69.
LA HÁN BỒ TÁT PHẬT LÀ GÌ
Đúng như vậy, nhiều người hiện
nay không hiểu rõ La Hán, Bồ Tát, Phật là gì. Thậm chí có
những Phật tử tin Phật đã lâu năm cũng mờ mịt đối với
ý nghĩa các từ đó.
Theo nhận thức của Phật giáo Bắc
truyền, Phật giáo chia thành Đại thừa và Tiểu thừa. Tiểu
thừa chuyên tu đạo giải thoát. Đại thừa chuyên tu đạo
Bồ Tát. Đại Bồ Tát là kết hợp "nhân thiên đạo" với
"giải thoát đạo", nghĩa là, giải thoát khỏi sinh tử mà
vẫn không lìa sinh tử, để có thể hóa độ những chúng
sinh có duyên, đó chính là đạo Bồ Tát Đại thừa.
Quả vị cao nhất của đạo giải
thoát là A La Hán; La Hán là bậc Thánh của Tiểu thừa. Có
2 quả vị cao nhất của Tiểu thừa. Một là quả vị Thánh
hàng Thanh Văn, nhờ nghe Phật thuyết pháp, tu tập pháp Bốn
Đế (khổ, tập, diệt, đạo) và 37 phẩm bồ đề mà được
giải thoát, đó là La Hán. Hai là quả vị của những bậc
thánh, sinh vào thời không có Phật, nhưng nhờ tu pháp 12 nhân
duyên (vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ,
ái, thủ, hữu, sinh, lão tử) mà chứng đạo giải thoát, ra
khỏi sinh tử. Phật giáo gọi các bậc Thánh này là Duyên
Giác hay Bích Chi Phật. Thanh Văn và Duyên Giác đều thuộc
Tiểu thừa. Tiểu thừa lại chia thành Thanh Văn thừa và Duyên
Giác thừa, cho nên cũng gọi Tiểu thừa là nhị thừa (2 thừa).
Các bậc nhị thừa cầu ra khỏi sinh tử, nhập Niết Bàn.
Họ nhàm chán cõi sinh tử của loài người và loài trời,
vì vậy, họ không nguyện trở lại hóa độ chúng sinh. Họ
không thể gọi là Bồ Tát, cũng không thể thành Phật.
Nếu muốn thành Phật thì phải
hành đạo Bồ Tát. Pháp môn chủ yếu của đạo Bồ Tát là
sáu độ. Bố thí [pháp thí, tài thí, vô úy thí] (1).
Giữ giới (không làm điều ác, làm mọi điều lành). Nhẫn
nhục (nhẫn điều khó nhẫn, làm điều khó làm). Tinh tấn
(tiến thẳng ra đằng trước, gặp khó không nản). Thiền
định (chuyên chú vào một đối tượng, không giao động).
Trí tuệ (chiếu sáng bản thân, chiếu sáng người khác). Ba
tụ giới (tu mọi tịnh giới, làm mọi điều lành, hóa độ
chúng sinh). Từ lúc ban đầu, phát tâm tối thượng, tức là
phát Bồ đề tâm, từ bi tâm, không tuệ tâm, trải qua ba đại
kiếp vô lượng, mới đạt được mục đích thành Phật.
Đạo Bồ Tát, hàng Tiểu thừa không giống. Cho nên gọi là
"nhất thừa".
Đạo nhân thiên là pháp môn lành,
tu tập để được tái sinh làm người hay làm loài trời.
Tiểu thừa tuy không thích thú gì đạo nhân thiên, nhưng cũng
không phủ định giá trị của đạo nhân thiên, đạo giải
thoát của Tiểu thừa cũng chỉ là đạo nhân thiên được
nâng cao và thăng hoa. Pháp lành của nhân thiên cũng là nền
tảng của đạo nhất thừa của Bồ Tát. Do đó pháp lành
của nhân thừa và thiên thừa, 5 giới, 10 thiện là pháp lành
chung cho cả nhị thừa và nhất thừa, cho nên nói pháp lành
của nhân và thiên là pháp chung cho cả 5 thừa (Nhân, Thiên,
Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát).
Đạo giải thoát của Tiểu thừa
hay Nhị thừa cũng là pháp môn chung cho cả đạo Bồ Tát nữa.
Nếu Bồ Tát mà không tu đạo giải thoát thì sẽ không phải
là Bồ Tát mà chỉ là nhân thiên đạo. Vì vậy mà đạo giải
thoát của Tiểu thừa được gọi là pháp môn chung cho cả
ba thừa Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát.
Chỉ có đạo Bồ Tát mới là pháp
môn riêng của Đại thừa hay nhất thừa.
Để tiện ghi nhớ, xin vẽ biểu
đồ như sau :
___________________
(1) Nhân thiên đạo : con
đường tu tập, cầu tái sinh ở cõi Trời và cõi người (người
dịch chú).
Qua biểu đồ này thấy rằng, Bồ
Tát đạo tuy là pháp môn riêng của một thừa, nhưng lại
là nơi hướng về của cả 5 thừa vì pháp chung của ba thừa
(ngũ thừa cộng pháp, tam thừa cộng pháp). Tiểu thừa tuy
là pháp chung của ba thừa, nhưng cũng là pháp chung của 5 thừa
được thăng hoa lên (nâng cao lên) mà thôi : Pháp chung của
5 thừa, tuy có tên chung 5 thừa, nhưng chỉ là thiện pháp của
nhân thừa và thiên thừa.
[Lấy ngũ thừa cộng pháp, tam thừa
cộng pháp và Đại thừa bất cộng pháp, thâu nhiếp toàn
bộ Phật pháp. Đó là một sáng kiến của đại sư Thái Hư].
Nhân thiên thừa là pháp thế gian,
là pháp sinh tử, không thể đưa người ra khỏi biển khổ
sinh tử được. Các bậc thánh mà nói, pháp thế gian là pháp
hữu lậu. Các bậc thánh Tiểu thừa đều là những bậc thánh
xuất thế, không còn bị sinh tử chi phối, vì vậy pháp xuất
thế được gọi là pháp vô lậu.
Trong hàng Bồ tát, có người là
phàm phu, có người là Thánh. Bồ Tát chia thành 52 thứ bậc
: Thập tín, thập trụ, thập hành, thập hồi hướng, thập
địa, đẳng giác, diệu giác : Bốn mươi thứ bậc trước
khi đạt thập địa đều là phàm phu. Mười hai thứ bậc
từ sơ địa trở lên mới là hàng Thánh. Bồ Tát nêu ra ở
trong đồ biểu là Thánh Bồ Tát. Trong kinh Phật, thông thường
khi nói Bồ Tát mà không ghi rõ là Địa tiền Bồ Tát [Bồ
Tát trước khi đạt tới sơ địa] thì đó là Thánh Bồ Tát.
Các bậc Thánh Tiểu thừa không
cần thành Phật mà chỉ cần nhập Niết Bàn. Về bản chất
mà nói, cảnh giới Niết Bàn của Tiểu thừa, sau khi nhập
Niết Bàn rồi, bèn ở luôn tại đấy, không còn độ chúng
sinh nữa. Còn Niết Bàn của Đại thừa thì tuy nhập Niết
Bàn nhưng không ở lại Niết Bàn, và cho rằng sinh tử với
Niết Bàn là cùng một thể, vì vậy mới có câu : "Sinh tử
tức Niết Bàn", "Vô trụ xứ Niết Bàn". Đó là cảnh giới
của các bậc Thánh Đại thừa.
Niết Bàn của Tiểu thừa, là do
đoạn ngã chấp và phiền não chướng, vì vậy A La Hán của
Tiểu thừa, về cảnh giới giải thoát mà nói, là tương đương
với Bồ Tát thất địa hay bát địa, của Thông giáo. Bậc
Thánh của đạo Bồ Tát là do đoạn một phần pháp chấp
và sở tri chướng một phần ngã chấp và phiền não chướng,
mà tự mình chứng được một phần của Pháp tính chân như
và tiến vào hàng sơ địa. Về mặt trình độ đoạn phiền
não chướng mà nói thì A La Hán tương đương với Bồ Tát
Thất địa hoặc Bát địa; đứng về trình độ đoạn sở
tri chướng mà nói thì La Hán chỉ mới tương đương với
Bồ Tát đệ nhất tín vị.
Bởi vì, đoạn phiền não chướng
(ngã không) tức là thoát khỏi sinh tử. Còn đoạn sở tri
chướng (pháp không) tức là không lìa sinh tử. Giải thoát
sinh tử tức là nhập Niết Bàn. Không lìa sinh tử tức là
độ chúng sinh : giải thoát là tuệ nghiệp; độ sinh là phúc
nghiệp. Cả phúc và tuệ đều tu là Bồ Tát. Cả phúc và
tuệ đều tròn đầy là thành Phật. Do vậy, đứng về phúc
nghiệp độ sinh mà nói, La Hán chỉ tương đương với bậc
thứ bảy của Bồ Tát sơ phát tâm, còn kém sơ địa Bồ Tát
đến 33 bậc. Trên toàn bộ lộ trình thành Phật, vị Bồ
tát sơ địa đã đi được 1/3 đường (đã đi hết A tăng
kỳ kiếp thứ nhất). Bát địa Bồ Tát đã đi xong 2/3 con
đường (A tăng kỳ kiếp thứ hai). Còn vị Bồ Tát thập tín
vị chỉ mới ở giai đoạn chuẩn bị vào ba A tăng kỳ kiếp
mà thôi !
Do đó, một vị A La Hán, muốn thành
Phật thì phải từ Tiểu thừa quay về Đại thừa, và tiến
dần dần từ đệ thất tín vị trở đi. Nhưng vị A La Hán,
sau khi nhập Niết Bàn trong thời gian ngắn rất khó bỏ Tiểu
thừa hướng về Đại thừa. Vì vậy, tu theo Tiểu thừa, hầu
như cắt đứt duyên với đạo thành Phật. Do đó, có kinh
luận Đại thừa kích bác đồng loạt cả Tiểu thừa và ngoại
đạo. Thực ra, theo quan điểm của Kinh Pháp Hoa thì vị A La
Hán chân chính nhất định sẽ lìa bỏ Tiểu thừa, hướng
về Đại thừa. Trong Hội Pháp Hoa, phần lớn các bậc đại
tỳ kheo và tỳ kheo ni đều là những bậc A La Hán từ Tiểu
thừa hướng tới Đại thừa.
Bỏ Tiểu thừa, hướng tới Đại
thừa có 2 loại người : Một loại là, từ trước tới nay,
vốn tu theo Tiểu thừa, nay từ quả vị La Hán chuyển sang
Đại thừa thì phải từ ở thứ bậc thất tín vị của Đại
thừa mà tu theo Pháp Đại thừa, rồi sau khi chứng quả La
Hán lại tu theo Đại thừa. Đối với loại này, phải tính
cả giai đoạn trước đây đã tu theo Đại thừa. Thí dụ,
ngài Xá Lợi Phất, trong các kiếp sống trước đã từng tu
theo Đại thừa, đến cấp "Đệ thất trụ"; sau chuyển sang
tu theo Tiểu thừa, chứng quả A La Hán rồi lại chuyển sang
Đại thừa. Nói chung là, nếu trước đây đã tu theo Đại
thừa, sau quay sang Tiểu thừa, rồi lại trở về Đại thừa,
thì chỉ cần một niệm hồi tâm là có thể chứng nhập sơ
trụ vị của Bồ tát. Hoặc là đã có được cơ sở tu Đại
thừa sâu dày, nhưng vẫn quay sang Tiểu thừa, sau đó lại
hướng về Đại thừa thì chỉ cần một niệm hồi tâm là
có thể chứng nhập hàng bậc Thánh Bồ Tát từ sơ địa trở
lên. Đương nhiên, vị A La Hán bỏ Tiểu hướng Đại, đã
là bậc Thánh Đại thừa mà phúc nghiệp chưa đầy đủ. Do
trình độ trí tuệ và công phu tu đạo giải thoát vốn có
cho nên vị ấy không bao giờ thoái lui xuống địa vị phàm
phu nữa.
Phật là từ gọi tắt của Phật
đà. Quả vị Phật là quả vị cứu kính tột cùng của đạo
Bồ Tát, cho nên có thể gọi Phật là vị Bồ Tát cứu kính.
Quả vị Phật cũng là quả vị cứu kính của đạo giải
thoát, cho nên cũng gọi là Phật là vị A La Hán cứu kính.
Từ A La Hán có nghĩa là xứng đáng làm ruộng phúc cho loài
trời và loài người, xứng đáng được trời và người cúng
dường. Vì vậy "ứng cúng" là một trong 10 hiệu của Phật.
Phật có nghĩa là bậc giác ngộ chân chính, cùng khắp, vô
thượng, bậc tự giác, giác tha và giác hành đầy đủ. Bồ
Tát là giác hữu tình, có nghĩa là tự giác, giác tha và giác
chân chính, cùng khắp. Thanh Văn, Duyên Giác đều có nghĩa
tự giác và chính giác. Phàm phu ở loài trời và loài người
đều là những kẻ si mê chưa được chính giác.
Nay, dùng biểu đồ phân biệt 5
thừa theo tiêu chuẩn trình độ giác ngộ như sau:
Lại còn một điểm nữa, là hình
thức sinh hoạt của A La Hán theo truyền thuyết của Trung Quốc,
cần phải được sửa chữa thanh lọc lại. Phật giáo đồ
Trung Quốc, vì thấy trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc, có
những chuyện kỳ lạ như Hàn Sơn, Thập Đắc, Phong Can, Bố
đại hòa thượng v.v… nhưng chuyện như Nam tuyền chém mèo
quy tôn giết rắn hoặc có người chèo thuyền trên sông, có
người sống một mình trên đảo hoang, có người sống hòa
mình vào cảnh trần tục của thị trấn, có người bắn cung,
múa dao, có người múa hát theo phụ nữ, có người nhậu nhẹt
rượu thịt, đó là những cái gọi là tác phong siêu Tổ vượt
Phật của Thiền tông ! Do đó mà đôi khi nhận lầm những
phần tử xuất gia, phá giới, sống bẩn thỉu và lười biếng,
là A La Hán hóa hiện ! Ở Trung Quốc, tranh và tượng A La Hán
cũng thường dựng lên những mẫu người quái dị, quần áo
lôi thôi, mồm răng rộng hoác, ngó bộ rất đáng ghét.
Sự thực thì trong kinh điển Tiểu
thừa, các vị A La Hán đều là các bậc Thánh tăng giữ gìn
giới luật nghiêm túc. Và chỉ có bọn ác tăng, vi phạm giới
luật mới na ná giống như tranh và tượng Trung Quốc miêu
tả mà thôi. Nếu chúng ta không thay đổi quan niệm này thì
đó là một sự lăng nhục đối với các bậc A La Hán.
Ngược lại, dưới con mắt của
người Trung Quốc, Bồ Tát lại có tướng mạo thùy mị, trang
nghiêm đặc biệt. Kỳ thực thì tuy rằng báo thân của Bồ
tát là trang nghiêm, đẹp đẽ, nhưng vì lợi ích độ sinh,
hóa thân của Bồ tát có thể mang rất nhiều thân khác nhau.
A La Hán dưới con mắt người Trung Quốc, đúng ra là hóa thân
của Bồ tát thì phải hơn.
A La Hán là Tăng ni xuất gia, họ
là dấu hiệu biểu trưng cho sự tồn tại Phật Pháp ở thế
gian, cho nên trong ứng xử, La Hán không thể tùy tiện được,
nếu không thì sẽ không có lợi cho thanh danh của đạo Phật.
Còn Bồ Tát thì không có thân cố định, Bồ Tát chỉ nhằm
mục đích khai hóa độ sinh. Bồ Tát không yêu cầu chúng sinh
biết mình là Bồ Tát. Bồ Tát cố nhiên là có thể thị hiện
thành loài người hay loài trời đầy đủ phúc đức trang
nghiêm, nhưng khi cần thiết cũng có thể hóa thân thành Ngoại
đạo, người đồ tể, thậm chí làm cả Ma vương, cũng không
có hại gì đối với thanh danh đạo Phật.
Vì vậy, Phật giáo đồ Trung Quốc
nên sửa chữa lại quan niệm của mình đối với A La Hán
mới được.
70.
PHẬT GIÁO CÓ MỘT TỔ CHỨC HÀNH CHÍNH THỐNG NHẤT?
Nếu xét về xã hội giáo đoàn
của Phật giáo nguyên thủy thì không có phân chia lãnh đạo
và lệ thuộc, mọi người đều bình đẳng trước Phật Pháp.
Và cũng trong phạm vi Phật Pháp, mọi người đều có quyền
tự chủ (tự do làm chủ). Vì vậy đức Thích Ca Thế tôn
là vị đã sáng lập ra Phật giáo, khi sắp nhập Niết Bàn,
Ngài cũng nói với ông A Nan rằng : "Như Lai không nói ta duy
trì chúng, ta nhiếp chúng" (Trường A Hàm - Kinh Du Hành I). Phật
đôi lúc nói : "Ta ở trong Tăng chúng", chứ không tự xưng
là lãnh tụ. Phật tự xưng là "Pháp vương" theo nghĩa Phật
đối với mọi pháp đều tự do tự tại, không có nghĩa là
"thống lĩnh". Do đó, từ khi có Phật giáo cho đến nay, Phật
giáo không có đẳng cấp trên dưới, lớn nhỏ. Hoạt động
của tăng đoàn 4 người trở lên, miễn là theo đúng giới
luật, đều là hội pháp, phải được tôn trọng, nếu tăng
đoàn A vì tăng đoàn B có ý kiến bất đồng mà chia rẽ,
thì Phật cũng công nhận sự chia rẽ đó. Trong sách "ngũ phần
luật quyển 24". Phật nói : "Việc kính lễ và cúng dường
phải bình đẳng, vì sao như vậy ? Cũng như vàng thật đem
chia làm 2 khúc, không có gì khác nhau cả". Do đó, biết rằng
tinh thần căn bản của đạo Phật không đòi hỏi có tổ
chức nghiêm mật, từng từng lớp lớp; tình hình khác hẳn
với đạo Cơ đốc… Bắt đầu từ Kinh cựu ước, đạo
Cơ Đốc đã có tổ chức chính trị và ý thức chính trị
mạnh mẽ, có tổ chức nghiêm mật, có nền thống trị đầy
quyền lực. Đó chính là đặc sắc của giáo hội Cơ Đốc
(người ta nói không phải là vô cớ rằng, tổ chức chính
trị và phương pháp thống trị các đảng cộng sản hiện
nay là học theo giáo hội đạo Cơ Đốc). Chính vì vậy mà
tổ chức giáo hội Cơ Đốc giáo, có một bối cảnh lịch
sử lâu dài, và có năng lực lãnh đạo giáo đoàn trội hơn
Phật giáo rất nhiều. Ngay đối với giáo hội Tân giáo Cơ
Đốc, tuy rằng chia thành rất nhiều hệ phái không có liên
quan với nhau, nhưng trong nội bộ mỗi hệ phái, tổ chức
của họ vẫn chặt chẽ, tốt đẹp.
Phật giáo chúng ta cho đến nay,
vẫn không thể nói tới một tổ chức giáo hội có tính thế
giới. Trong nội bộ của từng quốc gia, cũng có nhiều hệ
phái. Và trong nội bộ của mỗi hệ phái, tổ chức cũng không
thống nhất. Đặc biệt là trong Phật giáo Trung Quốc, trong
lịch sử tuy có lập chế độ "Tăng quan", nhưng đó là một
chức vụ do chính phủ đặt ra để kiểm soát Tăng ni và tài
sản giáo hội, chứ không phải là một thiết chế tổ chức
của giáo hội. Ngày nay, tuy cũng có một Giáo hội Phật giáo
Trung Quốc, với các phân chi hội các Tỉnh, Huyện, Thị, nhưng
nó không có quyền hành chính thực tế, tài sản các chùa
không thuộc do Giáo hội bổ nhiệm.
Vì vậy năm 1953, Đài Loan tuy có
hơn 600 vạn người vẫn không tạo ra được một lực lượng
tích cực, không xúc tiến được kế hoạch xây dựng sự
nghiệp Phật giáo trên quy mô lớn. Trái lại, giáo đồ Thiên
chúa ở Đài Loan, chỉ có 26 vạn 5000 người, giáo đồ Cơ
Đốc cũng chỉ có hơn 229 vạn 3000 người, nhưng sức hoạt
động của họ, nếu xét trên bề mặt thì hơn Phật giáo
nhiều. Tỉnh ta chỉ có 4 vạn tín đồ Hồi giáo, cũng được
chính phủ coi trọng hơn so với Phật giáo. Nguyên nhân là
lực lượng của họ tập trung, còn Phật giáo thì ai làm gì
thì làm.
Căn cứ vào số liệu thống kê
thế giới, số người theo các tôn giáo lớn trên thế giới
Cơ Đốc giáo (kể cả cũ và mới) chiếm vị trí thứ nhất,
có tất cả 9 ức tín đồ (900 triệu). Phật giáo chiếm vị
trí thứ hai, với 600 triệu tín đồ. Hồi giáo chiếm vị
trí thứ ba với 400 triệu tín đồ; vị trí thứ tư thuộc
Ấn Độ giáo với 300 triệu 8 nghìn vạn tín đồ; thứ 5 là
Do Thái giáo với 5 nghìn vạn tín đồ (báo Sư tử hống quyển
3, kỳ thứ 10; tr. 4). Nếu 600 triệu tín đồ Phật giáo biết
hợp tác đoàn kết với nhau thì sẽ đem đến cho nhân loại
biết bao quang vinh an lạc !
Ở đây, cần đề xuất một vấn
đề, tức là số liệu thống kê ghi trong bài "Phật giáo châu
Á", đăng ở tập "Địa đồ chu san" của Nhật báo Trung ương
ngày 14 tháng 12 năm 53 Dân quốc. Số liệu thống kê đó có
nhiều sai lầm. Nó ghi : cả thế giới chỉ có 300 triệu tín
đồ Phật giáo, tức là giảm 1/2 so với số liệu thống kê
chính thức. Sai lầm này có thể là do Chu San ước lượng
Phật giáo đồ ở Trung Quốc đại lục chỉ có khoảng 100
triệu, tức 13% tổng dân số. Đây là một sự đánh giá rất
"có vấn đề". Đồng thời, tờ Chu San lại cho rằng Phật
giáo Ấn Độ và Tích Lan, nhất là Phật giáo Tích Lan, thuộc
về khu Phật giáo Đại thừa, đó là một sai lầm nghiêm trọng.
Ngay ở Việt Nam, Phật giáo cũng có cả Đại thừa và Tiểu
thừa. Tờ Chu San cũng không chú ý gì đến tình hình Phật
giáo ở ngoài châu Á. Thí dụ ở Mỹ hiện nay, đã có 17 vạn
Phật giáo đồ, 170 ngôi chùa và tu viện rải rác tại các
bang.
Phật giáo không phải là một tổ
chức chính trị, vì vậy mà cho đến nay, vẫn chưa có một
giáo hội thống nhất theo kiểu lưới của Phạm Thiên, tuy
rằng vẫn có tổ chức có tính biểu trưng là "Hội Ái hữu
Phật giáo thế giới". Hội này được lập do sáng kiến đề
xuất của đại sư Thái Hư ở Trung Quốc. Sớm nhất là từ
năm dân quốc thứ 17 (T. L 1928), đại sư Thái Hư có 2 điểm
hy vọng : Một là xóa bỏ quan niệm thiên chấp về Đại thừa
và Tiểu thừa. Hai là liên hiệp Phật giáo các nước lại,
thắt chặt tình hữu nghị giữa các nước và thúc đẩy nên
hòa bình thế giới. Cuộc vận động này, phải trải qua 22
năm hun đúc, đến ngày 6 tháng 6 năm 1950 mới triệu tập được
tại Tích Lan Đại hội đại biểu thế giới lần thứ nhất.
Trong số các nhân vật ủng hộ Đại hội, có quốc vương
và Tăng thống Thái Lan, Tổng Thống và Tăng thống Miến Điện,
Thủ tướng và Tăng tống Tích Lan, vị Đạt Lai Lạt Ma Tây
Tạng, Quốc vương và vua Sãi ở Camphuchia, Tăng thống Việt
Nam, Thiên Hoàng Dục nhân (Hirohito) của Nhật Bản. Lúc bấy
giờ, Trung Quốc cử Pháp sư Pháp Thường (đang dạy Phật
học ở Tích Lan) làm đại biểu. Đại hội có quyết định
hai năm triệu tập một lần Đại Hội. Cho đến nay, đã tổ
chức được bảy lần Đại hội, lần lượt ở Tích Lan,
Nhật Bản, Miến Điện, Nêpan, Thái Lan, Camphuchia, Ấn Độ
v.v… Đáng tiếc là bắt đầu từ Đại hội lần thứ ba
tổ chức tại Miến Điện, tức là năm 1954, tổ chức Phật
giáo thế giới thuần nhất lại biến thành nơi tranh cãi giữa
hai phái tự do và thân cộng sản (Xem Hải Triều Âm, quyển
45, số tháng 10, bài của Pháp sư Lạc Quan).
Trong kỳ Đại hội lần thứ 7,
họp năm 1964, có sự kiện đoàn đại biểu Trung Quốc đại
lục, cùng với các đoàn đại biểu Liên Xô, Ngoại Mông,
Miến Điện, Đông Pakittăng v.v… đề xuất kháng nghị với
Đại hội về việc mời đoàn của Trung Hoa dân quốc tham
gia Đại hội lên án cuộc chiến tranh ở Việt Nam và Lào;
đoàn đại biểu Inđônêxia trách mắng kịch liệt Malayxia
v.v… Tất cả những sự kiện đó đà làm biến chất tôn
chỉ của Đại hội.
Chính vì vậy mà cho đến nay, Hội
Ái Hữu Phật giáo thế giới, mặc dù có hội viên hơn 60
quốc gia và khu vực [Kỳ Đại hội lần thứ 7, có đại biểu
53 đơn vị tham gia] nhưng cống hiến của nó đối với Phật
giáo thế giới và nhân loại còn rất hạn chế. Ngay 2 chữ
"Ái hữu" (Hội Ái hữu, nghĩa là lấy tình hữu nghị để
đoàn kết người này người kia, 2 chữ đó ngày nay vẫn còn
bị ảnh hưởng của chính trị thử thách, thì còn nói gì
chuyện khác nữa). Trong 14 năm qua, Hội Ái hữu Phật giáo
thế giới nhất trí về ngày đản sinh của Phật Thích Ca
là ngày 15 tháng 5 dương lịch mỗi năm. Sự nhất trí này
được thực hiện trong một nghị quyết của Đại hội lần
thứ 2 họp ở Nhật Bản năm 1952, đã thông qua quyết nghị
do đại biểu Tích Lan đề xuất, lấy lá cờ 5 màu làm giáo
kỳ Phật giáo thế giới. Giáo kỳ này là do đại tá Ôn Cốt
người Mỹ thiết kế (1832-1907) còn có những thành tích khác
thì không đáng nói (chú 17).
Tổ chức hành chính Phật giáo toàn
thế giới, tuy không phải là yêu cầu căn bản của Phật
giáo, nhưng đã trở thành nhu cầu cấp thiết của thời đại
ngày nay. Nhưng còn phải cố gắng trong nhiều thời gian nữa
mới có thể phát triển Hội Ái hữu Phật giáo thành một
tổ chức hành chính của Phật giáo toàn cầu.
PHỤ
CHÚ CUỐN : "PHẬT GIÁO CHÍNH TÍN" 
1. Tăng Nhất A Hàm, quyển 6 - Phẩm
lợi dưỡng, viết : "Có một Bà la môn khuyến cáo Phật đến
bên bờ sông "Tôn Đà La" tắm thì sẽ xóa bỏ được mọi
tội lỗi. Phật khuyên lại Bà la môn nên tự mình xóa bỏ
các tội lỗi như không cho mà lấy, sát sinh, vọng ngữ v.v…
2. Bái sớ nghiên cứu các quẻ của
Kinh dịch [Dịch kinh quan quái chi sớ viết : "Sự vi diệu không
có phương sở, lý không thể biết, không thể thấy, không
hiểu vì sao lại như vậy, cái đó gọi là thần đạo".
3. "Xét Thần đạo của Trời mà
bốn thời không bị mê hoặc, Thánh nhân lấy Thần đạo bày
ra giáo pháp, Thiên hạ chịu theo vậy".
"Phật tổ thống kỷ quyển 15 có
truyện Băng Pháp sư giảng tôn chỉ kinh Kim Cang Bát Nhã giúp
cho người phụ nữ họ Bích chết nhẹ nhàng, khỏi đau đớn.
4. " Phật như là Y vương, có thể
chữa trị tất cả mọi bệnh phiền não, có thể cứu tất
cả khổ lớn sinh tử (Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm nhập pháp giới).
5. Xem thêm "Phật tổ thống ký"
quyển 33, Pháp môn Quang Hiển chí (Đại chính Tạng quyển
46).
6. Đọc thêm "Phật tổ thống ký"
quyển 30 (Đại chính tạng cuốn 49, tr. 300-301. Về niên đại
của Di Lặc, cũng có những thuyết khác.
7. Một nghìn Phật của một kiếp
hay là Tam thế kiếp. Về thời gian, nên xem thêm "Phật tổ
thống ký" quyển 30. (Đại chính tạng, cuốn 49, các trang 297-302).
8. A Tăng Kỳ là con số thứ 105
trong 124 con số lớn của kinh Hoa Nghiêm. Nếu tính 1 vạn vạn
là một ức, một vạn ức là 1 triệu thì một A tăng kỳ
bằng 1 nghìn vạn vạn vạn vạn vạn - vạn triệu. Đấy là
loại số không thể đếm được, loại số vô tận.
9. Về thế giới quan, xin xem "Phật
tổ thống ký" quyển 31 (thế giới danh thể chí).
10. " Phật tổ thống ký" quyển
35 [Đại chính quyển 49, tr. 336 Tư Mã Quân chú giải về thuyết
của Dương Hùng cho rằng tính của người có cả thiện, ác
lẫn lộn, và nói Mạnh Tử và Tuân Tử mọi người chỉ thấy
một mặt của nhân tính.
11. Sự phân biệt trong Thiền tông
giữa 5 nhà 7 tôn (ngũ gia, thất tôn), không phải chỉ về
mặt lý luận, mà là do lý giải tự nhiên của chúng ta dẫn
tới thái độ khác nhau đối với Thiền. Nếu tính chất ôn
hòa thì lời lẽ ôn hòa, nếu tính chất ương ngạnh thì lời
lẽ cũng sắc cạnh, phát ngôn ra có ôn hòa, có sắc cạnh
cho nên thiền phong khác nhau và sự phân biệt trong Thiền tông
cũng từ đó mà ra. Vì vậy mà sự phân biệt về mặt giáo
lý trong Thiền tông không rõ ràng, như giữa tông Hoa Nghiêm
và tông Thiên Thai.
12. Tôn Mật Thiền sư viết :
"Cho nên kẻ học Ba Thừa, muốn
cầu đạo Thánh, tất nhiên phải tu thiền, lìa thiền ra, không
có pháp môn nào khác, không con đường nào khác. Còn niệm
Phật cầu vãng sinh tịnh độ, cũng phải tu 16 phép thiền
quán, tu niệm Phật Tam muội, Ban Chu Tam muội). "Thiền có sâu
có nông, có cao có thấp, nếu tu thiền mà lợi dụng tâm khác,
ưa trên chán dưới, Phật gọi là thiền ngoại đạo; nếu
tin nhân quả một cách chân chính nhưng vẫn có tâm ưa trên
chán dưới thì gọi là phàm phu thiền. Chứng ngộ lý ngã
không nhưng thiên chấp một bên, gọi là Tiểu thừa thiền.
Chứng ngộ lý ngã pháp đều không mà tu thiền thì gọi là
Đại thừa thiền. Nếu đốn ngộ tự tâm vốn là thanh tịnh,
vốn không có phiền não, trí tuệ vô lậu vốn có đầy đủ,
tâm đó tức là Phật, cứu kính không có gì khác biệt. Dựa
vào đó mà tu là "Thiền vô thượng thừa", cũng gọi là "Như
Lai thanh tịnh thiền", cũng gọi là "Nhất hành Tam muội", hay
Chân như Tam muội".
13. Trong "Thập tụng luật" quyển
38, Phật nói : "Từ nay về sau, để phản bác ngoại đạo,
phải đọc sách ngoại đạo". Sách "Căn bản tạp sự" quyển
VI, ghi lời Phật nói : "Không nên để cho kẻ ngu si, ít trí
tuệ đọc ngoại điển. Chỉ có những bậc có trí, học nhiều
biết nhiều, có thể phản bác ngoại đạo mới có thể học
tập ngoại điển. Chia làm 3 thời, hai thời học kinh Phật,
một thời học ngoại điển". "Đầu ngày, giữa ngày có thể
đọc kinh Phật, đợi đến chiều tối mới đọc ngoại điển".
14. "Ở Ấn Độ, Phật và Phạm
(Phạm vương Brahna) dung nhiếp nhau. Không những Phật giáo
hợp thu triết lý 3 minh, mà còn tiếp thu cả bí chú của sách
Atharva Ve đa. Các học giải của Jedanta giáo cũng xem Phật
là Phạm vương, xem Thích Ca là một hóa thân của Thần Rixhnu"
(Xem sách Phật giáo Ấn Độ tr. 207).
15. Ông Lưu Tư Nhã rất được Thái
tử (Chiêu Minh) coi trọng; các bia ký ở chùa tháp, đều do
ông ghi lại. Ông Thâm Thái Đồng, bốn năm liền yêu cầu
được xuất gia Vua Vũ Đế bàn danh hiệu "Tuệ Địa" [Phật
tổ thống ký quyển 37 (Đại chính - tập 49, tr. 351].
16. a) Hòa thượng Triệu Hà Tử,
đời vua Đường vị Kinh. Ở ẩn tại xứ Mãn, đi dọc bờ
sông bắt cua mà ăn, đêm ngủ nhờ trong tiền giấy miếu Bạch
Mã.
Đời Ngũ Đại, có Bồ Hòa thượng,
đi hóa đạo ở đất Tứ Minh. Trong túi vải (Bố đại) có
bình bát, guốc gỗ, cơm và cá, rau thịt, gạch, ngói v.v…
Về các truyện trên, xem "Phật tổ
thống ký" quyển 42 (Đại chính, tập 49, tr. 390).
b) Đời Tống Chân Tông, có Sa môn
Chí Mông họ Từ ở Tụ Châu mặc áo gấm, thích ăn đầu
heo, nói chuyện họa phúc xảy đến người khác, không có
gì không linh nghiệm, gọi người là cậu em, tự xưng là Từ
thư phu khi tịch tuyên bố mình là "Định Quang Phật". Ở đời
gọi ông là Hòa thượng đầu lợn; (Phật tổ thống ký, quyển
44, (Đại chính Tạng tập 49, tr. 403).
c) Đời Nam Bắc triều, có đại
sĩ Bảo Chí mặc áo gấm, đi chân không hay đội trên đầu
mà đi, nào là dao kéo, thước, trượng, gương, phất trần
v.v… trẻ con gặp ông thì cười chế nhạo và xua đuổi.
Ông có uống ít rượu, có lúc mấy ngày liền nhịn không
ăn gì hết. Gặp người ăn chả cá, cũng xin ăn. Ăn xong, mửa
ra toàn là cá sống nhảy nhót [Xem Phật tổ thống ký quyển
36 (Đại chính tập 49, tr. 346).
17. "Ô Khắc Đức" là H. S Olcoti
và bà H. P. Blavatsky năm 1880 Mỹ đến Tích lan, phê bình chế
độ thuộc địa chuyên quyền của người Anh, và ủng hộ
Phật giáo.
Chân Thành Cảm Ơn Thầy
Thích Nguyên Tạng, Tu
Viện Quảng Ðức
Ðã Gửi Tặng Thư Viện Hoa Sen Phiến Bản Vi Tính Quyển Sách
Này (Tâm Diệu)