu và nghi ngờ.
Đôi khi chúng giải sầu cho ta, nhưng nhiều khi cũng khiến
ta sầu não khôn lường.
Khi
tâm nghi hoặc khởi lên, nếu ta bám theo, chúng có thể khiến
ta bỏ cả con đường đạo. Trong khi cách duy nhất để
chứng nghiệm rằng sự bình an, hạnh phúc mà đời sống tâm
linh có thể mang đến cho chúng ta, là phải thực tu, phải
xả bỏ những hy vọng, mong cầu đến độ ta không còn
thấy có gì thiếu thốn, có gì cần phải lấp đầy. Muốn
biết miếng bánh có thực ngon không thì phải tự ăn.
Mong muốn một điều gì mà không thực chứng là một quan
niệm sai lầm.
Mong
mỏi tìm đưọc sự thoả mãn ở bên ngoài chúng ta cũng là
một tà kiến: "Tôi cầu đưọc có trí tuệ, hiểu biết, đưọc
yêu thương, thông cảm. Tôi cầu đưọc giác ngộ".
Nhưng chúng ta sẽ chẳng nhận đưọc gì ngoài những
lời dạy, những phương pháp tu học. Chính ta hằng ngày
phải tu tập, thì mới đưọc kết quả thanh tịnh. Chúng
ta không thể bổ khuyết cho sự thiếu sót, thất bại của
mình bằng sự mong mỏi điều gì mới lạ khác sẽ xảy ra?
Điều đó sẽ từ đâu mà ra? Từ Đức Phật? Hay Pháp? Hay
thầy tăng của chúng ta? Hay từ thiền định, từ các kinh
sách?
Nhưng
ở đây, điều chúng ta đang bàn, không phải là để có đưọc
thêm điều gì mà là để dẹp bỏ các chứơng ngại.
Ta cần dẹp bỏ điều gì trước hết? Có lẽ đó chính là
tâm loạn động của ta. Cái tâm luôn thì thầm với ta về
những chuyện không tưởng, khó đạt đưọc. Nhưng một
khi ta đã nghe, ta thường dễ tin vào chúng. Có lẽ cách tốt
nhất để kiểm soát chúng, không đặt lòng tin vào chúng,
là hãy viết chúng xuống giấy. Khi nhìn thấy chúng trên
giấy trắng mực đen, ta sẽ nhận ra chúng thật là không
tưởng. Tâm ta luôn có khả năng sáng tác hết chuyện nầy
đến chuyện khác, không lúc nào dừng nghỉ. Vì thế buông
xả, dứt bỏ là chìa khóa của vấn đề. Hãy từ bỏ.
Hãy buông xả.
Buông
xả cũng đồng nghĩa với chấp nhận rằng cách sống theo
thế tục không phải là lối thoát, chúng ta cần phải tìm
một phương thức khác. Thay vì làm cho cuộc đời của
ta thêm nặng nề bằng những ham muốn, ta nên hạn chế tham
cầu. (Nếu cuộc đời ta không thay đổi, mà ta lại muốn
đeo thêm những cái mới, thì làm sao ta có thể cải thiện
hoàn cảnh?) Giảm bớt ham muốn có nghĩa là chấp nhận rằng
cách suy nghĩ cũ của chúng ta không đem lại kết quả gì.
Mà chỉ có đau khổ triền miên. Đôi khi ta nghĩ rằng: "Tôi
đau khổ như thế nầy là do anh ấy (chị ấy)" hay "Có lẽ
vì thời tiết". Nhưng khi thời tiết đã thay đổi, người
gây chướng ngại cho mình đã ra đi, nhưng đau khổ vẫn còn
nguyên vẹn. Thế là ta lại phải đổ cho một nguyên
nhân nào khác. Thay vì tốn phí thời gian một cách vô ích
như thế, ta cần phải trở nên uyển chuyển, cởi mở hơn
để thật sự xét lại nguyên do chính của mọi khổ đau,
mà không để tất cả những nội kết, những hoang tưởng
của tâm dẫn dắt. Tâm ta có lúc thanh khiết có lúc đầy
cấu uế, vì thế ta cần phải biết cách điều khiển nó.
Một khi ta đã bắt đầu biện hộ, lý giải cho các tâm hành,
thì ta khó chấp nhận một phương hướng khác. Chúng ta không
nên nghĩ rằng mình cần phải có thêm điều gì đó mới có
thể trở nên một người hoàn toàn. Trái lại ta cần phải
đoạn diệt các chấp. Lúc đó ta sẽ trở nên một người
hoàn toàn.
Chúng
sanh luôn tham cầu: "Tôi cần đưọc thông cảm, đưọc biết
ơn, đưọc thương yêu, đưọc tán thán". Hay "Tôi cần phải
mua cái nầy, phải sở hữu thứ kia, phải nếm trãi thứ nọ".
Còn ham muốn là còn khổ đau. Từ lúc có mặt trên cõi đời
nầy, có lúc nào chúng ta ngừng đòi hỏi đâu. Dầu không
bao giờ ta thoả ước nguyện của mình, ta vẫn kiên trì theo
đuổi chúng. Tuy nhiên, nếu từ bỏ đưọc lòng ham muốn,
dần dần ta sẽ tìm đưọc sự bình an. Hãy buông xả, không
chấp cả vào những suy nghĩ, những ý kiến của cá nhân mình.
Đừng chấp vào con người mà mình tự nhận là mình, con người
đã thành hình trong quá trình khẳng định cái tôi của mình:
"Ổn cả thôi. Hãy nhìn xem. Tôi vẫn bình thường". Vâng,
có thể chúng ta vẫn bình thường, đời sống vẫn tiến triển
tốt đẹp, nhưng một khi mà hạnh phúc, sự bình an tuyệt
đối cờn vắng mặt, thì vẫn còn thiếu một cái gì đó.
Khi chúng ta khẳng định rằng chúng ta vẫn bình thường, hình
như trong đó ngầm che giấu một điều gì đó. Nếu không,
ta đã không nói như thế bao giờ.
Khi
ngồi xuống chiếu thiền, ta cũng cần buông xả, nếu không
ta khó thể có đưọc kết quả gì. Chúng ta phải hoàn toàn
quên mình, để chỉ biết có việc mình đang làm thì mới
mong có đưọc kết quả mỹ mãn. Không thể để cho lòng
hoài nghi khởi lên rằng, không biết có việc gì tốt đẹp
hơn, đáng làm hơn không. Nếu ta không dốc lòng, dốc
sức, thì việc hành thiền của ta trở nên nặng nề. Dốc
lòng, dốc sức có nghĩa là ta bỏ hoàn toàn thời gian, tình
thương yêu, nỗ lực vào đó không đắn đo, hạn chế.
Nếu không ta chỉ làm cho có việc. Dốc tâm vào việc hành
thiền cũng có nghiã là ta chỉ biết có thiền quán, mà bỏ
qua những suy nghĩ như phương pháp tọa thiền, hay các thầy,
các sách đã nói gì về thiền. Tất cả những thứ đó phải
đưọc để qua một bên thì ta mới có thể hoàn toàn
chìm đắm trong thiền định. Làm đưọc như thế thì
ta sẽ cảm thấy tự tại, chỉ biết ngay giờ phút hiện tại
đó, và chỉ biết có những gì mình cần quán chiếu trong
tâm. Khi có sự chú tâm sâu xa thì định sâu lắng mới
có thế phát khởi, rồi khổ đau mới có thể chấm dứt.
Nhưng
không chỉ có dốc lòng, dốc sức trong lúc hành thiền, mà
cả trong những sinh hoạt hằng ngày, khi quan tâm chăm sóc người
khác, khi chú tâm trong công việc mình đang làm. Có thế
mọi việc ta làm sẽ dễ đưọc thành tựu. Nhưng để có
thể nhiếp tâm đưọc như thế, ta cần phải biết buông bỏ
ngã chấp của mình. Khi còn lo nghĩ đến cái ngã, thì không
thể hoàn toàn dốc tâm vào một việc gì khác. Sự dốc tâm
tuyệt đối cũng giống như sửa hòa tan trong nước -không
thể còn có sự tách biệt. Ngã chấp không thể nào hoà tan
trong thiền quán; nó luôn tách biệt rạch ròi.
Chúng
ta cũng cần phải buông bỏ những suy nghĩ như hạnh phúc có
thể tìm ở đâu, phải sống đời sống tâm linh như thế
nào, phải hành thiền làm sao, các bậc Pháp sư phải hành
động, nói năng, cư xử như thế nào. Chánh niệm là biết
mà không phán đoán. Có lần tôi đưọc nghe một vị
sư người Thái, vì sự hạn chế trong ngôn ngữ, đã nói:
'Chỉ biết, chỉ biết’, lúc đầu tôi không hiểu ông muốn
nói gì, cho đến lúc tôi chợt hiểu ra ông muốn nói về sự
chánh niệm hoàn toàn. "Chỉ biết", hàm chỉ một sự
buông xả, chấp nhận. Ngược lại chấp chặt vào suy nghĩ,
quan niệm, ý kiến của mình chỉ tạo ra trở ngại.
Không
gì có thểá thành tựu đưọc, nếu không có sự toàn tâm,
toàn trí. Cần phải có sự hiểu biết cũng như lòng thương
yêu. Sẽ không có thiền định, nếu không có mặt của cả
tâm và trí. Ta có thể tọa thiền năm nầy qua tháng nọ, mà
chẳng có kết quả gì. Phải dọn sẳn tâm kiên quyết buông
xả trước khi hành thiền. Nếu không cái ngã sẽ cản trở
việc thiền quán của ta. Nó sẽ ngọa nguậy lên tiếng: 'Tôi
biết hơn. Có nhiều cách hành thiền khác nữa". Hay than phiền:
"Tôi không thấy thoải mái, chắc cách tu nầy không đúng rồi.
Tôi thấy khó chịu quá".
Nếu
ta không thể buông bỏ đưọc những ham muốn, diệt phá đưọc
những chướng ngại mỗi khi toạ thiền thì con đường tâm
linh mãi mãi sẽ chỉ là một điều bí mật đối với ta.
Tất cả những điều Phật dạy chỉ dẫn ta về một hướng
-đó là dẹp bỏ mọi ngã tưởng. Muốn đến đưọc
nơi đó, ta cần phải luôn luôn sửa đổi chính bản thân
từng chút, từng chút.
Buông
xả có nghiã là buông bỏ những suy tưởng, buông bỏ tâm
tự cao, tự đại, lúc nào cũng cho là mình hiểu biết. Có
ai để biết người đang biết đó đâu? Tất cả chỉ là
những suy tưởng quẩn quanh, khởi lên, rồi diệt. Buông xả
không phải là một pháp hành ở bên ngoài ta. Nó thật sự
là một chuyển biến của nội tâm, mà ta cần phải thực
tập. Thiếu nó, sẽ không có thiền định.
Chương
22
Dọn
Nhà Tâm
Một trong những điều chúng ta thấy khó làm nhất, dù nói
ra thì nghe có vẻ rất dễ dàng, đó là thương yêu chính bản
thân mình. Phần đông chúng ta nhậïn thấy mình có nhiều
điểm rất ‘khó thương’. Trớ trêu thay ta lại dễ
nhận ra những cá tính đó ở người khác, khiến ta thấy
khó chịu, khó chấp nhận, dẫn đến bất mãn với cuộc đời.
Không chấp nhận tính nầy, tật nọ của người khác, không
ích lợi gì, mà chỉ khiến ta thêm bực bội, khó chịu trong
lòng. Các loại tình cảm nầy chỉ có hại cho ta. Chỉ làm
cho mối liên hệ giữa ta và người xấu đi -sẽ chẳng bao
giờ đem lại cho ta hạnh phúc hay chánh niệm.
Nhưng cách giải quyết tốt nhất không phải là đi tìm bạn
mới, hay che giấu tình cảm của mình, mà là phải thay đổi
cách suy nghĩ, cách nhìn của ta về tha nhân. Đức Phật đã
được gọi là vị Thầy của những chúng sanh có thể độ,
có thể được điều phục. Cái khó thể hàng phục nhất
là cái ngã của chúng ta. Người chưa biết tu, sẽ không
thể nhận thấy họ luôn biểu lộ điều họ thích hay không
thích. Họ luôn nghe theo những chấp kiến của họ, không
cần biết đến điều gì khác. Kẻ khác thì lại có
thể biết rất rõ về ngã chấp của mình, nhưng không thể
làm được gì vì chưa qua quá trình chuyển đổi tâm. Dầu
họ biết rất rõ về những tánh chưa điều phục được
-những phản ứng bản năng liên tục- họ vẫn không
thể kiềm chế chúng. Rồi cũng có những người biết tự
bắt đầu sửa đổi. Vì thế không nên xét đoán người khác
một cách chủ quan, coi như cá tính của con người cứng nhắc,
không thể thay đổi. Tất cả chúng sanh, ngoại trừ các
bậc A-la-hán, đều tội lỗi, nhưng tất cả cũng đều có
thể chuyển đổi, nếu họ thành tâm. Vì thế đối với tha
nhân, ta cần phải xem nếu họ có muốn sửa đổi hay không,
còn những người không muốn sửa đổi, thì đừng để ý
đến họ.
Chính sự đòi hỏi, mong đợi khiến ta có những phán đoán
tiêu cực về bản thân cũng như với người khác. Chúng ta
không mong mỏi phải là người hoàn toàn tốt đẹp, thông
mình, đẹp đẻ, giàu sang, thanh tịnh, thánh thiện, nhưng chúng
ta lại đòi hỏi cái ngã của ta phải cứng rắn, hoàn hảo,
vững bền. Đó là lý do tại sao chúng sanh muốn tích tụ của
cải vậït chất. Vì càng có nhiều của cải, ta càng
nghĩ mình đặc biệt, như thể rằng sở hữu và hiện hữu
là một. Nhưng điều ta thật sự kiếm tìm là sự bình
an, không lo sợ, vì thế, khi không đạt đưọc mục đích,
ta sinh ra phiền não.
Ngoài ra ta còn tìm sự thoả mãn khi chấp vào hình tướng
nam, nữ, làm mẹ, làm con, làm thiền sinh, hay là người thông
minh, danh giá, đẹp đẻ, vân vân và vân vân. Dầu ta
không ngừng tìm kiếm sự tự tin, tha nhân cũng không thể
ủng hộ ta, vì họ đâu có biết thậït sự ta muốn gì. Và
vì người khác không thể ủng hộ, chấp nhận ta, lòng mong
mỏi, chờ đợi của ta không thể được thoả mãn. Do đó,
ta sinh ra thất vọng, và ta càng thấy khó chấp nhận bản
thân hơn.
Thêm nữõa, ta cũng mong mỏi được trở nên một người xứng
đáng hơn, thánh thiện hơn con người hiện tại của mình.
Lòng hy vọng đó tùy thuộc vào tương lai, vì thế hiện tại
chưa thể khả thi, cũng là cơ hội để phiền não bước vào
tâm ta. Tóm lại bất cứ điều gì chỉ nhằm mục đích củng
cố thêm ngã chấp của ta, sẽ không thể thành tựu đưọc,
vì chúng có mặt phút nầy, phút sau đã biến mất. Vì thế,
thay vì được hạnh phúc, bình yên, ta chỉ gặt hái sự sợ
hãi, âu lo -sợ không đạt được điều mong muốn, lo
âu, tìm mọi cách để đạt đưọc điều mong muốn.
Khi chúng ta còn chấp vào ngũ uẩn -thân, thọ, tưởng, hành
và thức- chúng ta còn đau khổ. Tuy nhiên, ngũ uẩn còn
có hình tướng, còn hiện hữu. Tất cả các tướng chấp
khác như sở hữu, được danh giá hay gì đó, chỉ là ảo
tưởng, hầu như không hình tướng. Do đó, những nỗi khổ
đau do chúng mang lại cho ta càng sâu đậïm hơn năm uẩn. Chúng
ta càng chấp vào chúng, mà không ý thức được điều đó,
càng khó rèn luyện được tâm biết thương yêu. Vì sự bám
víu, cố chấp tạo ra ngăn cách, phán đoán, chia rẽ, ngăn
trở lòng
hỷ
xả, cởi mở. Mà không có tình thương, lòng hỷ xả,
ta càng thêm khổ đau, thiếu sáng suốt -một trái tim
biết thương yêu và một cái đầu sáng suốt thường đi đôi
với nhau. Khi nào ta còn kích bác, không chấp nhận chính bản
thân và tha nhân, khi đó ta còn thấy khổ đau. Ta khó thể
biết thế nào là sự bình an thanh tịnh.
Thanh tịnh, bình an không phải là sự vắng mặt của điên
đảo. Sức khoẻ thực sự không phải là sự vắng mặt của
bịnh hoạn. Thanh tịnh là trạng thái nội tâm tròn đầy,
không có chỗ cho ngã chấp, tham muốn, hay lo âu, sợ hãi không
đạt được những gì mình mong muốn, là khi ta nương trụ
nơi chính ta. Phật giáo hướng ta đến buông xả, con đường
tu tập để phá chấp -không tham, không chấp, không sở hữu.
Tâm thanh tịnh không phải tự nhiên mà có đưọc. Phải
tu tập, rèn luyện công phu mới có đưọc. Chúng ta sinh ra
mang theo những hạt giống của tham sân, nhưng cũng không thiếu
các hạt giống độ lượng, nhân từ. Chúng ta cần nỗâ lực
vun trồng các hạt giống thiện, đào bỏ các hạt giống xấu.
Nỗ lực nầy không thể đưọc lơ là phút giây nào cả.
Khi có tâm từ, ta sẽ thấy lợi ích của tha nhân cũng là
lợi ích của bản thân. Nếu lúc nào ta cũng chỉ biết
có 'cái tôi' và 'cái của tôi', thì việc rèn luyện để khai
mở lòng từ, càng quan trọng hơn nữa, vì khi tâm ta hẹp hòi,
chất chứa, thì trí ta cũng hoang mang, u tối. Tâm và trí không
phải là hai cơ quan độc lậïp (trong tiếng Pali, cả hai đều
được gọi là Citta). Nếu không bỏ công rèn luyện cả hai,
sợ rằng ta đã bỏ qua một phần quan trọng trong giáo lý
của Đức Phật. Thanh tịnh đưọc các cảm thọ giúp đầu
óc ta thêm sáng suốt. Ta cũng cần thanh tịnh hoá những tình
cảm chấp ngã, muốn nhận vào, nhưng không muốn cho ra, diệt
bỏ những cấu uế trong ta.
Khó thể chấp nhận, thương yêu người khác cũng giống như
khó thể chấp nhận, thương yêu chính bản thân. Nhưng thương
yêu bản thân không có nghĩa là tự tôn, cảm thấy mình hơn
người, cao ngạo hay hoang tưởng về các khả năng của mình.
Thậït ra đó là một tình cảm từ bi, tình cảm của người
mẹ thương yêu con mình. “Như khi người mẹ không quản thân
mạng thương yêu, che chở cho con mình, đứa con duy nhất của
mình. . . ‘, như Đức Phật đã dạy trong Kinh Từ Bi. Nếu
chúng ta có thể phát khởi tình yêu thương đó đối với
bản thân, ta cũng có thể nhân rộng đến với người chung
quanh, và tình cảm hòa ái sẽ phát khởi trong ta. Khi đó cả
hai, đời sống tâm linh và cuộc sống đời thường, thuận
theo một dòng chảy. Khi ta theo dỏi những biến chuyển
trong tâm không chỉ bằng con mắt hiểu biết về sự sinh diệt
của chúng, mà còn bằng lòng chăm chút, chú tâm sâu lắng,
ta có thể tiêu giảm được những cấu uế, tội lỗi của
mình. Đưọc như vậïy, ta sẽ bớt trở ngại trên bước
đường tu của mình.
Ta cần phải ít nhiều buông bỏ những tham cầu, bám víu.
Vì tham muốn là gốc của khổ đau. Nên nếu ta thực
sự muốn giảm bớt khổ đau, ta phải biết kiềm chế lòng
ham muốn. Con đường tâm linh là con đường của nỗ lực
nội tâm; không chỉ là việc ngồi xuống chiếu thiền. Cuộc
hành trình tâm linh chỉ thậït sự bắt đầu khi ta có thể
ý thức được những gì đang dấy khởi trong nội tâm, và
có thể buông bỏ chúng.
Thường chúng ta có thể dễ dàng nhận ra các động lực hành
động ở người hơn là của chính bản thân. Tuy nhiên, những
gì chúng ta thấy ở người khác chỉ là sự phản
chiếu
của bản thân, nếu không làm sao ta có thể hiểu được ý
nghĩa của những gì ta quan sát thấy. Do đó, thay vì trách
cứ, ghét bỏ người khác, chúng ta biết mình phải làm gì:
Hãy coi tha nhân là tấm gương soi của chính mình. Nếu ta có
thể nhận biết những gì xảy ra cho người khác đó là vì
chúng ta cũng đã từng trãi qua những kinh nghiệm đó.
Hạnh phúc và bình an đồng nghĩa với nhau. Nhưng hạnh phúc
và dục lạc thì trái ngược nhau. Dục lạc chỉ xảy ra trong
thoáng chốc, do những xúc chạm nhất thời mang đến, trong
khi hạnh phúc hay bình an là một trạng thái của bản thể.
Nếu tâm ta không có bình an, ta sẽ không cảm nhận được
hạnh phúc. Vì thế ta cần tìm hiểu tại sao nội tâm mình
không được tự tại. Ta đã ước muốn điều gì, mà không
đượa! mãn? Tại sao những hy vọng của ta không thành hiện
thực? Ta bám víu vào gì ở tự ngã và ở tha nhân? Ta lo sợ
mất mát điều chi? Có phải vì ta luôn đánh bóng cái ngã
cửa mình, nhưng không đưọc ai ủng hộ? Sẽ không thể
có bình an, hạnh phúc trong những trang thái tâm kể trên.
Nếu không có trực giác về những nội kết nầy, chúng ta
không thể sửa đổi được gì. Trực giác đó chỉ có thể
có được bằng cách quán xét nội tâm, tức là sati, hay là
chánh niệm. Một chữ ngắn gọn đó bao gồm cả con đường,
đạo và quả. Chánh niệm đó quy thẳng vào nội tâm,
bằng sự nhạy bén của kính hiển vi, không phải bằng sự
chú tâm hời hợt mà ta thường có đối vơi nhiều việc khác.
Sự thật đưọc bộc lộ rõ ràng, hiển nhiên đó đôi khi
làm ta đau khổ, vì những điều ta khám phá ra có thể không
đẹp đẻ chút nào; ta đau khổ vì sự phán đoán của chính
mình, vì ta không thể chấp nhận một khía cạnh nào đó của
bản thân. Nếu không tu tập để được thanh tịnh
hóa, ta còn phải chịu nhiều đau đớn hơn thế nữa.
Trong giáo lý của Đức Phật đã nói rõ phiền não, cấu uế
là bản tính của chúng sanh, nhưng chúng sanh cũng có thể tu
tập , rèn luyện để được thanh tịnh hóa. Nhưng muốn
đưọc bước trên con đường thanh tịnh hóa, ta cần quán
xét lại lòng ham muốn của mình. Hãy viết chúng xuống
giấy, để tự hỏi xem mình có thực sự cần chúng không.
Có thể ta cần được thương yêu, ngưỡng mộ, mang ơn; có
thể ta cần sự thông minh, giác ngộ hay chỉ cần chút thanh
tịnh. Sau đó, hãy tự hỏi tiếp: Làm sao ta có thể tìm được
bình an trong nội tâm? Khi chúng ta viết xuống những kinh nghiệm
của mình, rồi quán xét chúng, chắc rằng ta sẽ nhận ra sự
thanh tịnh, an bình là kết quả của việc từ bỏ các ham
muốn.
Nói thế không có nghĩa là chúng ta có thể ngay lậïp tức
từ bỏ mọi ham muốn, bám víu, nhưng có nghĩa là ta có thể
bắt đầu con đường của buông xả, chuyển đổi. Khi
lòng ham muốn nổi lên, hãy quán sát nó, hãy mỉm cười rồi
nó sẽ biến mất, và thay vào đó là tâm độ lượng sẽ
phát khởi trong ta. Khi tâm ta không còn đầy dẫy những ham
muốn, ta có thể lấp đầy tâm với tình thương yêu.
Tình thương yêu chính là tâm độ lượng. Chúng ta không thể
làm gì với tình thương yêu, ngoài việc ban phát chúng cho
mọi người. Khi lòng ham muốn giảm bớt, thì tình thương
yêu, lòng độ lượng tăng trưởng. Chúng ta cần nhớ là tình
thương yêu chân thật không tùy thuộc vào sự dễ thương
của người khác. Nếu ta chỉ thương yêu một người
vì người đó tử tế với ta, thì loại tình thương đó cũng
chỉ là một hình thức của chấp ngã. Tình thương yêu là
đặc tính của trái tim mà không tùy thuộc vào đặc tính
của người mình yêu.
Buông xả -không chấp- giúp chúng ta có thể thương yêu chính
mình và tha nhân dễ dàng hơn, đưa ta đến sự bình an, tự
tại. Tham muốn, ngược lại, vì luôn khiến ta phải tìm kiếm,
chạy đuổi không ngừng, nên chỉ tạo ra những cuộc chiến
trong tâm trí ta. Không có lòng ham muốn, sẽ không sinh
ra sự sợ hãi vì không đạt được hay không giữ được
điều mình mong muốn. Tâm sẽ không phát khởi âu lo, do đó
ta có thể trụ ngay trong giờ phút hiện tại.
Nếu sự bình an tự tại của tâm hồn là mục đích sống
của ta, thì buông xả là con đường phải chọn -không thể
có lựa chọn nào khác. Hãy dẹp bỏ trong tâm trí ta những
tham luyến, ngã chấp, mong cầu, và thay vào đó bằng lòng
độ lượng, thì cánh cửa của lòng từ bi sẽ được mở
ra. Nếu ta không làm đưọc như thế, thì lòng từ bi sẽ mãi
mãi chỉ là niềm hy vọng, một ước muốn chẳng bao
giờ thành tựu.
Đức Phật không bao giờ ép buộc ai phải theo giáo lý của
Ngài, nhưng chỉ khuyên ta hãy thực hành theo lời hướng dẫn
của Ngài để tự chứng lời dạy đó. Đó là phương pháp
của Đức Phật: rõ ràng, thẳng thắn và đã được bao nhiêu
người tin theo qua hằng bao thế kỷ.
Chúng ta không phải là những bộ máy, và bộ óc con người
không phải là chiếc máy vi tính đầy logic. Tâm ta có những
tình cảm mà ta gắn bó mậït thiết với chúng. Khi ta được
nghe những lời dạy của Đức Phật, tâm ta cảm thấy xao
động. Từ thâm sâu, dầu chưa tự chứng đưọc kết quả,
ta cũng hiểu rằng đó chính là chân lý.