|
|
|
|
|
|
|
|
|
Chương
I: TIỀN ĐỀ KHÁI THUYẾT (những điều khái quát đầu tiên)
|
|
|
|
Chương
II: CHÁNH THÍCH KINH VĂN (Chánh thức giải thích kinh văn)
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Chương
III: CHÁNH THUYẾT GIỚI TƯỚNG (chánh thức thuyết giảng giới
tướng
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
KHINH
GIỚI TƯỚNG
|
|
|
|
CHƯƠNG
IV: KẾT KHUYẾN LƯU THÔNG
|
|
|
|
c
PHẠM VÕNG
KINH BỒ TÁT GIỚI BỔN GIẢNG KÝ
Hán
văn: Pháp sư Thích Diễn Bồi
Việt
dịch: Hòa Thượng Thích Trí Minh
A.2.
THUYẾT PHÁP DUYÊN KHỞI
(khởi sự
thuyết pháp nhân duyên)
Kinh
văn
1.
Phiên âm:
Nhĩ
thời, Phật quán chư Ðại Phạm Thiên Vương võng la tràng,
nhơn thị thuyết vô lượng thế giới do như võng khổng, nhứt
nhứt thế giới, các các bất đồng, Phật giáo môn diệc
như thị.
2.
Dịch nghĩa:
Lúc
bấy giờ, nhân khi xem mành lưới bảo tràng của Ðại Phạm
Thiên Vương, Ðức Phật vì đại chúng mà giảng kinh Phạm
Võng. Ngài dạy rằng: “Vô lượng thế giới dường như lỗ
lưới. Mỗi mỗi thế giới đều khác nhau, khác nhau đến
số vô lượng. Giáo pháp của Phật cũng lại như vậy”.
Lời
giảng
Ðoạn
kinh văn nói trên, nói rõ do nhân duyên nào Ðức Phật khởi
sự thuyết pháp. Ðiều này trong phần giải thích đề mục
đã nói rõ:
Nhân
lúc ngự trong cung của Ðại Phạm Thiên Vương, Ðức Phật
giảng pháp môn Tâm Ðịa. Khi ấy, quý Ðại Phạm Thiên Vương
mang mành lưới bảo tràng đến để cúng dường Ðức Phật
và chư vị có ý muốn gần gũi Ðức Phật để nghe tuyên
pháp yếu.
Bấy
giờ, Ðức Phật nhân dịp xem mành lưới bảo tràng của Ðại
Phạm Thiên Vương, Ngài phát sanh cảm nghĩ sâu xa và vì đại
chúng tuyên nói những sự sai biệt của vô lượng thế giới
trong mười phương giống như lỗ lưới.
Mỗi
thế giới đều khác nhau, khác nhau đến vô lượng. Sự an
lập của các thế giới đều bất đồng. Có thế giới ngửa,
có thế giới úp, có thế giới thanh tịnh, có thế giới uế
trược... trong đồng có biệt, trong biệt có đồng. Ðồng,
biệt nương nhau mà an lập sát võng.
-
Chữ Sát thuộc Pháp chỉ cho vô lượng quốc độ thanh tịnh,
uế trược khác biệt nhau, không thể dùng lời mà có thể
giảng nói đến cùng tột.
-
Chữ Võng thuộc Dụ, nghĩa là mành lưới, là sự an lập bất
đồng của vô lượng quốc độ trong mười phương cũng như
vô lượng lỗ lưới trong một mành lưới, nên gọi là Sát
Võng.
Ở
đây về năng dụ, duy nhất chỉ có mành lưới bảo tràng
của Ðại Phạm Thiên Vương. Về sở dụ thì có hai loại
là thế giới và pháp môn của Phật.
Thế
giới sở dụ ý chỉ căn cơ sở bị (sở bị đồng nghĩa
với “sở nhiếp”, ý chỉ căn cơ của chúng sanh đã được
thu phục, đưa vào trong giáo pháp của Phật).
Giáo
pháp sở dụ ý chỉ pháp môn năng bị. Ðứng về phương diện
pháp tánh bình đẳng mà nói, thì không thể có các thứ sai
khác. Nhưng vì căn cơ thọ giáo của chúng sanh có ngàn muôn
sai khác, nên pháp môn của Như Lai thi thiết đương nhiên cũng
có nhiều thứ bất đồng.
Về
căn cơ sở bị, sở dĩ không gọi là chúng sanh, lại gọi
là thế giới, vì thế giới là y báo của chúng sanh. Thế
giới y báo này có thể trùm nhiếp cả chúng sanh chánh báo
trong ấy.
Trong
kinh thường nói Thập Giới là ý bao gồm từ Phật Giới đến
Ðịa Ngục Giới vậy. Sở dĩ Ðức Phật đặc biệt dùng
mành lưới bảo tràng làm thí dụ vì những lỗ lưới ở
mành lưới này rất nhiều, có thể nói là trùng trùng muôn
mắt, vô lượng sự sai biệt khác mà vẫn xâu mắc được
vào nhau một cách xuyên suốt không ngăn ngại.
Chư
Phật tùy theo căn cơ của chúng sanh mà thi thiết những pháp
môn sai khác vô lượng, mà vẫn giao suốt nhau không ngăn ngại.
Vô lượng thế giới trong mười phương có tịnh, có uế,
có ngửa, có úp, nhưng nương theo các duyên hòa hợp mà thành,
mặc dù có vô lượng sai khác, nhưng vẫn giao suốt nhau không
ngăn ngại.
Hoặc
có nơi cho rằng lỗ lưới của mành lưới bảo tràng lớn,
nhỏ, vuông, tròn, bất đồng, cũng như thế giới cùng chúng
sanh thân tâm cũng sai khác, nên Ðức Phật dùng pháp môn giáo
hóa, dẫn dắt chúng sanh cũng phân ra thành nhất thừa, tam
thừa sai khác nhau.

|