Phàm lệ
của dịch giả:
Lệ Ngôn
1.
“Phạm Võng Bồ Tát Giới Bổn Giảng Ký”: Ðề mục bộ
kinh này có chín chữ. Bảy chữ trước ở đây xin gác qua,
vì trong phần giải thích đề mục kinh, và đề mục phẩm
có nói rõ, nên ở đây chỉ nói qua hai chữ “giảng ký”.
Giảng là do Pháp Sư Diễn Bồi y trong Bồ Tát Giới Bổn, tức
là năm mươi tám giới (58) gồm có 10 giới trọng (10) và bốn
mươi tám giới khinh (48) (Ở đây chỉ nói qua 58 giới, là
thuộc về phần giới tướng, còn phần trước và sau, không
nói, vì không cần).
Năm
mươi tám giới (58) này chính là Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
đã nghe đức Lô Xá Na giảng ở thế giới Liên Hoa Ðài Tạng,
Khi Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật hạ sanh nơi cõi Diêm Phù Ðề
này đã tụng lại. 10 giới trọng, 48 giới khinh này dù đã
từ Phạn văn phiên dịch thành Hán Văn, nhưng không dễ gì
hiểu cho tường tận được. Nên Pháp Sư y trong Tam Tạng thánh
giáo và chỗ chánh tri chánh kiến của mình tu học mà giảng
giải kinh văn một cách rành rẽ, rõ ràng, để cho hai chúng
Phật tử xuất gia cũng như tại gia, những vị đã thọ giới
Bồ Tát, hiểu rõ mà hành trì. Sau khi giảng, có đệ tử của
Pháp Sư ghi lại, nên mệnh danh là Giảng Ký.
2.
Bộ Phạm Võng Kinh Bồ Tát Giới Bổn Giảng Ký này gồm có
hai phần:
- Kinh
văn
-
Lời giảng
Trong
khi tôi phiên dịch từ Hán văn ra Việt văn thì chỉ phiên
dịch phần của Pháp Sư giảng. Còn phần kinh văn thì hoàn
toàn y theo bản giới bổn Việt văn của Hòa Thượng Vạn
Ðức (Pháp Sư Thích Trí Tịnh) đã phiên dịch. Tôi không phiên
dịch lại. Tuy nhiên cũng có những chỗ cần thay đổi vì
muốn cho phù hợp với phần giảng giải của Pháp Sư. Những
chỗ ấy có mở và đóng ngoặc đơn (...); xin chư thượng
đức cũng như quý Phật tử tại gia thọ Bồ Tát giới, khi
đọc thì rõ.
Về
lý do tôi không dịch lại phần kinh văn, có hai nguyên nhân:
- Bản
dịch của Hòa Thượng Vạn Ðức đã lưu hành từ lâu. Trong
giới Phật tử thọ Bồ Tát Giới, xuất gia cũng như tại
gia, thọ trì, tụng kinh khi làm lễ Bố Tát trong mỗi nửa
tháng đã thuần thục. Vì thế, tôi phiên dịch lại cũng thành
thừa.
- Bản
dịch của Hòa Thượng chẳng những lưu hành từ lâu, lại
được Giáo Hội Tăng Già Nam Việt công nhận là bản dịch
xứng đáng và có giá trị. Ðiều ấy như trong quyển kinh
Phạm Võng lược giảng nghi thức tụng giới Bồ Tát thuyết
minh như sau:
“Trong
đây nói ngài Cưu Ma La Thập dịch từ văn Phạn ra văn Hán,
hồi đời nhà Dao Tần. Trong mục lục của Tạng thì để
rõ là có những vị nhuận bút, vị nào chép văn, vị nào
dịch nghĩa. Như vậy có nghĩa là kinh này chắc chắn là có
bổn chánh bằng văn Phạn, đã kết tập từ xưa, truyền qua
Tàu, rồi ngài Cưu Ma La Thập mới dịch ra văn Hán. Và từ
nơi quyển chánh văn chữ Hán, tôi dịch ra quyển chữ Việt
đây.
Trước
khi tôi dịch ra bổn này, ở Việt Nam, cũng có vài vị Thượng
Tọa đã dịch. Nhưng các vị trong Giáo Hội Tăng Già Nam Việt
thấy rằng cần phải có bản dịch chỉnh đốn hơn để cho
chư Tăng cũng như các vị cư sĩ thọ giới Bồ Tát có bổn
để tụng, để bố-tát, cho nên yêu cầu tôi dịch; thành
ra mới có bổn này. Lúc đó, Hòa Thượng Huệ Quang đang làm
Pháp Chủ trong Giáo Hội Tăng Già Nam Việt.
Sau
khi phiên dịch xong, tôi đệ trình lên giáo hội, và giáo hội
đã triệu tập một ban để kiểm duyệt. Sau đó, giáo hội
đã nhận định bản dịch của tôi có phần giá trị xứng
đáng, có thể lưu hành, giúp cho hàng tăng giới cũng như tại
gia thọ Bồ Tát Giới, có thể thọ trì và tụng niệm”.
Vì
lẽ đó, tôi nói rằng bản dịch này do Hòa Thượng Huệ Quang,
Pháp Chủ Giáo Hội Tăng Già Nam Việt, chứng minh.
3.
Khi đọc những bộ kinh, luật, luận; nếu co phần chú giải,
phải luôn nắm vững phần chánh văn mới dễ lãnh hội. Dù
phần giải thích ngắn hay dài đến đâu, cũng chỉ nhằm vào
chánh văn mà giải thích, không bao giờ ra ngoài ý chánh văn.
Ðọc bộ Phạm Võng Kinh Bồ Tát Giới Bổn Giảng Ký này cũng
vậy, quý đại sĩ phải luôn ghi nhớ chánh văn của giới
bổn.
Sự
giải thích kinh văn bộ Giảng Ký này có hai cách:
- Trước
nêu kinh văn rồi sau mới giải thích. Phần này rất dễ phân
biệt lời giải thích với kinh văn.
- Ðem
kinh văn xen trong phần giải thích, để làm sáng tỏ phần
Phật dạy. Lối này hơi khó hiểu, và quý đại sĩ nào không
đọc bổn Hán văn, đối với lời giải thích khó mà phân
biệt. Vì thế, khi dịch phần giải thích lối này, với những
chữ hay những câu thuộc phần kinh văn đều có mở và đóng
ngoặc kép “...” để quý đại sĩ phân biệt được kinh
văn, không phải lời chú giải.
4.
Về sự xếp đặt kinh văn của bộ Phạm Võng Kinh Bồ Tát
Giới Bổn Giảng Ký này, trước tiên nêu đề mục của mỗi
giới và kinh văn, rồi sau mới giải thích.
Khi
giải thích cũng thế, nghĩa là trước giải thích đề mục,
sau mới giải thích kinh văn. Về phần giải thích đề mục
của mỗi giới không nhứt định. Có giới giảng rất rộng
từ 2 đến 3 trang, có giới giảng ít hơn. Nên biết dù nhiều
hay ít, các phần giảng này cũng chỉ ở trong phạm vi đề
mục, không quan hệ gì đến kinh văn.
Xong
phần đề mục của mỗi giới, đến phần giảng kinh văn,
các phần này luôn được mở đầu bằng câu “Ðức Phật
đối với đại chúng dạy rằng: “...” Khi đọc cứ lưu
ý như vậy, thì khỏi có sự lộn xộn giữa đề mục và
kinh văn.
5.
Bộ Phạm Võng Kinh Bồ Tát Giới Bổn Giảng Ký này chỉ bắt
đầu giải thích từ câu: “Nhĩ thời Thích Ca Mâu Ni Phật
tùng sơ hiện Liên Hoa Ðài Tạng Thế Giới...” (Bấy giờ,
đức Phật Thích Ca Mâu Ni từ lúc sơ khởi, hiện thân nơi
thế giới Liên Hoa Ðài Tạng), chứ không y theo trong bộ Giới
Bổn tụng giới mỗi nửa tháng, trước tiên bắt đầu từ
câu: “Nhĩ thời Lô Xá Na Phật vị thử đại chúng, lược
khai bá thiên hằng hà sa bất khả thuyết pháp môn trung tâm
địa như mao đầu hử”. Sự việc ấy trong phần giải thích
có nói rõ nguyên nhân.
