24. PHẬT
GIÁO CÓ TIN RẰNG CÓ LINH HỒN TỒN TẠI HAY KHÔNG
Không tin. Phật giáo không tin là
có một linh hồn vĩnh hằng, bất biến. Nếu tin có linh hồn
như vậy, thì đó là "thần ngã ngoại đạo", không phải là
người Phật tử chính tín.
Đúng là trong quan niệm của người
bình thường, trừ những người theo duy vật luận ra, còn
thì ai cũng cho rằng mỗi người đều có một linh hồn vĩnh
hằng bất biến, gần đây, ở Âu Mỹ, có lập ra "Linh tri
học hội", đối tượng nghiên cứu của Hội là linh hồn.
Cơ đốc giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo, Lão giáo v.v… đều
là những tôn giáo ít nhiều tin tưởng có linh hồn, cho rằng
người ta làm thiện hay ác, sau khi chết đi, sẽ bị Thượng
Đế hay Diêm Vương phán xử, người tốt thì linh hồn lên
thiên đường, người xấu thì linh hồn đọa địa ngục.
Ở trong dân gian Trung Quốc, sự
mê tín linh hồn có gốc rễ rất sâu bền, lại còn thêm sai
lầm to lớn này nữa là người Trung Quốc tin rằng, sau khi
người chết linh hồn biến thành quỷ. Linh hồn là quỷ, trong
tín ngưỡng dân gian Trung Quốc, là cả một mớ mê tín lớn
và bùng nhùng khó gỡ ra được. Điều đáng buồn cười là
vì quỷ có chút ít thần thông cho nên lại cho rằng linh hồn
là một vật tập hợp của "3 hồn 6 phách".
Kỳ thực, quỷ chỉ là một trong
6 loại chúng sinh cũng như người là một trong 6 loại chúng
sinh không khác. Sinh làm người, có sống có chết. Sinh làm
quỷ, cũng có sống có chết. Nhưng người sinh từ bào thai,
còn quỷ là hóa sinh. Huống hồ, người chết rồi vị tất
đã làm quỷ. Vấn đề này, sẽ được bàn rõ trong một tiết
khác.
Đối với linh hồn, ở Trung Quốc
có rất nhiều truyền thuyết, hoặc cho rằng, trong việc sống
chết của người, linh hồn có một tác dụng bắc cầu. Linh
hồn đầu thai là sinh, linh hồn tách rời thân xác là chết,
xem quan hệ giữa linh hồn và thân xác giống quan hệ giữa
chủ hộ và nhà cửa. Nhà cũ, hư nát thì dọn đến nhà mới,
nhà mới thay nhà cũ, thay đi thay lại, chủ hộ đi đi lại
lại nhưng vẫn vĩnh hằng bất biến. Tức là nói con người
là linh hồn, đắp thêm cái áo thân xác. Thân xác có thể
thay đổi, còn linh hồn là bất biến, là chủ thể trong dòng
lưu chuyển sinh tử.
Trên sự thực, Phật giáo không
công nhận những quan niệm về linh hồn như vậy, vì những
quan niệm đó không thể đứng vững với thuyết duyên sinh,
duyên diệt của đạo Phật. Trên quan điểm sinh diệt vô thường,
Phật giáo xem tất cả mọi sự vật đều sinh diệt vô thường.
Trong cả hai thế giới vật chất và tinh thần, đều sinh diệt
vô thường. Dùng mắt thịt mà nhìn sự vật, thì đôi khi
nhìn thấy có sự vật không biến đổi, nhưng nên dùng dụng
cụ khoa học tinh vi để nhìn, thì thấy không có sự vật
nào là không biến đổi trong từng giây phút một. Kinh Dịch
nói "sinh, sinh", nhưng kỳ thực, ở đàng sau "sinh, sinh" là
"tử, tử", tức là biến biến, hóa hóa.
Hiện tượng vật lý trong thế giới
vật chất, là sinh diệt không ngừng. Hiện tượng tâm lý
tinh thần lại càng dễ quan sát. Là bởi vì, hiện tượng
tâm lý nảy sinh là do tinh thần biến động. Hiện tượng
tâm lý biến động, dẫn tới hành vi thiện, ác. Hành vi thiện
ác ảnh hưởng trở lại khuynh hướng tâm lý, tiền đồ của
chúng ta, tương lai của chúng ta được quy định bởi tác
dụng tuần hoàn đó của tâm lý ảnh hưởng tới hành vi,
và hành vi ảnh hưởng trở lại tâm lý.
Thử hỏi : Làm sao có thể có linh
hồn bất biến, linh hồn vĩnh hằng ? Dường như là không
thể có được, không những người chết rồi, không có linh
hồn cố định, mà ngay khi còn sống, thân tâm chúng ta đều
biến đổi không ngừng trong từng phút giây một. Thế nhưng,
Phật giáo đã không tin có linh hồn, thì bản thể của việc
luân hồi trong sáu cõi và siêu phàm nhập thánh là gì ? Hay
nói cách khác, cái gì "luân hồi", cái gì "siêu phàm, nhập
thánh" ?
Đây chính là điểm ưu việt đặc
thù của Phật giáo, vừa không xem trọng giá trị vĩnh cửu
của tự ngã, lại vừa khẳng định giá trị hướng thượng
của tự tính.
Phật giáo chủ trương thuyết "nhân
duyên sinh" và "tự tính vốn là không" (tự tính bản không).
Phật giáo xem vật chất là nhân
duyên sinh, xem tinh thần cũng là nhân duyên sinh. Nhân duyên
tụ hội gọi là sinh, nhân duyên ly tán, gọi là diệt. Lớn
như một tinh cầu, một thiên thể cho đến cả thế giới
vũ trụ, nhỏ như một sợi cỏ, một hạt bụi, một nguyên
tử… không có một sự vật nào là không do nội nhân, ngoại
duyên hội tụ mà tồn tại.
Nếu loại bỏ nhân và duyên ra,
không có một sự vật nào có thể tồn tại được. Vì vậy,
nếu xét trên căn bản, thì không có một sự vật nào hết.
Về vấn đề này, các nhà khoa học vật lý và hóa học, có
thể cung cấp cho chúng ta câu trả lời chính xác và chính
diện.
Còn tinh thần là gì ? Phật giáo
tuy bác thuyết linh hồn, nhưng không phải là theo duy vật luận.
Cái gọi là tinh thần thì Phật giáo gọi chúng bằng danh từ
"thức". Phật giáo Tiểu thừa chỉ nói sáu thức, và lấy
thức thứ 6 (đệ lục thức) làm chủ thể của sinh mạng.
Phật giáo Đại thừa nói thêm hai thức nữa, tổng cộng có
tám thức, và lấy thức thứ tám (đệ bát thức) làm chủ
thể của sinh mạng. Ở đây, chỉ giới thiệu thuyết tám
thức của Đại thừa.
Trong 8 thức của Đại thừa, thì
sáu thức đầu giống như sáu thức của Tiểu thừa, và phân
tích sâu hơn công năng của thức thứ sáu, nhận ra thêm thức
thứ bảy và thức thứ tám.
Trên thực tế, chủ thể của 8
thức chỉ có một, nhưng do phân tích công năng mà chia thành
tám. Làm ác, làm thiện là bảy thức đầu, và đem các nhân
thiện, ác đó ký gửi ở thức thứ tám. Thức thứ tám là
cái kho tàng chấp chứa tất cả hạt giống của nghiệp, tất
cả nghiệp nhân. Người tổng quản của kho tàng là thức
thứ bảy. Lấy của ra, đưa của vào kho là thức thứ 6, còn
5 thức đầu là tạo nghiệp.
Như vậy công năng của thức thứ
tám là tàng trữ, nhưng không giống như ông Thần tài giữ
của, chỉ nhập mà không xuất kho, ở kho tàng thức thứ tám,
tình hình xuất và nhập kho nối tiếp không ngừng, nhập kho
là các hành vi ảnh hưởng đến tâm lý, và để lại dấu
ấn trong thức thứ tám gọi là nghiệp nhân hay chủng
tử. Còn xuất kho là tâm lý dẫn tới hành vi tạo nghiệp
hay cảm thụ, gọi là nghiệp quả hay hiện hành.
Chủng tử thành hiện hành, đó là xuất. Hiện hành thành
chủng tử đó là nhập. Trong một đời, tình hình là như
vậy. Trong 2, 3 đời hay là vô số đời liên tiếp, tình hình
cũng là như vậy. Tất cả mọi diễn biến nhân quả trong
đời hiện tại cũng như trong vô số đời quá khứ và đời
vị lai, tình hình cũng đều như vậy, đều không ra ngoài
quy luật quan hệ giữa chủng tử và hiện hành. Do đó mà
có tinh hình sinh tử tương tục, sinh mạng nối tiếp không
ngắt đoạn.
Do quan hệ xuất nhập của chủng
tử và hiện hành, tiến hành thường xuyên không ngắt đoạn
như vậy, cho nên bản chất của thức thứ tám cũng là thường
xuyên biến động không ngừng. Không những thức thứ tám
của đời này, so với đời trước và đời sau là biến động
không ngừng mà từ một niệm trước đến niệm sau, đã có
biến đổi rồi. Vì tình hình của thức thứ tám là niệm
niệm sinh diệt, niệm niệm biến đổi, cho nên chúng ta mới
luân hồi sinh tử và đồng thời có khả năng thoát ly sinh
tử. Thức thứ tám tồn tại chính là nghiệp nhân và nghiệp
quả liên tục tồn tại và biến động. Ngoài sự biến động
liên tục của dây chuyền nghiệp nhân nghiệp quả này, không
thể tìm đâu ra thức thứ tám ! Cũng như dòng nước chảy,
là do nước chảy mà có, không thể tìm đâu ra cái gọi là
dòng nước chảy, ở ngoài nước ! Mục đích giải thoát của
đạo Phật là cắt đứt dòng chảy sinh tử nhân quả liên
tục đó. Khi tác dụng của thức thứ tám không còn nữa,
thức thứ tám không còn chấp chứa gì nữa, cũng không còn
hiện hành gì nữa, thì thành tựu được "tính không", thức
(phiền não) chuyển thành trí (thanh tịnh), không còn bị sinh
tử chi phối nữa, và trở thành tự do trong sinh tử.
Có thể thấy thức thứ tám không
giống như linh hồn vĩnh hằng. Nếu tin có linh hồn vĩnh hằng,
thì sẽ mất khả năng siêu phàm, nhập Thánh, giải thoát khỏi
sinh tử. Phật giáo trên quan niệm thì phủ định linh hồn,
trên mục đích thì phủ định thức thứ tám. Chỉ có phủ
định thức thứ tám như là sự giả hiện của vô minh phiền
não tương tục thì mới có thể được triệt để giải thoát.
Nhưng phủ định thức thứ tám không có nghĩa là không có
gì hết nữa, mà là còn trí tuệ lặng chiếu, siêu việt hữu
và vô, không còn có vô minh phiền não bức nhiễu nữa.
25.
PHẬT GIÁO CÓ SÙNG BÁI QUỶ THẦN KHÔNG 
Rất rõ ràng, một Phật tử chính
tín chỉ sùng bái Phật, Pháp, Tăng, tức là Tam Bảo, tuyệt
đối không sùng bái quỷ thần. Thế nhưng, Phật giáo chính
tín không phủ định sự tồn tại của quỷ thần. Bởi vì
quỷ và thần thuộc 2 cõi trong 6 cõi sống của chúng sinh nằm
trong vòng sinh tử luân hồi. Do đó, thần của Phật giáo không
phải là Thượng Đế của tôn giáo thần quyền, quỷ mà kinh
Phật nói cũng không phải là ma quỷ của tôn giáo thần quyền.
Thần mà Phật giáo nói cũng là chúng sinh ở cõi phàm. Ma của
Phật giáo nói là chúng sinh ở cõi Trời thứ sáu của Dục
giới. Ma của Phật giáo đúng là ma. Quỷ của Phật giáo đúng
là quỷ. Ma mà sách Phật nói có bốn loại : Thiên ma, ma ngũ
uẩn, ma phiền não, ma chết. Trừ thiên ma ra, còn ba loại ma
kia đều phát xuất từ sinh lý và tâm lý của con người.
Thần mà Phật giáo nói, thông thường
chiếm vị trí trung gian giữa loài Trời và loài quỷ. Quỷ
có phúc đức lớn gọi là thần. Tùy tòng đi theo các loài
Trời cũng thường thường là thần. Quỷ có các loài : Đa
tài quỷ, thiểu tài quỷ, quỷ đói, đa tài đại phúc quỷ
(1).
Các loại quỷ này, tuy ở cõi quỷ nhưng lại được hưởng
phúc đức của loài Trời. Các thần được dân gian sùng bái,
hơn nữa nếu là loài quỷ có phúc đức lớn. Thần thì có
thiên thần, không thần (thần ở trong hư không), địa thần.
Cũng có thể phân loại : Thiên thần, súc thần (thần súc
vật), quỷ thần, các loại thần do dân gian sùng bái như thần
rắn, thần bò, thần linh thảo mộc, thần núi, thần sông
v.v…, phần lớn đều là địa thần, súc thần hay quỷ thần.
Kinh Phật thường nói tới Bát bộ quỷ thần, tức là thiên
thần, long thần (thần loài rồng), thần Dạ Xoa (gọi là phi
không quỷ - quỷ bay trên không), Càn thát bà (thần nhạc trời),
A Tu La, Ca Lâu La (chim cánh vàng), Khẩn na la (chim có giọng
hót hay), Ma Hầu La Già (con trăn thần). Trong Bát bộ quỷ thần,
có thần thiện, có thần ác. Thông thường loài thần thiện
được Phật giáo cảm hóa và trở thành thần hộ pháp. Vì
vậy, Phật tử chính tín không sùng bái quỷ thần, nhưng giữ
thái độ kính lễ đúng mức. Một Phật tử chính tín mà
sùng bái quỷ thần thì có tội về nguyên tắc. Các thiện
thần đều tự động gia hộ những người quy y Tam Bảo, cho
nên họ nhất định không chịu tiếp nhận sự sùng bái của
quỷ thần của Phật tử đã quy y Tam Bảo. Chính vì có sự
hộ trì của thiện thần, mà ác thần, ác quỷ không dám xâm
phạm đến những người đã quy y Tam Bảo.
______
(1) Tên các loài quỷ. Tài là tiền
tài.
26. PHẬT
TỬ CÓ TIN CÔNG NĂNG CỦA SỰ CẦU ĐẢO HAY KHÔNG
Đúng là Phật giáo có tin ở công
năng của cầu đảo. Về mặt trình độ và tỷ lệ linh nghiệm
thì cầu đảo của Phật giáo hơn xa cầu đảo của các tôn
giáo khác.
Nguyên lý của cầu đảo là sức
mạnh tâm lý của người cầu đảo, là sức mạnh của một
trạng thái tâm lý siêu tự nhiên, định tính, thống nhất,
đạt tới được nhờ có một niềm tin mạnh mẽ, nhờ đó
mà thông cảm được với nguyện lực đại bi của đối tượng
cầu đảo (chư Phật, Bồ Tát).
Sự giao tiếp giữa định lực của
bản thân với nguyện lực của chư Phật, Bồ Tát, tạo thành
một loại thần lực không thể nghĩ bàn. Nó chính là linh
nghiệm và kinh nghiệm của sự cầu đảo. Ở các vùng nước
Trung Hoa theo Phật giáo Đại thừa, sự cầu đảo Bồ Tát
Quan Âm có nhiều linh nghiệm rõ ràng. Hơn nữa, một Phật
tử thuần thành, vốn thường xuyên được thiện thần ủng
hộ, cho nên dù không cầu đảo, mà gặp biến cố, cũng thường
không mắc nạn, việc dữ chuyển thành việc lành. Vì công
năng của cầu đảo là ở niềm tin kiên định, cho nên những
Phật tử có niềm tin kiên định, cũng không khác gì thường
xuyên cầu đảo và được hưởng công năng của sự cầu
đảo.
Phật giáo tuy tin tưởng sâu sắc
ở công năng của cầu đảo, nhưng không cường điệu tính
vạn năng của cầu đảo. Thí dụ, Phật tử bị bệnh, cầu
an là cần thiết, nếu người bệnh có lòng tự tin, lại biết
cầu xin khẩn thiết, thì có thể có cảm ứng và bệnh giảm.
Vì vậy, thuyết pháp nghe pháp cũng có thể trị bệnh (Tăng
A Hàm quyển 6 và Tạp A Hàm quyển 5 v.v…), nếu bệnh nhân
thiếu lòng tự tin, lại thiếu kinh nghiệm về cầu đảo,
thì nên mời thầy thuốc đến xem bệnh, chữa bệnh. Cho nên,
khi đức Phật Thích Ca còn lại thế, Tỷ khiêu mắc bệnh,
thông thường là dùng thuốc chữa bệnh. (4)
Vì vậy, nói chung, người ta tin
rằng Phật giáo chủ yếu là để chữa tâm bệnh, bệnh sinh
tử của chúng sinh. Còn y học là để chữa thân bệnh. Khi
mắc bệnh, cầu an là cần thiết, xem bệnh chữa bệnh cũng
là cần thiết. Đó là kiến giải của Phật giáo chính tín.
27. PHẬT
GIÁO CÓ CHỦ TRƯƠNG ĐỐT VÀNG MÃ HAY KHÔNG 
Không ! Phật giáo không có một
quy định mê tín như vậy. Người Trung Quốc có tập tục
đốt tiền giấy, ngay từ sau đời nhà Hán. Bác sĩ Vương
Dư đời Đường viết rằng : "Từ đời nhà Hán, có tục
chôn tiền, và đời sau lấy giấy thay tiền…". Như vậy,
từ đời nhà Hán về sau, có tập tục chôn tiền cùng với
người chết. Vì ở Trung Quốc, từ thời xưa, có niềm tin
là người chết biến thành quỷ. Sách vở cũng viết : "Người
chết biến thành quỷ". Thế giới của quỷ cũng giống như
thế giới của người, chỉ có âm dương khác nhau mà thôi.
Quỷ cũng phải có tiền để sống, do đó mà chôn tiền. Về
sau, người ta thấy rằng chôn tiền thật là lãng phí, bèn
lấy giấy cắt thành tiền giấy, rồi đốt đi để cho quỷ
dùng. Ở thời cận đại, tiền giấy lưu thông, có cả tiền
của "Ngân hàng dưới âm phủ" được lạm phát rộng rãi
!.
Lối mê tín hạ đẳng này, bộ
tộc nguyên thủy nào cũng có ít nhiều. Người ta cùng chôn
với người chết đồ vật, tiền tài, châu báu, vải vóc,
thậm chí cả đến người sống và súc vật sống nữa.
Vì sao lại đốt tiền giấy ? Điều
này có liên quan đến một loại tôn giáo gọi là Hỏa giáo.
Hỏa giáo tin rằng Thần Hỏa có khả năng đưa vật bị đốt
đến cho quỷ thần dùng. Trong Ấn Độ giáo thờ Hỏa thần
Agui (A Kỳ Tu) có công năng đem đồ tế bị đốt đến cho
quỷ thần.
Trong dân gian Trung Quốc, người
ta không những đốt tiền giấy, bạc giấy, mà còn làm cả
nhà cửa, gia cụ bằng giấy, thậm chí làm cả tàu bay, thuyền
bè bằng giấy để đốt vàng mã, cúng người chết.
Sự thực, Phật giáo không cho rằng,
người chết đều biến thành quỷ. Cõi quỷ chỉ là một
trong sáu cõi sống của chúng sinh. Phật giáo lại càng không
tin quỷ có thể dùng được tiền giấy và các dụng cụ bằng
giấy bị đốt ! Phật giáo chỉ tin rằng, con cái thân thuộc
của người chết có thể làm các việc như bố thí, cúng
Phật, trai tăng, rồi hồi hướng công đức ấy cho vong linh,
và siêu độ vong linh. Còn tất cả mọi việc làm khác đều
chỉ là mê tín vô ích mà thôi. Phật giáo không những không
chủ trương mai táng đồ vật, mà còn chủ trương không nên
dùng quan tài đắt tiền, không nên để cho người chết mặc
quần áo đắt tiền, không nên lãng trí quá nhiều công và
của. Trái lại, nên mặc cho người chết quần áo bình thường,
sạch sẽ, còn quần áo tốt đẹp và mới thì nên đem bố
thí cho kẻ nghèo, nếu có tiền thì nên đem cúng dường Tam
Bảo và bố thí cho người nghèo, chỉ có làm như vậy, vong
linh người chết mới thật sự được lợi ích; còn nếu
đem các đồ vật quý cùng mai táng với người chết, thì
đó là hành vi ngu si nhất, không xứng đáng là một Phật
tử chính tín.
Đáng tiếc là hiện nay, đa số
tăng ni cũng không hiểu đạo lý ấy, thậm chí Phật tử ở
Trung Hoa lục địa sang Đài Loan còn phát minh ra loại tiền
giấy đặc biệt gọi là "tiền giấy vãng sinh", tức là trên
một tờ giấy màu vàng, dùng mực đỏ in bài chú vãng sinh
bằng chữ Phạn. Thực ra, công dụng tụng chú và tác dụng
đốt tiền giấy là 2 chuyện căn bản khác nhau. Nếu hiểu
đúng theo kinh Phật, thì không được đốt kinh và chú, nếu
đốt thì có tội.
Hơn nữa, các tăng ni tụng kinh,
lễ sám, cầu đảo v.v… đều có viết sớ. Đọc sớ xong
rồi đốt sớ đi. Đó là bắt chước đạo gia đọc sớ cho
quỷ thần nghe, đó là mê tín, hoàn toàn không có căn cứ
gì trong giáo lý đạo Phật cả. Trong mọi việc, Phật giáo
đều chủ trương lấy tâm thành kính để có cảm ứng. Đã
đạt tới chỗ tâm thành và cảm ứng rồi, là có linh nghiệm,
chứ không cần phải đốt lá sớ. Bằng không thì dù có đốt
đến trăm ngàn lá sớ, cũng chẳng có ích gì.
28. PHẬT
GIÁO CÓ TIN ĐỊNH LUẬT NHÂN QUẢ LÀ CHÍNH XÁC? 
Đúng như vậy, Phật giáo tin tưởng
định luật nhân quả là chính xác, cũng như mọi người đều
tin, đã ăn thì được no vậy.
Người ta hoài nghi tính chính xác
của luật nhân quả là vì người ta nhìn theo góc độ một
đời người cho nên thấy sự báo ứng thiện ác là không
công bằng; có người sống lành lại bị khổ; không những
không gặp điều may mắn mà lại còn chết khổ ! Có người
ăn hối lộ, làm trái luật pháp, làm chuyện rất tầm bậy,
nhưng vẫn sống tự do ngoài vòng pháp luật, được cả phúc,
cả thọ !
Kỳ thực, luật nhân quả tác động
thông suốt cả 3 đời. Con người, ngoài đời sống hiện
tại, đã từng sống những đời sống quá khứ nhiều vô
lượng, và sẽ sống những đời sống vị lai nhiều vô lượng.
Một đời sống hiện tại, đem so với vô số đời sống
quá khứ, và vô số đời sống vị lai, thì thật là bé nhỏ,
ngắn ngủi không đáng kể. Định luật nhân quả quán xuyến
cả ba đời. Việc thụ báo lần lượt sẽ diễn biến theo
thứ tự. Nghiệp lực nhỏ lớn, nhẹ nặng khác nhau, quyết
định thứ tự và mức độ thụ báo khác nhau. Đời này,
làm thiện làm ác, vị tất phải chịu báo trong đời này.
Đời này, chịu khổ được vui, vị tất đã do nghiệp nhân
tạo ra trong đời này. Hơn phân nửa chuyện xảy ra trong đời
này là quả báo của nghiệp nhân, tạo ra ở đời sống trước.
Phần lớn việc làm trong đời này, phải chờ tới đời sau
mới có quả báo. Nếu nhìn suốt cả ba đời thì sẽ không
còn thắc mắc gì nữa đối với luật nhân quả !
Hơn nữa, luật nhân quả của đạo
Phật không giống như túc mệnh luận hay định mệnh luận.
Phật giáo tin rằng, chỉ có những nghiệp lực cực nặng
mới không thể chuyển biến được, mới là định nghiệp,
còn thì người ta có thể dựa vào sự nỗ lực về sau của
mình để cải biến nghiệp nhân quá khứ. Thí dụ, đời trước
tạo ra nghiệp nhân của sự nghèo khổ. Đời này, đúng là
gặp cảnh túng quẫn, thế nhưng sinh ra trong cảnh nghèo khổ
không phải là quan trọng. Nếu biết cố gắng thì hoàn cảnh
nghèo khổ sẽ được cải thiện. Như vậy là kết hợp nghiệp
nhân hiện tạo, với nghiệp nhân tạo ra trong đời quá khứ,
cho nên mới có hoàn cảnh ngày nay. Vì vậy, luật nhân quả
của đạo Phật không phải là túc mệnh luận, cũng không
phải là định mệnh luận, mà là "nỗ lực luận". Nếu Phật
giáo rơi vào túc mệnh luận hay định mệnh luận, thì thuyết
chúng sinh thành Phật không thể nào đứng vững được. Nếu
mệnh vận đã do đời sống quá khứ sắp xếp an bài cả
rồi, thì việc tu thiện ở đời này sẽ là uổng công hay
sao ?
Có thể thấy, luật nhân quả của
đạo Phật cũng không tách rời lý nhân duyên sinh. Từ nghiệp
nhân của đời quá khứ cho đến quả báo hiện tại, ở khâu
trung gian còn phải thêm bao nhiêu ngoại duyên nữa, thì nghiệp
quả mới thành sự thực được. Những ngoại duyên đó là
sự nỗ lực hay là lười biếng. Người đương sống làm
thiện hay ác cũng như một chén nước đường vốn có vị
ngọt, nhưng nếu lại bỏ thêm chanh hay cà phê vào đấy thì
vị ngọt của chén nước sẽ thay đổi.
Nói chung luật nhân quả của nhà
Phật quán thông và liên kết cả ba đời hiện tại, quá khứ
và vị lai. Đời này, tiếp thu nghiệp nhân của đời quá
khứ. Hành vi đời này, sẽ là nghiệp nhân của đời sau,
và cũng có thể gia nhập vào nghiệp nhân của đời trước,
tạo thành nghiệp quả của đời này.
Định luật nhân quả, nghe ra thì
giản đơn, thế nhưng giảng ra thì không giản đơn. Phật
giáo là một tôn giáo xem ra thì tựa hồ như giản đơn, nhưng
thực tế thì không giản đơn.
29. TẤT
CẢ PHẬT TỬ ĐỀU NGUYỆN VÃNG SINH VỀ THẾ GIỚI CỰC LẠC
HAY KHÔNG 
Đã là Phật tử chính tín, thì
không lấy việc sinh lên các cõi Trời làm mục đích cứu
kính, bởi vì ngoại trừ Tịnh cư thiên và nội viện Đâu
suất của Ngài Di Lặc ra, các cõi Trời vẫn nằm trong phạm
vi luân hồi sinh tử.
Đã là Phật tử chính tín thì đều
muốn giải thoát khỏi vòng sinh tử. Đấy là điều hiển
nhiên, bởi vì chỉ có giải thoát khỏi vòng sinh tử luân
hồi mới đạt tới được cảnh giới an lạc vĩnh hằng.
Thế giới Cực lạc là cõi Phật
hình thành trên nguyện lực của Phật A Di Đà; nhưng trong
pháp giới 10 phương có các cõi Tịnh độ của nhiều đức
Phật. Thế giới Cực lạc ở phươngg Tây chỉ là một trong
vô số lượng cõi Phật. Trong Phật tử cũng có những người
không muốn vãng sinh về cõi Cực lạc mà lại nguyện vãng
sinh về các thế giới khác. Thí dụ : Đại sư Đạo Ân đời
Đông Tấn, hai đại sư Huyền Trang và Khuy Cơ đời nhà Đường
và Đại sư Thái Hư trong thời cận đại đều nguyện vãng
sinh lên cõi Tịnh độ của Phật Di Lặc ở nội viện Đâu
Suất. Lại có những Phật tử có lòng bi nguyện lớn và niềm
tin vững mạnh thì không nguyện vãng sinh ở các thế giới
khác mà lại nguyện đời đời sinh ở cõi người để làm
công việc độ sinh cho loài người.
Còn Phật tử của các xứ Phật
giáo nam truyền (Thượng tọa bộ) thì căn bản không biết
đến sự tồn tại của thế giới Cực lạc. Hy vọng cao nhất
của giới xuất gia ở các xứ đó là ngay trong đời hiện
tại, chứng quả A-La-Hán, giải thoát khỏi sinh tử. Nếu đời
này không thành, thì họ chờ đợi được tu chứng trong các
đời sau kế tiếp. Họ không biết có thế giới Cực lạc
và cũng không tin có thế giới Cực lạc. Nếu Phật giáo đại
thừa nói với họ rằng có thế giới Cực lạc, thì họ không
tin, hay là nếu có tin thì họ cho rằng, thế giới Cực lạc
là ở trên các cõi Trời. (Xem Hải Triều Âm quyển 45 số
tháng 4, trang 211).
Bất quá, đối với những Phật
tử theo Phật giáo Đại thừa thuộc hệ duy tâm bình thường
thì sự tồn tại của thế giới Cực lạc vốn là niềm tin
sâu sắc; do sức bi nguyện của Phật A-Di-Đà, cho nên trong
ao sen của thế giới Cực lạc có đến chín phẩm. Ngay những
người phạm tội 5 nghịch 10 ác mà khi lâm chung, một lòng
niệm danh hiệu Phật A-Di-Đà, niệm 10 niệm không dứt tiếng,
vẫn có thể mang theo nghiệp vãng sinh trong hoa sen ở cấp thấp
nhất trong 9 phẩm. Ở đấy, trải qua 12 đại kiếp, hoa sen
sẽ nở, được nghe 2 Bồ Tát Quan Âm và Thế Chí thuyết pháp,
giảng giải đạo lý thực tướng của các pháp và duyên sinh,
giác ngộ thực tướng của các pháp, chứng ngộ được thực
tướng của các pháp, tức là thế tính vốn không của các
pháp và các pháp đều là duyên sinh, thì họ sẽ phá bỏ được
các quan niệm về thiện, ác, cởi bỏ được mọi thiện nghiệp
ác nghiệp. Đối với những người đó, mọi nghiệp chướng
đều tiêu trừ, nghiệp lực không còn chi phối họ nữa; họ
không còn chìm đắm trong sinh tử nữa. Tuy nhiên, những người
ấy có thể phát ra lời bi nguyện lớn lao, trở lại cõi người
để hoằng hóa độ sinh, hành Bồ Tát đạo, tuy rằng vẫn
chủ động đối với sinh tử chứ không bị sinh tử chi phối.
Do vậy, có thể thấy tín ngưỡng Phật A Di Đà là loại tín
ngưỡng an ổn lớn nhất, an toàn nhất, đáng tin cậy nhất,
đó cũng là niềm an ủi lớn nhất, ân đức lớn nhất đối
với nhiều người thiếu tinh thần tự chủ.
Thế nhưng, như kinh "A Di Đà" nói
người có ít thiện căn, ít phúc đức không thể vãng sinh
thế giới Cực lạc được. Nguyện lực của Phật A Di Đà
tuy lớn lao, vẫn phải dựa vào nếp sống hằng ngày tu nhân
tích đức của Phật tử. Nếu không thì đến lúc lâm chung,
rất có thể là đương sự không còn sức để niệm Phật
được nữa. Lúc ấy, dù Phật A Di Đà có muốn ra tay cứu
độ, cũng không làm gì được.
30.
PHẬT GIÁO CÓ COI TRỌNG THẦN TÍCH HAY KHÔNG ?
Trong Phật giáo, thần tích tức
là thần thông.
Phật giáo công nhận thần thông
là có thật, và cũng thừa nhận công dụng của thần thông.
Hơn nữa, cảnh giới thần thông của Phật giáo cao siêu hơn
nhiều, so với các tôn giáo khác.
Phật giáo tin rằng tất cả quỷ
thần, do quả báo của chúng mà có thần thông. Các tiên nhân
phàm phu (tuy là tiên nhưng chưa thoát khỏi sinh tử, cho nên
gọi là tiên phàm phu) cũng có thể nhờ tu định mà có thần
thông. Trong đạo Gia Tô khi thành tâm cầu nguyện, tâm lực
hoàn toàn tập trung thống nhất, cũng là một loại thiền
định. Tuy nhiên, phàm phu và quỷ thần, chỉ có thể thành
tựu được năm thần thông (1-5) ở mức độ nhiều ít, sâu
cạn khác nhau. Chỉ có các bậc Thánh trong Phật giáo, đã
giải thoát khỏi sinh tử, mới thành tựu được thêm một
thần thông nữa, gọi là lậu tận thông, tức là có
đầy đủ sáu thần thông.
Thế nhưng, Phật giáo không cho rằng
thần thông là vạn năng. Việc sống chết, họa phúc của
chúng sinh là do quy luật nhân quả chi phối, do nghiệp lực
thiện, ác quyết định, tự mình làm tự mình chịu. Công
dụng thần thông tuy rất lớn, nhưng nó không thể phá được
định luật nhân quả. Đối với loại nghiệp báo trọng đại,
có tính quyết định thì dù là sức thần thông của Phật
cũng không xoay chuyển được thế cục, nếu không thì sẽ
không còn có định luật nhân quả nữa. Vì vậy, khi đức
Phật còn tại thế, tuy có nhiều lần ngài có thể hiện thần
thông, nhưng ngài không làm cách tùy tiện. Trong các vị A La
Hán đệ tử lớn của Phật, cũng có nhiều vị có thần thông,
nhưng Phật không cho phép hiện thần thông trước người thế
tục [Xem Căn bổn tạp sự quyển II và luận Nghiếp quyển
9]. Vì Phật biết rằng, thần thông tuy có thể làm cho người
ta phấn chấn rầm rộ một thời gian, nhưng nếu sử dụng
không khéo thì có thể gây ra quả báo xấu ngược lại. (1
(1) Xem thêm "Phật học tri tân".
Bài "Cảnh giới và công dụng của thần thông" của Pháp sư
Thánh Nghiêm (738-824)
31. PHẬT
GIÁO CÓ SÙNG BÁI TRANH TƯỢNG KHÔNG ?
Có. Phật giáo với thái độ thành
kính, có sùng bái tượng Phật và Bồ Tát. Nhưng Phật giáo
chính tín không bao giờ xem tranh tượng Phật, Bồ Tát chính
là Phật, Bồ Tát bản thân [Tăng nhất A Hàm quyển 29 viết
rằng quán không là lễ Phật].
Phật giáo chính tín cho rằng, sùng
bái tranh tượng Phật, Bồ Tát là có mục đích dựa vào sự
sùng bái tranh tượng đó, dùng sức mạnh của tín ngưỡng,
cảm thông với bi nguyện của Phật, Bồ Tát. Cũng như người
xạ thủ ở trường bắn, khi ngắm bắn, hồng tâm của bia,
phải ngắm hồng tâm ngang qua cái thước ngắm và đầu ruồi
để bắn trúng đích. Tất nhiên, người bắn giỏi không cần
đến thước ngắm và đầu ruồi. Cũng như vậy một Phật
tử đã hiểu ngộ Phật Pháp, thì thấy bản thân Phật tràn
đầy hư không và pháp giới và không cần dùng tranh tượng
Phật làm môi giới cảm thông và cảm ứng nữa. Vì vậy mà
có sự tích tổ sư Đan Hà của Thiền Tông đời Đường.
Chẻ tượng Phật làm củi để sưởi (Xem Ngũ đăng hội nguyện).
Thế nhưng một Phật tử chưa chứng ngộ, há lại có thể
có thái độ bất kính đối với tượng Phật và Bồ Tát
hay sao ? Có khác nào một công dân há lại có thái độ bất
kính đối với tranh tượng của nguyên thủ quốc gia vậy.
32. PHẬT
TỬ CÓ PHẢN ĐỐI TỰ SÁT KHÔNG ? 
Có phản đối. Trong giới luật,
có quy định rõ. Phật tử không được tự sát, nếu tự
sát thì có tội [Xem Tứ phần luật và luận Nhiếp, quyển
2].
Ở đây, nói tự sát là vì chán
cuộc sống hiện tại, mà lầm nghĩ rằng, sau khi tự sát sẽ
được giải thoát.
Người Phật tử tin ở định luật
nhân quả, nếu không chứng ngộ thực tướng của các pháp,
nếu không lấy công phu tu trì để thoát khỏi sinh tử thì
tự sát không có tác dụng gì hết. Vì nếu chưa hết nghiệp
báo, thì dù có tự sát, cũng phải chịu một kỳ sinh tử
tiếp theo. Cũng như một con nợ, để tránh mặt chủ nợ đòi
nợ, bèn dời nhà từ nơi A đến nơi B. Nhưng sớm hay muộn,
chủ nợ cũng sẽ tìm ra nơi ở mới của con nợ, để tiếp
tục đòi nợ. Vì vậy, Phật tử phản đối tự sát, Phật
giáo động viên mọi người hãy tận dụng thời gian trong
một đời Người để nỗ lực tu thiện, tích đức nhằm
cải thiện vận mệnh hiện tại và tương lai của mình.
Thế nhưng, Phật giáo không phải
là một tôn giáo khuyến khích vị kỷ. Người Phật tử, vì
sự nghiệp độ sinh, trong trường hợp cần thiết cũng sẵn
sàng xả thân. Để bảo vệ tin ngưỡng thần thánh của mình,
có những Phật tử đã tuẫn tiết. Một người hành Bồ Tát
đạo chân chính, có thể xả bỏ cả tay chân, thịt, mắt
cho đến cái đầu của mình.
Cũng như đức Thích Ca Thế Tôn,
trong các kiếp sống trước của Ngài, trong thời kỳ hành
đạo Bồ Tát, Ngài đã nhiều lần xả thân không tiếc sinh
mạng. Như trong kinh Pháp Hoa nói : "Không có một bụi trần
nào nhỏ như hạt cải, không phải là nơi Bồ Tát xả bỏ
thân mạng". Kinh Tạp A Hàm quyển 39 và 47 kể truyện có ba
vị A La Hán tự sát mà đức Phật cũng tán thành.
33. PHẬT
GIÁO CÓ PHẢI LÀ TÔN GIÁO CHÁN ĐỜI VÀ XUẤT THẾ KHÔNG 
Tiền đề này có thể có hai đáp
án. Một khẳng định một phủ định. Nếu nhìn trên bề
mặt thì đáp án là khẳng định nhưng nếu nhìn vào bản
chất thì đáp án là phủ định.
Mục đích của Phật giáo là giải
thoát khỏi sinh tử. Có sống có chết là pháp thế gian. Không
sống không chết là pháp xuất thế gian. Trong pháp thế gian,
có sống chết cho nên vui ít khổ nhiều và biến động vô
thường, vì vậy không đáng để tham đắm. Phật giáo hình
dung cái vui của người say đắm tài sắc thế gian giống như
trẻ con liếm mật ở mũi dao nhọn, một miếng ăn không thể
bù cho liếm mật ở mũi dao nhọn, một miếng ăn không thể
bù cho cái họa đứt lưỡi (Kinh 42 chương). Cái vui của 5
món dục (hám tài, hiếu sắc, tham danh, ăn, ngủ) cũng như
bệnh ngứa, khi gãi thì thấy thích, dừng tay lại liền cảm
thấy đau rát. Do đó, cái vui của thế gian chỉ là chốc lát,
còn cái khổ của thế gian là lâu dài.
Vì nhàm chán thế gian khổ nhiều
vui ít, mà yêu cầu giải thoát sinh tử. Có thể thấy, Phật
giáo là nhàm chán thế gian, là xuất thế.
Nhưng Phật giáo không phải là tôn
giáo tự tư tự lợi. Phật tử không phải chỉ cần bản
thân mình thoát khỏi thế gian, mà còn tìm cách giúp tất cả
chúng sinh cũng thoát khỏi khổ não thế gian. Một người muốn
thành Phật trước hết phải hành Bồ Tát đạo, mà muốn
hành Bồ Tát đạo một cách thực tế thì phải dấn thân
nhập thế, vào đời; chỉ có đi vào giữa quần chúng thì
mới có thể hóa độ quần chúng. Muốn hóa độ quần chúng
thì phải tích cực khẳng định giá trị của hành vi con người
và phát huy giá trị đạo đức của con người. Nếu không
thể tự mình sống giữa quần chúng lại không có cống hiến,
không có sự phục vụ gì đặc biệt, không có biểu hiện
gì xuất sắc, thì làm sao quần chúng có thể vui vẻ, chịu
sự hướng dẫn và giáo hóa. Vì vậy, các Phật tử chính
tín đều dùng phương tiện nhập thế, như vậy có thể biết
chính vì nhàm chán thế gian mà nhập thế, và xuất thế là
mục đích cứu kính của nhập thế.
Tuy vậy, cũng có các bậc A La Hán
là bậc Thánh của Tiểu thừa, sau khi đã nhập Niết Bàn rồi,
không còn có ý muốn trở lại thế gian nữa. Nhưng, như kinh
Pháp Hoa nói, các bậc A La Hán, cuối cùng sẽ hướng tới
Đại thừa, phát Đại thừa tâm, hành Bồ Tát đạo.
34.
TỪ TIN PHẬT ĐẾN THÀNH PHẬT PHẢI MẤT BAO LÂU? 
Thành Phật, nói ra thực là một
chuyện vô cùng gian nan và xa vời. Giải thoát sinh tử không
phải là cái khó lớn. Chứng quả Bích Chi Phật nhiều nhất
mất 100 kiếp, ít thì bốn đời. Để chứng A La Hán, có thể
mất một đời, ba đời, nhiều nhất là một trăm kiếp. Người
lợi căn tu theo Đại thừa, có thể ngay trong một đời có
thể đạt tới cấp sáu căn đều thanh tịnh [Tức là đã
gần thoát khỏi sinh tử vì sắp lên địa vị Thánh của Sơ
địa]. Nhưng muốn thành Phật thì không phải chuyện giản
đơn. Thông thường từ tin Phật đến thành Phật, phải trải
qua ba đại kiếp vô lượng. Một kiếp thôi cũng đã rất
dài huống hồ là ba đại kiếp vô lượng [Vô lượng, có
nghĩa là dài khó tính bằng con số được, chứ không phải
là vô cùng tận]. Trong khoảng thời gian dài đẳng đẳng ấy,
hành Bồ Tát đạo, làm lợi lạc cho chúng sinh, nếu tinh tiến
đặc biệt thì có thể rút ngắn, nhưng nếu không thì thời
gian sẽ kéo dài. Nói chung lại, nếu không đạt tới chỗ
phúc đức và trí tuệ đầy đủ hoàn toàn, thì không thể
gieo được ân đức giáo hóa đến khắp 10 phương pháp giới,
và không thể thành Phật.
Thực ra, thời gian và không gian
chỉ là sự phân biệt của hàng phàm phu. Bồ Tát đã lên
tới địa vị Thánh, không có tính toán không gian và thời
gian như vậy. Vì rằng thời gian và không gian chỉ là tiêu
chí của thế giới vật lý. Trong thế giới thuần túy tinh
thần, thời gian dài ngắn, không gian lớn hay nhỏ đều không
thể an lập được. Ngay cảnh giới trong mộng của người
bình thường cũng đã không bị thời gian và không gian tầm
thường hạn chế rồi, huống hồ là đối với các bậc Thánh
xuất thế ? Vì vậy mà trong kinh Phật có các câu như : "Kiếp
dài nhập vào kiếp ngắn; kiếp ngắn nhập vào kiếp dài,
một kiếp nhập vào tất cả các kiếp, tất cả các kiếp
nhập vào một kiếp; một niệm nhập vào ba đời, ba đời
nhập vào một niệm; đại thiên thế giới nhập vào một
hạt bụi, một hạt bụi giống như đại thiên thế giới;
hay là trong một lỗ chân lông, chứa đựng vô số lượng
thế giới [kinh Hoa Nghiêm]. Những câu như vậy, xem ra giống
như chuyện thần thoại không thể tin được, nhưng nếu chịu
khó suy nghĩ khách quan và sâu sắc thì sẽ thấy, không phải
là không có đạo lý. Đương nhiên, hàng phàm phu, quyết không
thể thực nghiệm được cảnh giới như vậy.
35. NGAY
BẤY GIỜ LÀ THÀNH PHẬT LIỀN LÀ ĐIỀU CÓ THỰC HAY KHÔNG
? 
Đúng như vậy, nhà Phật có câu
: "Bỏ con dao giết thịt xuống, ngay bấy giờ là thành Phật
ngay". Cũng như câu thế gian : "Lãng tử hồi đầu kim bất
hoán" nghĩa là chàng lãng tử quay đầu trở lại, vàng cũng
không đổi. Bất quá khi chàng lãng tử quay đầu, cái quý
hóa là ở chỗ chàng lãng tử biết cải tà quy chính, đổi
mới cuộc đời mình, mới gọi là đạt được mục đích
của sự "quay đầu lại" và khi ấy, chàng lãng tử có giá
trị hơn vàng, vàng cũng không đem đổi được. Câu của nhà
Phật "Bỏ con dao giết thịt xuống, là thành Phật ngay" được
chấp nhận là đúng, nếu đứng về tự tính - về Phật tính
mà nói, chứ không phải nói, lập tức hiện tiền chứng ngay
được quả vị Phật, thành tựu được quả vô thượng chính
đẳng chính giác.
Vì vậy, Tông Thiên Thai nêu lên
sáu khái niệm về Phật, gọi là lục tức (sáu tức).
Sáu tức :
-
Lý Tức Phật tức là chúng sinh vốn
có đầy đủ Phật tính hay giác tính.
-
Danh tự tức Phật : Nghĩa là, nghe
biết rằng bản thân mình có Phật tính, bỗng nhiên giác ngộ
(giác ngộ rằng mình có Phật tính).
-
Quán hành tức Phật : Nghĩa là niệm
niệm, tự xem xét tâm mình, trừ bỏ phiền não - là cấp vị
phẩm thứ năm của đệ tử [tùy hỷ, đọc tụng, thuyết
pháp, kiêm thực hành sáu độ - sáu độ chính hạnh].
-
Tương tự tức Phật : Là công phu
tu trì đã khá thâm sâu, đã đến cấp vị sáu căn đều thanh
tịnh là Thập tín vị.
-
Phận chứng tức Phật : Đã vào hàng
ngũ các bậc Thánh, đã đoạn trừ từng phần vô minh; và
từng phần thực chứng được giác tính, tức là Phật tính.
Ở đây, liệt kê các nhân duyên thành tựu Thánh quả gồm
có Thập trụ vị, Thập hành vị, Thập hồi hướng, Thập
địa vị và Đẳng giác tính.
-
Cứu kính tức Phật : Là đã đoạn
trừ hết vô minh, công đức đã đầy đủ, chứng ngộ giác
tính, đến chỗ hoàn thiện, thành tựu vị vô thượng chính
đẳng chính giác, gọi là diệu giác vị tức là quả vị
Phật.
Trong "Lục Tức" Phật nói trên, loại
thứ nhất chỉ cho tất cả chúng sinh. Cho nên Phật nói "Tất
cả chúng sinh đều có Phật tính". Tất cả chúng sinh ở mọi
cõi đều có đức tướng trí tuệ của Như Lai. Đó là lý
tức Phật. Loại Phật thứ hai chỉ cho những người được
nghe Phật pháp, biết rằng bản thân mình vốn có Phật tính,
vốn có khả năng thành Phật. Loại thứ ba chỉ cho những
người đã tu trì Phật pháp, đã có thể hàng phục (không
phải là đoạn trừ) phiền não. Loại thứ tư chỉ cho những
người đã thành tựu được sáu căn thanh tịnh, sắp lên
hàng ngũ thánh. Loại thứ năm chỉ cho các vị Bồ Tát từ
Sơ địa trở lên. Đến loại thứ sáu mới là chân chính
thành Phật, quả Phật mới thật sự tròn đầy, mới thật
là bậc vô thượng chính biến giác tri.
Do đó, có thể thấy "Ngay bấy giờ
là thành Phật" [Lập địa thành Phật], là chỉ cho loại Phật
thứ nhất (Lý tức Phật) hay là loại Phật thứ hai [Danh tự
tức Phật], chứ không phải là loại Phật thứ sáu, tức
là "cứu kính tức Phật". Bởi vì từ khi ném con dao giết
thịt xuống, đã là bước đầu của quá trình "viên thành
Phật tính" rồi. Nói "ngay bấy giờ thành Phật liền" cũng
như nói "quay đầu lại là ngay bờ" [Hồi đầu thị ngạn].
Trên sự thực, không phải ném dao xuống là thành Phật được
ngay, cũng như không phải quay đầu lại là ở ngay trên bờ.
Hiểu được đạo lý ấy thì cũng
hiểu được sự khai ngộ của Thiền tông. Nhiều người cho
rằng, các câu như "Tức tâm tức Phật", "Tâm sáng là Phật",
"Vô tâm là Phật", "thấy được bộ mặt của mình, trước
khi lọt lòng mẹ" v.v… đều có ý tứ thành Phật, và một
khi đã được khai ngộ là thành Phật.
Thực ra khai ngộ chưa phải là thành
Phật, thậm chí cũng chưa phải là thấy đạo (kiến đạo)
như Thiền sư Cao Phong Nguyên Diệu đời Tống tự xưng là
ông dụng công trong một đời có 118 lần đại ngộ, còn lần
tiểu ngộ thì không kể xiết. Như vậy, có thể thấy, khai
ngộ không phải là thành Phật, hay chỉ là "Lý tức Phật",
"Tương tự tức Phật" chứ không phải là "cứu kính tức
Phật". Sự khai ngộ của Thiền tông, có thể là gần với
được "pháp nhãn thanh tịnh", tức là kiến đạo, là Sơ quả
của Tiểu thừa, hay Sơ địa của Đại thừa mà thôi. Do đó
Thiền tông phá xong 3 cửa ải là Bản tham, Trung quan và Lao
quan thì cũng chỉ mới tiến tới gần "thoát ly sinh tử'".
Nếu đánh giá theo quan điểm "sáu tức" của tông Thiên Thai
thì Thiền Tông phá xong cửa ải thứ ba (Lao quan) cũng chỉ
mới là loại Phật thứ tư, tức là "tương tự Phật".
Chính vì vậy mà các Tổ sư Thiền
tông, khi tham thiền đến chỗ gọi là "nhập xứ", thì thường
tìm cách sống ẩn ở rừng sâu để nuôi dưỡng Thánh thai
(bào thai của bậc Thánh, cái nhân của bậc Thánh). Đây là
do các vị ấy chưa lên hàng ngũ các bậc Thánh, chỉ mới
đi được 1/3 của lộ trình thành Phật, trong ba vô lượng
kiếp, chỉ mới hết sơ kiếp vô lượng thứ nhất.
Trên quan điểm ấy, thấy rằng,
các thiền sư dù có phá được cửa ải cũng vẫn còn là
phàm phu cấp hiền vị mà thôi.
