Khi
bạn nhận ra bạn là một cá thể trong thế giới này, tức
là trong bạn đã có một bản ngã xuất hiện. Bản ngã, tức
cái tôi của bạn, đi cùng với thân xác này vào đời sống.
Từ đây, bạn bắt đầu một hành trình dài suốt đời người,
để khám phá thế giới, khám phá các mối liên hệ xã hội,
để khẳng định mình, thỏa mãn các nhu cầu tồn tại, thực
hiện các ước mơ v.v…. Thế giới hình thành từ nổ lực
của bản ngã. Thế giới đẹp vì tính đặc thù của bản
ngã. Nhưng đồng thời với tính tích cực đó, bãn ngã cũng
chính là cội nguồn của đau khổ, ganh tị, phân biệt, cạnh
tranh, đấu đá, thậm chí nổ bùng chiến tranh.Rất tiếc,
cái bản ngã mà ta mang theo suốt cuộc đời, lại ít được
biết đến cặn kẽ. Bài viết này tìm hiểu về bản chất
và sự hình thành của ngã, cũng như triết lý Phật giáo về
ngã trong nổ lực thực hiện giải thoát.
Phân biệt
các khái niệm về bản ngã
1.
Theo cách suy nghĩ thông thường ta xem toàn bộ tâm thức của
ta như là “bản ngã” hoặc “cái tôi”.
2.
Theo tâm lý học tây phương thực sự ta chỉ thừa nhận một
phần. tâm thức của ta là “cái tôi”. Ví dụ: Freud chia
ngã ra thành ba phần: Id, Ego và Super-ego.
•
Id
(ngã bản năng) được mô tả giống như bản năng căn
bản để sinh vật tồn tại. Id luôn bị xã hội cấm đoán,
cho là xấu, bất thiện. Cho nên ta thường tránh né, không
dám nhận cái bản năng là bản ngã của mình.
•
Super-ego
(Siêu ngã) là cái tôi được xây dựng và hình thành do
văn hóa, giáo dục, do truyền thống luân lý và đạo đức
v.v.. Super-ego luôn được xã hội chấp nhận, cho là tốt,
cho là thiện. Con người ai cũng thường thích nhận super ego
là “cái tôi” để hòa hợp với xã hội và giấu đi cái
Id bản năng của mình. Thực ra super-ego chỉ là cái mặt nạ
để che đậy “cái tôi” thực của mình. Khái niệm này
hơi khó hình dung xin đọc bài mặt nạ siêu thức để biết
đầy đủ hơn.
•
Ego là phần nằm giữa Id và super-ego. Phân tâm học cho rằng
con người thường tự đồng hóa mình (cái tôi) với phần
ego. Cái ngã bản năng (Id) thì không được xã hội chấp nhận,
nên ta thường tránh né, không dám thừa nhận nó là bản ngã.
Cái siêu ngã (super ego) thì được xã hội chấp nhận nhưng
có khi cũng đối kháng với bản năng, nên ta cũng biết nó
chỉ là cái mặt nạ tạm thời phải đeo khi tiếp xúc với
xã hội. Một con người bình thường tự đồng hóa mình với
ego, là cái tôi cân bằng giữa Id và super ego. Nếu làm mất
sự cân bằng này, ta sẽ bị bệnh tâm lý.
Tóm
lại theo phân tâm học, bản ngã mà ta truy nhận, chỉ là một
trong các thành phần ngã khác nhau của một bản ngã toàn thể.
Đây là phân tích cốt lõi nhằm vào mục đích trị liệu
các rối loạn bệnh tâm lý. Tâm lý học Tây phương chấp
nhận ngã là có thực (cũng như quan niệm của Thiên chúa giáo),
và nổ lực của khoa học này là chữa lại các sai lệch bệnh
lý mà của Tâm hay Ngã thường mắc phải.
3.
Tâm lý học Phật giáo là công trình đồ sộ được xây dựng
từ nhiều bộ luận như Thành duy thức luận, Bát thức
qui củ tụng, Thắng pháp luận, Câu xá luận… Hệ
thống minh triết này hình thành Duy thức tông (tức là Du già),
là một trong hai tông phái chính yếu của Đại thừa.
Theo
tâm lý học Phật giáo : Tâm thức được chia thành tám thức.
•
Năm giác quan hình thành năm thức ( nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt,
thân).
•
Năm thức vừa liệt kê ở trên hình thành thức thứ sáu là
Ý thức.
•
Thức thứ bảy của Tâm nối liền sáu thức vừa kể với
thức thứ tám (Alaya thức) sâu ẩn bên trong. Thức thứ bảy
gọi là Mạt na thức (manas) chấp ý thức làm sở hữu tạo
ra bản ngã. Mạt na thức là cái gốc của ý thức nên còn
gọi là Ý căn.
Thuyết “vô
ngã” trong Tâm lý học Phật giáo
Bản
Ngã trong tâm lý học Phật giáo do Mạt na thức hình thành
(thực ra là giả lập). Đó là ý thức sở hữu đối với
toàn bộ hoạt động của các thức nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt,
thân, ý và đối với cả cơ thể.
Với
nhãn quan “tánh không”, triết học Phật giáo khẳng định
tất cả các pháp (mọi hiện hữu) đều không có thực, vì
tất cả không có tự tánh. Cái tôi, bản ngã cũng không có
tự tánh, không thường tồn, vì nó biến đổi liên tục trong
từng sát na. Đây là học thuyết vô ngã. Dù rằng
trong chân lý tuyệt đối không có linh hồn, không có ngã,
nhưng trong thế giới tương đối tâm thức và bản ngã vẫn
có thực như những hiện tượng. Thí dụ ta quay tròn một
đốm lửa, ta sẽ thấy một vòng tròn sáng. Vòng tròn sáng
không có tự tánh nhưng nó vẫn hiện hữu trong thế giới
hiện tượng. Mặt khác, nếu không có bản ngã, thì ai sẽ
chịu luân hồi và nghiệp chướng. Đức Phật chỉ phủ nhận
sự thường hằng bất biến của ngã (tức linh hồn) để
cho thấy giáo thuyết về tiểu ngã (Atma) của Ấn độ giáo
đương thời là một sự lầm lẫn.
Tính chất
hại mặt của bản ngã
Hãy
cảnh giác với luận điệu cũ rích rằng bản ngã là xấu.
Bất cứ cái gì tồn tại đều là ý muốn của thượng đế.
Bạn có từng tưởng tượng điều gì xảy ra nếu không có
bản ngã chăng? Nếu không có bản ngã, đứa trẻ không thể
trưởng thành, xã hội không thể thành hình và thậm chí không
có tiến hóa nữa. Hình thành bản ngã là điều bắt buộc
trong tiến hóa sinh vật. Chủng loại nào có bản ngã thì chủng
loại đó có trí khôn hơn, sự thông minh hơn, dành được
ưu thế hơn, có‘sự phát triển hơn so với các chủng loại
khác. Con người là loài phát triển nhất vì có được bãn
ngã mạnh mẽ nhất so với các loài khác. Bản ngã cũng bao
gồm bản năng sinh tồn của sinh vật, đó là bản năng dành
sự sống và lưu truyền sự sống.
Như
trên đã nói, mặc dù là cần thiết, nhưng bản ngã đồng
thời đưa lại nhiều khổ đau cho cả cá nhân và xã hội.
Bản ngã phát khởi ganh tị, tranh dành, đấu đá, chiến tranh
lẫn nhau giữa các cá thể, giữa các thế lực chính trị,
giữa các tôn giáo, giữa các quốc gia, hoặc trong cùng một
quốc gia. Có đấu đá, có chiến tranh, là có mất mát, có
đau khổ. Chỉ có loài người mới có chiến tranh qui mô, chỉ
loài người mới tấn công và bức hại đồng loại . Dù che
đậy dưới bất cứ xảo ngôn nào, triết lý nào, chủ nghĩa
nào, chiêu bài nào, thực chất sự phân biệt, đối kháng,
tranh dành và chiến tranh đều bắt nguồn từ bản năng tức
bản ngã mạnh mẽ của loài người.
Ngay
trong nội tâm của một con người, tâm thức mà chủ yếu
là bản ngã, cũng có thể dằn vặt, đau khổ, rối loạn với
nhiều bệnh lý. Một con người có “cá tính” hoặc “luôn
muốn khẳng định mình” sẽ là một người dễ dàng thành
công, đồng thời cũng sẽ là đối tượng dễ dàng khổ đau,
nếu như rơi vào tình thế bất như ý! Quá trình khẳng định
mình chính là quá trình khẳng định bản ngã.
Ta
vừa nhìn thấy một vấn đề có hai mặt đối lập. Cái cần
thiết để tồn tại và phát triển cũng đồng thời là cái
mầm mống để tàn sát và hủy diệt. Một “Lý” thuần
khiết có tính sáng tạo sinh ra nhiều “Sự” phân biệt mang
tính hủy diệt.
Trong
bài này, ta chỉ bàn tới cái hiện tượng của ngã, tức cái
ý thức khiến tôi truy nhận tâm thức của tôi là tôi! Và
cũng là cái ý thức truy nhận cơ thể này là tôi.
Bản
ngã và thân xác
Bản
ngã nhận cơ thể đang cưu mang nó là chính nó. “Ta chính
là cái cơ thể mang tâm thức này “, có lẽ đa số đều
thấy điều này là chân lý mặc nhiên. Nhưng thỉnh thoảng
lại có người nghi ngờ điều này, thi sĩ Vũ Hoàng Chương
có lúc thắc mắc:
Ta
có là ta chăng hề ai chứ là ngươi!
Dĩ
nhiên lúc đó thi sĩ đã say. Nhưng có bao giờ bạn thực sự
quán sát sâu về hiện tượng này chưa? Có lẽ còn có nhiều
điều bạn chưa từng nghĩ tới.
Khi
bạn đang là thai nhi, sống bằng sự dinh dưỡng và hô hấp
của người mẹ, cái tôi của bạn dính liền với cơ thể
mẹ, Người ta quan sát thấy rằng lúc còn là bào thai, cho
tới lúc ra đời và khoảng bảy tháng sau đó, thai nhi luôn
nhận “lầm” nó với mẹ nó là một cơ thể duy nhất. Đứa
bé hợp nhất cơ thể với mẹ nó, tâm ý nó đồng nhất với
tâm ý mẹ nó. Mẹ nó buồn hay vui, nó biết. Nó bất an hay
yên ổn, mẹ nó cũng biết. Vì cả hai mẹ con hoàn toàn tương
đồng giao cảm. Khi làm ở khoa Nhi, tôi có kinh nghiệm rằng
lúc nào thầy thuốc không tìm ra chẩn đoán, không có nghĩa
là đứa bé hoàn toàn vô bệnh. Nếu thấy mẹ nó bồn chồn
lo lắng thì ta nên khám kiểm tra lại. Dường như cơ thể
và tâm ý của hai mẹ con là một. Theo tôi thì có thể là
đứa bé cũng không lầm, khi vô thức nó cho rằng nó đồng
nhất với cơ thể mẹ nó. Cấu tạo cơ thể mẹ và thai nhi
là một cấu tạo dính liền và thống nhất. Khi đứa bé ra
đời, hai cơ thể đó còn dính liền nhau bằng cuống rốn.
Sau đó bác sĩ mới cắt lìa hai cơ thể đó ra. Bạn thử suy
nghĩ điều này, tính ở thời điểm chào đời, bất cứ cơ
thể của ai cũng đều dính liền với một cơ thể khác. Cơ
thể tôi dính liền vời mẹ tôi. Cơ thể mẹ tôi dính liền
với bà tôi, và cứ thế suy diễn. Tất cả các cơ thể của
nhân loại là một thực thể dính liền!
Trong
những tháng đầu đời, chúng ta đã sống trong tình trạng
gần như vô ngã. Có lý thuyết còn nói rằng đứa bé sơ sinh
đồng nhất nó với toàn bộ thế giới xung quanh!
Đến
tháng thứ tám, đứa bé dần dần nhận ra nó là một thực
thể tách biệt và độc lập với thế giới bên ngoài. Dấu
hiệu là nó bắt đầu sợ những khuôn mặt lạ. Nó khóc khi
người lạ đến gần. Đứa bé biết nó khác với những cái
chung quanh nó. Bản ngã bắt đầu được phát triển từ thời
điểm này. Bản ngã của đứa trẻ trong những năm đầu đời
là rất mờ nhạt so với bản ngã rất sâu đậm của người
lớn. Chú ý cách nói chuyện của đứa trẻ. Nó thường nói
những câu không chủ từ như: “Uống nước”, “Ăn cơm”,
“Đi chơi”, “ Đi ngủ”, “Sợ quá” v.v…Những câu không
chủ từ này ám chỉ rằng bé chưa biết đến ngôi thứ nhất,
nghĩa là nó chưa xác lập bản ngã. Chỉ đến khi đứa trẻ
lớn hơn, khi bản ngã định hình và vững mạnh, nó mới biết
xử dụng ngôi thứ nhất.
Bạn
cũng từng biết, người ta hay so sánh tâm thức đứa trẻ
với cõi thiên đàng. Một cõi giới bình yên, không đấu đá,
không âm mưu, không dự tính, không kế hoạch… Người ta
cũng nói khi tu hành chứng đắc, một lần nữa ta lại quay
về tâm thức giống trẻ thơ. Hoặc các minh sư thường nói
một cách ẩn dụ rằng ta được “tái sinh” (rebirth) lần
nữa.
Bản
ngã nhận thân xác là phần vật chất của nó. Khi thân xác
già bệnh rồi chết, bản ngã tin rằng nó cùng với thể xác
vĩnh viễn tan rã và đi vào hư vô. Có làm công việc của
người hàng ngày đối diện với cái chết, nhìn nét mặt
thất thần và tiếng la hét lúc lâm chung, bạn mới cảm nhận
rõ thế nào là khổ đau và sợ hãi giữa bến bờ sinh tử.
Tôi cũng sợ hãi, nhưng thường tự trấn an mình trước cõi
hư vô, với ý nghĩ: Ta đang nằm trong vũ trụ này, nếu ta
mất, ta sẽ mất về đâu, thật khó biết! Mà suy nghĩ về
tại sao có sự hiện hữu của mình, cũng là một ngạc nhiên
lý thú: Trước khi ta xuất hiện trong cõi đời này, chắc
ta cũng phải tồn tại đâu đó rồi, vì đâu có thể một
cái gì đó lại tự nhiên xuất hiện. Nếu ta coi toàn bộ
vũ trụ như một bình cầu vĩ đại, thì mọi tương tác hay
chuyển dịch, đâu làm cái gì sinh ra hay mất đi, giống như
định luật Lavoisier phát biểu: Trong một bình cầu kín, khi
phản ứng hóa học xảy ra, không có vật chất nào sinh ra
hay mất đi.
Triết
học Phật giáo giải thích rõ ràng hơn: Bản ngã hình thành
là do Mạt na thức lầm chấp ý thức và thân thể là
sở hữu của nó. Điều này nghĩa là tự nó cho nó là một
thực thể hữu hạn. Thực sự, thân thể ta chỉ là phần
biểu hiện vật chất của một thực thể to lớn vô hạn
và tồn tại vĩnh hằng đó là alaya thức. Khi thân thể
và ý thức tan rã, Alaya thức vẫn tồn tại, vì nó vốn vĩnh
hằng. Ngay khi chết, ta trở về cái tôi chân thực, “cái
biết” trần gian hữu hạn vừa tắt đi thì “cái biết”
vô hạn vĩnh hằng lóe lên như một ánh sáng (clear light of
the true nature). Các nghiên cứu về kinh nghiệm cận tử đều
nói về loại ánh sáng này.
Tác
động của Thiền đối với Bản Ngã
Lúc
sơ sinh, bản ngã, tức cái tôi của đứa bé, còn rất mờ
nhạt. Nó lơ mơ nhận thức rằng nó cũng bao gồm với cơ
thể người mẹ. Khi hệ thần kinh phát triển hơn, lúc đứa
bé bắt đầu có những động tác tự chủ, cái tôi cho rằng
nó xuất phát từ cơ thể mà nó đang nương tựa. Ở giai đoạn
đầu đời, ta đã từng sống với một tâm thức vô ngã.
Triết
học Phật giáo cho rằng NGÃ là một kết quả nhầm lẫn khi
thức mạt na chấp sáu thức (nhãn nhĩ tỉ thiệt và ý) là
sở hữu của nó. Không có mạt na thức, sáu thức vừa kể
vẫn có thể tồn tại. Nghĩa là nếu không có chủ thể, cái
biết vẫn có thể tồn tại. Alaya thức là cái biết vô cùng
rộng lớn trùm khắp vũ trụ, chứa đựng tất cả các nghiệp
tức các lực định hướng (tâm pháp). Khi đủ nhân duyên,
alaiya thức tự thể hiện thành vật chất, thành cơ thể sinh
vật (sắc pháp). Một phần của Alaya thức tạo thành mạt
na thức. Mạt na thức, chấp ý thức bên ngoài là sở hữu
của mình, để tạo thành bản ngã. Khi bản ngã xuất hiện,
ý thức dần quên rằng mình có cội nguồn từ Alaya thức,
tức “cái biết” rộng lớn ngập tràn trong vũ trụ.
Tất
cả điều nói trên đều là các khác niệm của ngôn ngữ
và các suy diễn trên lý luận. Nhưng nếu bạn đi vào thực
hành, thì Thiền định có thể kiểm chứng lý luận này, ngay
cả khi bạn mới chỉ đạt được những thể nghiệm đầu
tiên và đơn giản như tình trạng tách biệt của ngã
(detachment), tức hiện tượng phân ly (dissociation).
Các
phương pháp thiền đều có tác dụng làm ý thức trở nên
yên lặng, không còn náo động liên tưởng lung tung. Lúc đó,
ý thức trở thành cái biết đơn thuần. Biết là biết, thế
thôi! chứ không có bất cứ một liên tưởng phê bình nào.
Tình trạng này chính là tình trạng vô ngã của cái biết.
Khi cái biết (ý thức) trở nên vô ngã, thì điều kì diệu
xảy ra, nó trở nên rộng lớn hơn vì không bị giới hạn
vào một cơ thể hữu hạn. Tôi có một thể nghiệm bản thân
về tình trạng phân ly. Sau một đêm thực hành thiền định
tốt đẹp, tôi thức dậy khỏe khoắn hơn bình thường. Trong
lúc làm việc, tôi bỗng thấy tôi là cái biết nào đó, không
biết bắt nguồn từ đâu, đang quan sát thân xác tôi. Tôi
thấy rõ tôi đang khám bệnh cho các bệnh nhân, tôi biết rõ
từng động tác của tôi, tôi biết rõ từng cảm giác và
nhận thức của tôi. Ngày đó (cách đây gần hai mươi năm
rồi) tôi chưa hiểu lắm về tình trạng tách biệt (detachment)
hay phân ly ngã (dissociation), hoặc ý thức chứng nhân (witness
consciousness), tôi gọi đó là chánh niệm (right mindfulness,
pleine conscience, achksamkeit) theo cách gọi trong sách của thầy
Nhất Hạnh. Hai khái niệm “ý thức chứng nhân” hay “chánh
niệm” không khác, nhưng nếu biết đó là giai đoạn bắt
đầu của tình trạng vô ngã, thì ta nhìn sự kiện trên càng
rõ ràng hơn nữa. Rồi từ đó, thỉnh thoảng tôi lại bất
ngờ rơi vào tình trạng phân ly không chủ định trước, ví
dụ lúc đang đi lang thang ngoài phố, lúc đang chạy xe gắn
máy trên đường, hay ngay cả lúc đang hát karaoke. Tôi thấy
thân xác tôi đang hiện hữu cùng toàn bộ cảnh vật chung
quanh trong một cái biết rộng lớn nhưng vẫn còn mơ hồ.
Tôi nhận thấy cái biết dường như nằm ngoài thân thể tôi.Thực
sự, tôi không chủ động được làm sao hoặc lúc nào thì
nó xảy ra như thế!
Bản
ngã và con đường giải thoát
Đối
với Phật giáo, đặc biệt với học phái Duy thức,
bản ngã là vấn đề cốt tủy. Quan điểm về chứng ngộ
hay giải thoát có thể nhìn từ góc độ của bản ngã. Bản
ngã vẫn còn tức phàm phu. Bản ngã biến mất tức chứng
ngộ.
Nghe
những lời khuyên răn hay đọc kinh sách, hoàn toàn không có
tác dụng gì đến việc buông bỏ ngả cả. Chỉ có thiền
định thành công mới bào mòn và phá vỡ ngã chấp. Sử dụng
thiền làm phương tiện, cho nên Duy thức tông còn gọi là
Du già tông (yogacara). Hành giả công phu đến một ngày nào
đó sẽ chứng ngộ tình trạng vô ngã, đây là giai đoạn
biến chuyển tâm thức mãnh liệt. Cái biết do xác thân thì
nhỏ bé hạn hẹp và luôn phải thông qua giới hạn của ngũ
quan hay các khái niệm của ý thức. Cái biết, khi ngã biến
mất, thì to lớn mênh mông và đó là cái biết trực tiếp
không qua bất cứ trung gian nào. Cái biết trực tiếp không
còn là Thức mà đã biến thành Trí. Mạt na thức,
cái tạo thành bản ngã, lúc này biến thành Bình đẳng
tánh trí.
Gọi
là “bình đẳng” vì không có chủ thể, không có khách thể,
không có ta, không có người khác. Nói một cách khác: “Ta
là toàn thể”, hay “Một là Tất cả, Tất cả là Một”.
Cái biết được giải phóng khỏi cơ thể hữu hạn để lan
tràn vũ trụ thấm vào tất cả mọi sinh linh, vào tất cả
vật chất vô tình. Kinh Thánh nói: Hãy xẻ cây ra, ta có trong
đó. Hãy đập đá ra, trong đó có ta. Sự Giác ngộ sẽ cho
thấy “cái biết” có ở mọi nơi, mọi loài hữu tình và
ngay cả trong hòn gạch hay mảnh sành.
Khi
Mạt na thức biến thành Bình đẳng tánh trí thì sẽ có một
loạt các thay đổi xảy ra.
•
Năm thức của nhìn, sờ, ngửi, nghe, nếm, biến thành Thành
sở tác trí.
•
Ý thức biến thành Diệu quán sát trí.
•
Alaya thức biến thành Đại viên kính trí.
Theo
kinh điển đại thừa, người tu lúc bấy giờ đã là Sơ
địa bồ tát, bậc đầu tiên trong con đường tiến đến
giải thoát.
Tình
trạng vô ngã giúp ta luôn sống và an trú trong hiện tại.
Đó là một tình trạng an lạc tuyệt đối. Đừng nghe lời
chỉ dạy rằng hãy sống trong hiện tại, để đạt đến
giác ngộ. Sống trong hiện tại chính là kết quả thành tựu
được sau khi chứng ngộ, chứ không phải là phương pháp
tập luyện để đạt chứng ngộ! Hiểu được điều này
là bạn đã tránh được sự phung phí thời gian vô ích khi
đọc hoặc thực hành các cái gọi là phương pháp sống trong
hiện tại.
Bình
đẳng là một trong năm trí của một vị Bồ tát. Tâm Bồ
tát không có ngã, không phân biệt ta và người. Tất cả mọi
hiện hữu trong vũ trụ đều là cơ thể của Bồ tát.
Bồ
tát giúp đỡ và cứu người như một phản xạ tự nhiên.
Giống như bàn tay này xoa bóp bàn tay kia, khi bàn tay kia của
bạn bị đau. Động tác này hoàn toàn tự động vì hai bàn
tay là cùng một cơ thể. Có một câu chuyện như thế này:
Hai
thày trò cùng đi trên một thuyền. Ra giữa sông, vị thày
thấy một con bọ cạp bị trôi theo dòng nước. Vị thày cho
tay xuống nước vớt con bọ cạp. Con bọ cạp, tưởng bị
tấn công, nên chích vào ngón tay vị thầy để tự vệ. Vị
thày đau đớn, kêu oái, và làm rơi con vật xuống nước.
Rồi người đệ tử lại thấy vị thày cho tay xuống nước
để vớt con vật lần nữa, rồi lại bị đau đớn, lại
kêu oái! Cứ thế rất nhiều lần! Người đệ tử ngạc nhiên
hỏi: tại sao thày lại cứ cứu vớt nó, trong khi lần nào
chạm tay vào nó thì đều bị chích đau đến như thế? Vị
thày trả lời: Ta cũng không biết tại sao nữa! Cứ thấy
nó rơi xuống nước là tay ta lại tự động cho xuống nước
tìm vớt nó lên!
Hành
động cứu người của Bồ tát là như vậy, một phản xạ
hoàn toàn tự động.
Câu
chuyện thứ hai: Một buổi sáng mùa đông Nietsche
nhìn ra ngoài cửa sổ. Một con ngựa già kéo xe nặng nhọc
bước lê trong cái rét mùa đông. Con vật đi quá chậm dường
như vì kiệt sức, người xà ích quát tháo và đập roi liên
tục lên đầu cổ con vật. Nietsch nhìn thấy con vật đáng
thương quỵ xuống đường. Rồi một cảm giác đau đớn xuất
hiện, Nietsche cũng quỵ xuống bại liệt. Từ sau đó, Nietsche
vĩnh viễn trở thành phế nhân, chỉ có thể nằm đọc cho
người thư ký viết những tác phẩm cuối đời của mình.
Tương tự, người ta kể rằng khi thấy một con vật bị đánh,
Ramakrisna
cũng có cảm giác đau đớn thậm chí thân thể ngài cũng xuất
hiện những lằn roi.
Những
câu chuyện vừa kể cho thấy, dường như có một cái “tâm”,
một cái “ngã” to lớn mênh mông, hiện hữu cùng một lúc
trong nhiều thân xác.
Dĩ
nhiên cũng còn biết bao nhiêu câu chuyện khác tương tự như
vậy. Bạn cứ quan sát và chiêm nghiệm trong cuộc sống, sẽ
thấy sự biểu hiện của Bình đẳng tánh trí trong tâm các
Bồ tát hoặc tâm của các vị thánh trong thiên chúa giáo (như
nữ thánh Theresa gần đây chẳng hạn).
Những
người đã chứng ngộ, đã thực hiện vô ngã đã đạt bình
đẳng tánh trí có thích ừng với thế gian không?
Bồ
tát tức những người chứng đắc, với những quả vị cao
thấp khác nhau, vẫn sống như những người bình thường.
Khi tiếp xúc với xã hội hoặc tiếp xúc với thế giới bên
ngoài, tùy lúc cần hay không cần đến một chủ thể, Bồ
tát có thể sử dụng hay không sử dụng đến bản ngã. Khi
sống độc cư hoặc trong thiền định thì Bồ tát thực hiện
tình trạng Vô ngã.
Có
nhiều pháp môn dị biệt, có nhiều con đường khác nhau, nhưng
đích đến vẫn là tình trạng vô ngã. Bồ tát trong thế gian
là người sống cùng một lúc với hai tâm thức, hoặc hữu
ngã hoặc vô ngã tùy theo bối cảnh ngoại giới.
Tài
liệu tham khảo:
Freud
Id,
ego, super-ego
Super-ego
học
thuyết vô ngã
alaya
thức
tình
trạng tách biệt của ngã (detachment),
hiện
tượng phân ly (dissociation)
chánh
niệm
Tâm
lý học Phật giáo (Thích Tâm Thiện)
Thành
duy thức luận (Tuệ Sỹ)
Thắng
pháp tập yếu luận (Thích tâm Thiện)
Duy
biểu học (Nhất Hạnh)
Bát
thức quy củ tụng (Thích Thắng Hoan)
Chúng
tôi học duy thức
Alaya
thức (Thích Tâm Thiện)
Linh
hồn (budhismtoday)
Đi
tìm bản ngã (khoahoc.com)
Tâm
lý học phổ thông và tâm lý học PG
(Luận
văn của Ni sư Thích nữ Hương Nhũ)
Thể
nghiệm thiền định (meditative experiences)
Cái
tôi và tâm lý trị liệu (caitoi.blogspot.com)
www.tamlyhoc.net
Mặt
nạ Siêu thức
Phạm
Doãn © (September 2007)
01-31-2008
04:34:12