A.4. NHÂN
GIAN THUYẾT GIỚI
(thuyết giới
pháp nơi cõi nhân gian)
A.4.1. THÁNH
PHÀM BỔN NGUYÊN
(nguồn gốc
thánh nhân, phàm nhân)
A.4.1.1.
TIÊU GIỚI BỔN NGUYÊN (nêu rõ bổn nguyên của Giới)
Kinh
văn
1.
Phiên âm:
Từ
câu “phục tùng thiên vương cung”... cho đến câu: “...nhứt
thiết Bồ Tát bổn nguyên, Phật tánh chủng tử”.
2.
Dịch nghĩa:
Sau
đó từ cung của Thiên Vương, Ðức Phật trở xuống ngự
dưới cội Bồ Ðề nơi cõi Diêm Phù, vì tất cả chúng sanh
ở cõi này, hạng phàm phu ngu tối, mà giảng Kim Cương Quang
Minh Bảo Giới. Giới pháp này là lời thường trì tụng của
Phật Lô Xá Na khi Ngài mới phát tâm Bồ Ðề và trong suốt
thời kỳ tu nhân của Ngài. Giới pháp này cũng là bổn nguyên
của tất cả chư Phật, là bổn nguyên của tất cả Bồ Tát
và là chủng tử của Phật tánh.
Lời
giảng:
Ðức
Phật ở nơi mười pháp hội, sau khi giảng Tâm Ðịa pháp
môn xong, từ trong cung của Ðại Tự Tại Thiên Vương, Ngài
ngự xuống châu Nam Diêm Phù Ðề, tức cõi nhân gian của chúng
ta, ngồi dưới cội Bồ Ðề, vì tất cả chúng sanh phàm phu
si ám, tuyên thuyết một giới pháp trong Tâm Ðịa pháp môn
mà Ðức Phật Lô Xá Na thường trì tụng trong thời kỳ Ngài
mới phát tâm.
“Ðịa
thượng” trong kinh văn chỉ cảnh giới nhân gian hiện tại.
“Nhứt
thiết chúng sanh” có nghĩa là bao gồm tất cả các loại
chúng sanh (trừ Ðức Phật là bậc tối cao) như nhân loại
chúng ta, các bậc Thánh Nhân (từ nhân loại trở lên) và tất
cả động vật (từ nhân loại trở xuống).
Danh
từ “chúng sanh” trong kinh có hai lối giải thích:
-
“Chúng duyên hòa hợp nhi sanh, danh vi chúng sanh” (các duyên
hòa hợp lại mà sanh, gọi là chúng sanh). Nên biết rằng cứ
một sinh vật nào có đầy đủ phần tinh thần và hoạt động,
đều không phải do một pháp đơn thuần, độc lập mà hình
thành, mà là do nhiều điều kiện tập hợp lại mà tạo nên.
-
Trong kinh Ðại Pháp Cổ thuyết minh: “Tất cả pháp hòa hợp
thi thiết gọi là chúng sanh. Nghĩa là do tứ đại, ngũ uẩn,
thập nhị xứ và thập bát giới, thập nhị nhân duyên v.v...
hòa hợp lại mà thành, nên chỉ là hư giả, gọi là người
hay chúng sanh”. Lối giải thích ý nghĩa chúng sanh sở dĩ
gọi là “chúng sanh” trên đây rất xác đáng.
-
“Sát sát bất đoạn thọ sanh, danh vi chúng sanh” (thường
thường thọ sanh không gián đoạn, gọi là chúng sanh).
-
Mỗi chúng sanh hoạt động trên thế gian, chẳng phải chỉ
trong một giai đoạn và khi kết liễu sanh mạng là xong, phải
luôn luôn có một sanh mạng khác thọ sanh tiếp theo. Hơn nữa,
khi chưa giải thoát khỏi vấn đề sanh tử, tất cả đều
phải ở trong chu trình sanh rồi tử, tử rồi lại sanh và
hình thành một giòng đại sanh tử.
-
Trong luận Bát Nhã Ðăng thuyết minh: Tại sao gọi là hữu
tình? Nói hữu tình là do tính chất luôn luôn thọ sanh nên
gọi là “chúng sanh”. Ðây là lối giải thích ý nghĩa tại
sao chúng sanh được mệnh danh là chúng sanh. “Phàm phu” là
tiếng Trung Hoa, xưa dịch là phàm phu, nay dịch là “dị sanh”.
Tiếng Ấn Ðộ gọi là Ba-la, là từ phản nghĩa của “thánh
giả”.
Ở
trong bộ Thiên Thai Chỉ Quán thuyết minh: “Phàm thánh tương
hành, phán như thiên nhưỡng” (nhưỡng: chỗ đất người
ta ở, nghĩa là: phàm phu với thánh nhân, nếu đem so sánh thì
chẳng khác nào trời với vực). Phiền não chưa đoạn, lý
tánh chưa chứng, muôn đời qua lại mãi trong tam giới, đó
là hạng phàm phu.
Kinh
Pháp Hoa nói: “Phàm phu thiển thức, thâm trước ngũ dục”
(Phàm phu ý thức nông cạn, mải say đắm theo ngũ dục, hế
không được thoát ly khỏi tam giới).
Vì
đã là phàm phu thì cứ gọi là phàm được rồi, sao lại
còn nói là người si ám?
-
Vì phàm phu là những chúng sanh đối với phiền não chưa đoạn
trừ được chút nào, do vô minh phiền não tự đóng bít tâm
địa, khiến cho trí huệ quang minh vốn sẵn đủ không được
khai phát, mãi sinh hoạt trong cảnh thiên hôn địa ám, vì thế
nên gọi là “ám”.
-
Do vô minh phiền não che đậy tâm địa của mình, không hiểu
rõ chánh pháp của chư Phật, vọng sanh các thứ tà kiến không
chánh đáng nên gọi là “si”.
Hạng
người phàm phu si ám như thế làm sao có thể từ trong cảnh
trầm mê bất giác, chuyển phàm nhập thánh?
Ðây
là một khóa đề trọng yếu của hàng Phật tử tu học Phật
pháp. Và đối với vấn đề này, hẳn nhiên theo Phật pháp,
có biện pháp để giải quyết là liệu chúng ta có chịu phát
Bồ Ðề tâm hay không?
Ngay
như Ðức Phật Lô Xá Na không phải tự nhiên được thành
Phật. Tận ban sơ, Ngài cũng chỉ là một kẻ phàm phu si ám
như chúng ta, sau đó Ngài phát tâm Bồ Ðề, bẩm thọ Tâm
Ðịa diệu giới này và luôn thường trì tụng cho đến lúc
chứng được quả Tâm Ðịa rốt ráo, hoàn thành bậc Vô Thượng
Chánh Ðẳng Chánh Giác. Nói như thế để thấy rõ cảnh giới
này chính là Quang Kiến siêu phàm nhập thánh.
Nếu
như không có tâm địa diệu giới này thu nhiếp tự tâm, lẽ
tất nhiên chúng sanh phải muôn đời trầm luân trong biển
khổ sanh tử, vĩnh viễn không có ngày thoát khỏi luân hồi
sanh tử được.
Ðức
Ðại Thánh Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn vì thương xót những hạng
người phàm phu si ám này mới đi vào cảnh nhân gian đầy
thống khổ, uế trược, giảng nói một trong số những giới
pháp của Tâm Ðịa pháp môn của Ðức Phật Lô Xá Na thường
trì tụng trong thời kỳ mới phát tâm.
Giới
pháp Tâm Ðịa này chính là nhân tối thắng để thành Phật.
Tất cả chư Phật trong ba đời, trước tiên đều bẩm thọ
giới pháp này, sau đó mới bước lên bảo tòa Vô Thượng
Chánh Giác. Chính Ðức Phật Lô Xá Na thường trì tụng giới
pháp này nên gọi là “Quang Minh Kim Cương Bảo Giới”.
Quang
Minh đối chọi với Hắc Ám. Có quang minh thì hắc ám không
thể tồn tại. Ðây là một sự kiện hiển nhiên, ai cũng
thấy rõ. Và vì giới này có công năng diệt trừ hắc ám,
vô minh từ vô thỉ, nên gọi là “quang minh”.
Kim
Cương là một loại khoáng thạch vô cùng cứng rắn, có thể
phá hủy bất cứ một vật thể cứng rắn nào khác. Ðiều
này cũng là một sự kiện thông thường mọi người đều
biết. Vì giới pháp này có thể tồn phá tất cả phiền não
khó tồn phá nhất, cho nên gọi là “kim cương”.
Bửu
chỉ những vật quý trọng, có thể dứt trừ sự nghèo cùng
khốn khổ của mọi người, nên được tất cả thế nhân
xem trọng. Và cũng vì giới pháp này có thể xuất sanh vô
lượng công đức, pháp tài, khiến cho công đức thiện pháp
của chúng sanh ngày càng tăng trưởng nên gọi là Bửu.
Chính
Kim Cương Quang Minh Bửu Giới là giới tối thượng vi diệu
đệ nhứt, là thể tạng của mười giới trọng và bốn mươi
tám giới khinh, là tâm địa giới pháp của chư Cổ Phật
triển chuyển truyền lại, không phải do đức Bổn Sư Thích
Ca Mâu Ni Phật riêng sáng lập sau này. Vì vậy, giới pháp
này rất có giá trị đối với mỗi chúng sanh, nhất là đối
với các hành giả bậc Ðại Thừa, tu học Phật pháp, lại
cần phải đặc biệt xem trọng.
Danh
từ Quang Minh Kim Cương nghiên cứu cao hơn một bước, cũng
như căn cứ vào phương diện đạo lý, chư cổ đức đã giải
thích như sau:
-
Quang Minh là căn cứ vào Nhiếp Thiện Pháp Giới để nói,
vì Tâm Ðịa diệu giới này có thể soi chiếu tất cả các
pháp.
-
Kim Cương là căn cứ vào Nhiếp Luật Nghi Giới mà nói, vì
Tâm Ðịa diệu giới này bản thể của nó thuộc về Vô Lậu
Tánh.
-
Bửu là căn cứ vào Nhiếp Chúng Sanh Giới vì Tâm Ðịa diệu
giới này có công năng cứu tế muôn vật, lợi ích quần sanh.
Nếu
nghiêm cẩn hành trì Luật Nghi Giới thì không một ác pháp
nào chẳng trừ được, đạt đến quả vị Phật và thành
tựu Ðoạn đức.
Nếu
phụng hành Nhiếp Thiện Pháp Giới một cách thiết thực thì
không một thiện pháp nào chẳng tu được, đạt đến quả
vị Phật, thành tựu được Trí đức.
Nếu
thực tiễn nhận chân được Nhiếp Chúng Sanh Giới thì chính
là không một chúng sanh nào chẳng cứu độ, đạt đến quả
vị Phật, thành tựu được Ân đức.
Cho
nên, chỉ có một giới pháp của đức Lô Xá Na thường trì
tụng, xem qua rất đơn giản, nhưng sự thật thì bao hàm của
nhơn quả Ðại Thừa bên trong. Vì lý do nói trên, Ðức Phật
tiếp tục dạy: Quang Minh Kim Cương Bửu Giới không phải là
pháp gì khác, chính là bổn nguyên của tất cả chư Phật,
là bổn nguyên của tất cả Bồ Tát.
Nói
rõ hơn, Tát Bà Nhã hải của chư Phật còn gọi là Bát Nhã
Ba La Mật, tức là Nhất Thiết Chủng Trí của chư Phật.
Chữ
Hải ở đây ý nói đại trí của chư Phật sâu rộng như
biển cả, cố nhiên là lấy giới này làm bổn nguyên. Lục
độ vạn hạnh của Bồ Tát cũng dùng giới này làm bổn nguyên.
Ðức Lô Xá Na do nơi giới này mà thành đạo. Chư Phật trong
ba đời, mười phương cũng từ nơi giới này mà thành đạo.
Tất cả Bồ Tát ở thế giới này và ở các phương khác
lẽ đương nhiên phải lấy giới này làm cội gốc, nương
theo để tu hành.
Nếu
ly khai Quang Minh Kim Cương Bảo Giới này mà tu hành pháp môn
của 30 tâm và Thập Ðịa, cố nhiên không thể nào thành tựu
được. Ngay chính công đức của Phật địa cũng không thể
phát sanh. Tánh trọng yếu của Tâm Ðịa diệu giới này, nơi
đây càng có thể nhận thức rõ ràng nhất.
Chư
Phật, Bồ Tát sở dĩ đều lấy giới này làm bổn nguyên
vì giới pháp này là chủng tử Phật tánh sẵn có của chúng
sanh.
Căn
cứ vào lý Ðại Thừa mà nói, Phật tánh vốn là pháp sẵn
đủ của tất cả chúng sanh, nhưng cần phải nương nhờ vào
Giới mới có thể phát sanh, cho nên gọi là “chủng tử”.
Kinh Pháp Hoa nói: “Phật chủng tùng duyên khởi” (chủng
tử Phật tánh tùy nhân duyên mà sanh ra) cũng chính là ý này.
Trong
kinh Niết Bàn thuyết minh: “Nhất thiết chúng sanh tuy hữu
Phật tánh, yếu nhân trì giới, nhiên hậu nãi kiến, nhân
kiến Phật tánh, đắc thành a nậu đa la tam miệu tam bồ đề”
(Tất cả chúng sanh dù sẵn có Phật tánh, nhưng cần phải
nghiêm trì tịnh giới, sau đó mới thấy được Phật tánh.
Do thấy được Phật tánh mà đắc thành quả vị a nậu đa
la tam miệu tam bồ đề). Ðây là nói về ý nghĩa nhân duyên
Phật tánh và liễu nhân Phật tánh lấy giới này làm chủng
tử.
Trong
luận Khởi Tín thuyết minh: “Dĩ tri pháp tánh vô nhiễm ô,
tùy ly ngũ dục quá cố, tùy thuận tu hành Thí Ba La Mật”
(Do biết rõ pháp tánh vốn không ô nhiễm, lập tức xa lìa
tội lỗi say mê ngũ dục, tùy thuận theo pháp mà tu hành Thí
Ba La Mật).
Ðây
là nói về Quang Minh Kim Cương Bảo Giới lấy chánh nhân Phật
Tánh làm chủng tử. Tất cả chúng sanh đều đồng sẵn đủ
Phật Tánh chủng tử này, nhưng vì sao chúng ta cũng như tất
cả chúng sanh không thể chứng đắc Tâm Ðịa pháp môn?
Trả
lời câu hỏi này thật đơn giản. Ấy là do nơi chúng sanh
bị phiền não che đậy, làm chướng, luôn trái ngược lại
giác tánh và thuận hợp với trần lao mà ra nông nỗi như
vậy. Nếu thuận theo Phật tánh mà tu hành thì có thể siêu
thoát khỏi biển khổ sanh tử, ngộ nhập tự tánh Niết Bàn
sẵn có và mới có thể chứng đắc Tâm Ðịa pháp môn, đồng
như chư Phật.
Sở
dĩ Ðức Phật đến nhân gian tuyên thuyết Tâm Ðịa diệu
giới này; và chúng ta sở dĩ phải bẩm thọ Tâm Ðịa diệu
giới này, vì Phật muốn cho chúng ta chứng đắc Tâm Ðịa
pháp môn. Hơn nữa, chỉ có Tâm Ðịa diệu giới này mới
có thể giúp chúng ta chứng đắc Tâm Ðịa pháp môn. Thế
nên chúng ta không nên xem thường.
A.4.1.2.
HIỂN GIỚI THẮNG LỢI (nêu rõ sự lợi ích của giới)
Kinh
văn
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhứt thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh...” đến
câu “... đương đương thường hữu nhân cố, đương đương
thường trụ pháp thân”.
2.
Dịch nghĩa:
Tất
cả chúng sanh đều có Phật tánh, tất cả ý thức sắc, tâm,
là tình, là tâm đều nằm trong phạm vi giới tánh Phật tánh,
vì chắc chắn thường có chánh nhân, nên chắc chắn pháp
thân luôn thường trụ.
Lời
giảng:
Bổn
nguyên của Quang Minh Kim Cương Bửu Giới đã nêu rõ bên trên.
Giờ đây xin thuyết minh phần thắng lợi của Quang Minh Kim
Cương Bửu Giới.
“Nhất
thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh” trong phần kinh văn trên
trong kinh Niết Bàn cũng từng nói đến. Các học giả trong
Phật giáo Trung Quốc tối sơ đều thừa nhận tất cả chúng
sanh đều sẽ được thành Phật, chính do từ câu này.
Kinh
Niết Bàn nói tiếp: “Phàm hữu tâm dã, giai đương tác Phật”
(Phàm chúng sanh nào có tâm đều sẽ thành Phật).
Tâm
nghĩa là pháp mà mỗi chúng sanh đều có sẵn, Phật tánh ẩn
tàng trong tâm chúng sanh; vì thế nên các chúng hữu tình nếu
có đủ tâm thức hoạt động đều có thể thành Phật.
Ở
đây có người hỏi: Chúng tôi hiện có Phật tánh hay không?
Tôi
dám quả quyết đáp rằng: Ðương nhiên là có.
Nếu
như quý vị hỏi tiếp: Chúng tôi đã có Phật tánh, tại sao
không thành Phật?
Tôi
xin đáp: Ðủ Phật tánh là một sự kiện, thành Phật hay
không lại là một sự kiện khác. Chư Ðại Giác Thánh Nhân
sở dĩ nói các Ngài đã thành Phật do vì các Ngài đã đem
Phật tánh sẵn đủ của mình chẳng những khai phát mà còn
trang nghiêm Phật tánh, để hoàn thành diệu quả Pháp Thân
thanh tịnh. Hàng phàm phu cụ phược chúng ta sở dĩ vẫn là
chúng sanh, vì Phật tánh còn bị vô minh hắc ám bao phủ, ngăn
che, nên phải thành thân sanh tử trong vòng luân hồi. Do đó,
sở dĩ chúng ta mãi trôi lăn trong vòng sanh tử, không được
thành Phật, vấn đề không phải là ở nơi chúng ta không
đủ Phật tánh, mà chính ở chỗ do căn bệnh vô minh che đậy
Phật tánh, làm cho Phật tánh không thể hiển hiện.
Hiện
tại, nếu có thể bẩm thọ Quang Minh Kim Cương Bảo Giới
này thì vô minh che đậy Phật tánh bị tiêu diệt, khiến cho
Phật tánh lý thể hoàn toàn hiển lộ, tức thời có thể
thành Phật. Thế nên hiện tại không thành Phật được, không
phải là không có Phật tánh; cũng không nên buồn trách một
người nào, mà cần nên tự trách mình chưa phá trừ được
vô minh đó thôi.
Phật
tánh bao gồm tất cả pháp và không cuộc hạn ở một khía
cạnh nào. Cho nên tất cả hoặc ý hoặc thức, hoặc sắc,
hoặc tâm, đều là tình, là tâm. Không một pháp nào chẳng
điều nhiếp vào trong phạm vi giới pháp Phật tánh. Lý thể
Phật tánh bất sanh bất diệt và luôn thường trụ, cho nên
tất cả các tâm thức hoạt động hư vọng, phân biệt, hoàn
toàn do vô minh, bất giác gây ra.
Chủ
thể của tâm hư vọng, phân biệt là A Lại Da Thức. Nguyên
nhân sanh khởi A Lại Da Thức là nương nơi Như Lai Tạng mà
có. Nên Khởi Tín Luận nói: “Tâm sanh diệt giả, y Như Lai
Tạng, cố hữu sanh diệt tâm. Sở vị: Bất sanh, bất diệt,
dữ sanh diệt hòa hợp, phi nhứt, phi dị, danh vi A Lại Da thức”
(Nói đến tâm sanh diệt phải biết do đâu mà có? Tức là
y theo Như Lai Tạng phát sanh nên có tâm sanh diệt. Trong kinh
gọi là bất sanh, bất diệt, hòa hợp với sanh diệt, chẳng
phải hợp làm một, chẳng phải phân ra khác nhau, gọi là
A Lại Da thức).
Tiếp
theo đó, nương theo A Lại Da thức này mà sanh khởi ra ý. Nương
nơi tâm và ý mà có ý thức sanh khởi. Ðồng thời, cũng trong
Khởi Tín Luận nói: “Dĩ A Lại Da thức thuyết hữu vô minh”
(do nương nơi A Lại Da thức mà nói là có vô minh). Chúng sanh
mãi trôi lăn trong vòng sanh tử, không được thành Phật, thật
ra không phải do nguyên nhân nào khác mà chính do Vô Minh Trụ
Ðịa từ vô thỉ ở trong A Lại Da thức quấy rối!
Ở
đây nói là tâm là theo ý nghĩa tập khởi, không giống như
ý nghĩa tích tập chủng tử sanh khởi hiện hành trong pháp
tướng Duy Thức đã nói, mà chỉ cho vọng niệm bỗng nhiên
tập khởi.
Ý
là ý nghĩa tư lương, có đủ công năng tác dụng hằng thẩm
tư lương (kiểm soát tư tưởng). Theo Duy Thức thì đó là
“đệ thất nhiễm ô ý”. Khởi Tín Luận cho là có năm thứ
ý (năm thứ này có nêu và giảng rõ trong Khởi Tín Luận và
các bộ chú sớ).
Thức
là liễu việc (hiểu rốt ráo mọi việc). Cả sáu thức đều
gồm luôn trong đó. Sắc là chỉ cho vật chất cụ thể hiện
tại thường nói đến, cũng chỉ cho sanh mạng nhục thể của
chúng sanh do tứ đại tổ hợp. Tâm, Ý, Thức ba thứ này gọi
chung là tinh thần.
Sanh
mạng chúng sanh là sự hòa hợp của hai thể: tinh thần lẫn
vật chất. Chúng sanh do sắc tâm hòa hợp và sẵn có Phật
tánh tiềm ẩn trong đó. Chúng ta nên biết rằng Phật tánh
chính là ở trong tâm thức. Ngoài tâm thức này ra, không có
Phật tánh nào tồn tại riêng được.
Nên
trong kinh Lăng Già, Ðức Phật từng nói: “Ngã thuyết A Lại
Da thức tức thị Như Lai Tạng” (Ta nói A Lại Da thức chính
là Như Lai Tạng).
Hai
chữ “thị tình” (là tình) dùng phân biệt với vô tình.
Hai
chữ “thị tâm” (là tâm) dùng phân biệt với vô tâm.
Vô
tình, vô tâm chính là những loại cây, đá vô ý thức. Những
vật thuộc về gỗ, đá đương nhiên không thể kham thọ Tâm
Ðịa diệu giới. Chỉ có loài hữu tình có đầy đủ tinh
thần và hoạt động mới có thể bẩm thọ Tâm Ðịa diệu
giới. Ðã là hữu tình, tức có đủ Phật tánh, nên đương
nhiên vào trong pháp giới Phật tánh.
Hai
câu:
Ðương
đương thường hữu nhân cố.
Ðương
đương thường trụ Pháp Thân.
Dịch:
“Vì chắc chắn thường có chánh nhân nên chắc chắn Pháp
Thân thường trụ” biểu thị lý tất nhiên của luật nhân
quả. Hai chữ “đương đương” ở đây có thể hiểu là
“đích thực như vậy”. Nghĩa là: Quang Minh Kim Cương Bửu
Giới đích thực thường có chân nhân thành Phật, đích thực
là diệu quả Pháp Thân thường trụ sẵn có. Nhân và quả
đều không ly khai Tâm Ðịa diệu giới này.
Hai
chữ “thường hữu” dùng để phân biệt với ý nghĩa không
phải thoạt có, thoạt không, mà bất cứ lúc nào cũng có,
đích xác làm chân nhân thành Phật. Hai chữ “thường trụ”
dùng để phân biệt với ý nghĩa không phải thoạt đến,
thoạt đi mà biểu thị ý nghĩa Pháp Thân diệu quả vĩnh viễn
thường hằng, không có tướng khứ lai, động tĩnh. Nhưng
Pháp Thân diệu quả thường trụ này không phải do từ bên
ngoài mà có được; chính là do Phật tánh sẵn có bên trong,
cực lực khai phát trang nghiêm mà thành.
Bởi
vì sự lợi ích thù thắng của Quang Minh Kim Cương Bửu Giới
là chân nhân thành Phật, là Pháp Thân Diệu Quả Thường Trụ
thanh tịnh, cho nên ở phần khai mạc bên trên nêu là Hiển
Giới Thắng Lợi.
A.4.1.3.
KHUYẾN TÍN THỌ TRÌ (khuyên phát tín tâm thọ trì giới)
Kinh
văn
1.
Phiên âm:
Từ
câu: “Như thị thập Ba La Ðề Mộc Xoa xuất ư thế giới...”
cho đến câu: “...bổn nguyên tự tánh thanh tịnh”.
2.
Dịch nghĩa:
Mười
Ba La Ðề Mộc Xoa như thế xuất hiện trong đời. Giới pháp
này là chỗ kính trọng thọ trì của tất cả chúng sanh trong
ba đời. Giờ đây, Ðức Phật sẽ vì trong đại chúng mà
giảng lại giới phẩm vô tận tạng, là giới phẩm của tất
cả chúng sanh, bổn nguyên tự tánh thanh tịnh.
Lời
giảng:
Giới
pháp Phật tánh như trên đã thuyết minh, là nhân tố duy nhất
để thành Phật của tất cả chúng sanh. Nếu như đối với
Phật tánh pháp giới này mà cực lực trang nghiêm thì cũng
có thể hoàn thành Phật quả tối cao.
Nói
một cách khác, chỗ tu nhân hạnh chính là giới pháp Phật
tánh này, chỗ chứng đắc quả vị cũng chính là Phật tánh
giới pháp này. Vì thế, chúng ta có thể biết chỗ chứng
ngộ của chư Phật Như Lai cố nhiên là giới pháp Phật tánh
này. Phàm phu chúng sanh mê hoặc, không thể giác ngộ đều
là do bị mê hoặc, không hiển lộ được giới pháp Phật
tánh này. Ðức Ðại Thánh Thích Tôn đã phát lộ được điểm
ấy. Ðối với tất cả chúng sanh đã sẵn đủ nhân thù thắng
thì đều có thể chứng đắc quả thù thắng này, nhưng vì
bị mê hoặc không giác ngộ, nên trước sau phải chịu trầm
luân trong biển khổ sanh tử. Ðức Phật vô cùng thương xót,
không nỡ để sanh chúng cứ mãi trầm luân như thế, nên Ngài
mới suy nghĩ tìm phương cách cứu độ.
Nhưng
dùng phương cách nào mới có thể khiến chúng sanh giác ngộ
Phật tánh?
Không
có phương pháp nào hơn là tuyên thuyết các giới pháp, khiến
cho tất cả chúng sanh nhất nhất đều y theo đó giữ gìn,
mới có thể chuyển mê thành ngộ, siêu phàm nhập thánh và
hoàn thành vô thượng Phật quả.
Ðức
Phật dùng tâm đại từ, đại bi vận dụng những phương
tiện khác nhau, đem giới pháp Phật tánh sẵn có của chúng
sanh khai ra thành mười thứ để tuyên thuyết, cho nên nói:
“Mười Ba La Ðề Mộc Xoa như thế xuất hiện trong đời”.
Mười Ba La Ðề Mộc Xoa chính là mười giới trọng căn bổn.
Tâm
Ðịa giới pháp trọng yếu dường ấy, thế gian không dễ
gì gặp được. Hiện tại, nhờ đức Như Lai xuất thế tuyên
thuyết, mới có giới pháp này xuất hiện trên thế gian. Chúng
ta rất có phước duyên và hạnh vận mới được gặp Tâm
Ðịa giới pháp này, nên phải phát tâm đại hoan hỷ, hết
lòng tôn trọng cung kính đối với Ba La Ðề Mộc Xoa này và
y theo đó, đúng như pháp tu trì, mới mong ngộ nhập vào phạm
vi giới pháp Phật tánh.
Ba
chữ “thị pháp giới” (pháp giới này), chữ Pháp nghĩa
là quỹ tắc hoặc phép tắc. Nếu như có người hỏi chư
Phật vì sao mà được thành Phật? Chúng ta ắt có thể đáp
lại một cách quả quyết rằng: “Căn cứ vào quỹ tắc mười
giới trọng mà được thành Phật”.
Sự
thành Phật của chư Phật đã rõ ràng như thế, chúng ta nếu
muốn thành Phật cũng không có gì lạ; phải vâng theo phép
tắc thành Phật này, thể hiện một cách thiết thực, tu hành
một cách nhận chân, lẽ tất nhiên, sẽ đạt đến mục đích
thành Phật.
Nếu
không vâng theo phép tắc này, không theo quy luật này mà thực
hành, mà muốn được thành Phật, thiết tưởng đó là điều
không thể được. Và do vì giới pháp này là phép tắc tu
thành Phật, nên kinh văn gọi là “giới pháp”.
Danh
từ Ba La Ðề Mộc Xoa là tiếng Ấn Ðộ, trong kinh từ trước
đến nay tiếng Trung Quốc dịch là Biệt Biệt Giải Thoát.
Người đời không rõ được chủ ý của Ðức Phật khi chế
giới, nên khi nhìn thấy những giới điều của Ngài đã chế
định, trong đó Ngài dạy hàng đệ tử việc này không được
làm, việc kia không được làm; từ đó, họ ngộ nhận giới
pháp của Phật giáo là một thứ thúc phược con người, nên
không dám phát tâm tin Phật, cũng không dám thọ giới. Họ
không biết rằng: Giới pháp của Như Lai chế định chẳng
những không thúc phược chúng ta, mà là muốn cho chúng ta được
tự tại giải thoát.
Ý
nghĩa Biệt Biệt Giải Thoát là như thế nào?
-
Nếu như nghiêm trì giới không sát sanh thì chúng ta đối với
việc sát sanh này chắc chắn được giải thoát.
-
Như nghiêm trì giới không trộm cắp thì đối với sự trộm
cắp này, chúng ta mới được giải thoát.
-
Như nghiêm trì giới không dâm dục thì đối với việc dâm
dục, chúng ta mới được giải thoát.
Trên
đây nêu ra ba giới để làm tiêu biểu. Ngoài ra, nghiêm trì
các giới pháp khác cũng đều được giải thoát như vậy.
Trong
phạm vi quan hệ với điểm này, tôi cần phải giải thích
rõ để quý vị khỏi thắc mắc và không cảm thấy có sự
khác lạ. Tỷ như chúng ta tạo nghiệp sát sanh, đặc biệt
là sát nhân. Chính trong lúc tạo nghiệp là do bị ma phiền
não xúi giục, sai sử, hoặc chính thân tâm ta cho là không
có gì tội lỗi. Nhưng sau khi đã tạo nghiệp rồi, trong nội
tâm của chúng ta lúc nào cũng bị tồn tại một ám ảnh đã
giết người. Bấy giờ, dù chúng ta đi đến bất cứ nơi
nào, chúng ta cũng cảm thấy dường như có người luôn theo
sau muốn giết mình. Một khi đã có ý niệm như thế thì trống
ngực liền đập, nội tâm cảm thấy không an ổn.
Tâm
trạng bất ổn này chính là không giải thoát. Trái lại, nếu
chúng ta chưa từng có hành động sát nhân bao giờ, thì nội
tâm luôn bình thản, không sợ sệt, lại luôn được tự do
tự tại. Ðó chính là do không tạo nghiệp sát sanh nên được
kết quả giải thoát rõ ràng như vậy. Không sát sanh như thế
thì không trộm cắp cũng như vậy.
Nho
thi có câu:
Vị
nhơn bất tác khuy tâm sự,
Bán
dạ xao môn diệc bất kinh.
Dịch:
Làm
người đừng mưu tâm làm hại kẻ khác thì nửa đêm dù có
bị gõ cửa, lòng cũng không kinh sợ.
Chẳng
hạn, những kẻ trộm cắp tài vật của người, đến lúc
chiều tối, dù ngủ ngon giấc cách nào, khi nghe tiếng gõ cửa
liền sanh tâm sợ hãi. Nếu không phải sợ cảnh sát đến
bắt thì cũng sợ khổ chủ bị mất tài vật đến tìm. Thâm
tâm lúc bấy giờ không được tự tại, an ổn. Trái lại,
nếu giữ gìn giới không trộm cắp thật nghiêm cẩn, không
bao giờ trộm lấy tài vật của người dù là một vật nhỏ,
thì trong lúc nửa đêm, dẫu có người đến gõ cửa, trong
tâm vẫn không chút gì sợ sệt. Không sợ sệt tức là giải
thoát.
Như
trên đã thuyết minh về sự tai hại và lợi ích của việc
phạm giới, giữ giới. Tiếp theo đây, xin nói qua giới dâm
dục và xin dẫn vài câu chuyện ngắn trong bộ Cảm Ứng Thiên
quyển 3, nói về tai hại của dâm dục và lợi ích của sự
giữ gìn giới cấm này.
* Truyện
thứ nhất:
Ở
Trung Hoa, vào triều nhà Minh, tại xã Ðịch Dương, có người
tên Vương Cần Chính thông dâm với một phụ nữ hàng xóm,
và họ cùng nhau ước hẹn đi nơi khác.
Vì
sợ chồng đuổi theo kịp sẽ rất nguy hại, người phụ nữ
ấy bèn tính kế giết chồng. Sau khi người chồng bị giết,
Cần Chánh nghe tin ấy, hoảng sợ, tức khắc một mình đến
huyện Giang Sơn mong trốn khỏi vụ án ấy.
Từ
Ðịch Dương đến huyện Giang Sơn cách nhau 70 dặm. Cần Chánh
định chắc đã xa, và có thể thoát qua tai họa. Trong lúc
đi đường, vì bụng đói, anh ta ghé vào tiệm ăn cơm. Chủ
quán bảo người làm công dọn một mâm cơm có chén đũa cho
cả hai người dùng. Cần Chánh thấy thế bảo rằng: “Chỉ
một mình tôi, sao lại dọn cho hai người?” Chủ quán đáp:
“Khi nãy tôi thấy có một người bỏ tóc xõa cùng đi với
ông vào tiệm, vì thế tôi bảo dọn cho hai người”.
Cần
Chánh nghe qua vô cùng sợ hãi, biết là oan quỷ tức chồng
của tình nhân đi theo, liền tự động đến quan huyện thú
tội. Quan huyện tức khắc cho bắt người đàn bà kia. Thế
là cả hai đồng bị xử án sát nhân.
* Truyện
thứ hai:
Lại
tại huyện Kinh Khê có hai người, lúc nhỏ cùng học một
trường, kết bạn với nhau rất thân thiện. Khi đến tuổi
thành niên, cả hai đều lập gia đình. Một người giàu có,
một người thì nghèo cùng, túng thiếu. Người bạn nghèo
có một cô vợ tuyệt đẹp. Người bạn giàu kia thấy người
đẹp nên tính kế chiếm đoạt.
Một
hôm anh ta nói với người bạn nghèo rằng: “Tôi có quen một
gia đình đại phú, vợ chồng anh có thể đến đó nương
náu và an sống”.
Người
bạn nghèo nghe nói, tưởng là tình bằng hữu mãi thương nhau
nên vô cùng cảm tạ. Bấy giờ, bạn kia xuất tiền sắm một
chiếc ghe khá lớn để chở hành lý, rồi cùng hai vợ chồng
bạn cùng đi. Ba người chèo ghe đến một ngọn núi, người
bạn giàu bảo bạn nghèo rằng: “Ðể chị ở đây giữ đồ,
tôi và anh đi trước lên núi”.
Người
ấy dẫn bạn vào rừng rậm, rồi tức khắc lấy búa dắt
sẵn trong lưng chém chết. Sau đó, giả vờ khóc lóc một cách
thê thảm, xuống núi bảo với vợ bạn rằng: “Chồng chị
chết vì nạn cọp”.
Người
phụ nữ vừa nghe xong ngã xuống bất tỉnh nhân sự. Một
hồi lâu nàng tỉnh lại khóc lóc thê thảm. Người bạn giàu
an ủi rằng: “Tai nạn xảy ra là việc đã rồi, giờ chị
có quá buồn đau cũng không làm sao được. Chị nên cùng tôi
lên núi kiếm thi hài”.
Người
phụ nữ dù hết sức đau đớn, nhưng nghe nói cũng cố gắng
đi tìm thi hài của chồng. Người này dẫn vợ bạn đến
chỗ rừng suối rậm rạp, liền ôm người đàn bà ấy và
cầu làm việc bất chánh. Người đàn bà la lên phản đối.
Ngay lúc ấy, bỗng nhiên mãnh hổ nhảy ra ngậm anh bạn giàu
có đi một mạch. Người phụ nữ thấy thế cả kinh và cho
rằng quả thật chồng mình đã lọt vào miệng cọp, nên vừa
khóc kể, vừa lần xuống chân núi.
Lúc
đang đi trông thấy xa xa có một người vừa khóc,vừa đi
đến, người phụ nữ nhận ra đó chính là chồng mình. Khi
vừa gặp nhau, cả hai nắm tay khóc lóc thê thảm, rồi cùng
thuật lại những việc đã qua. Người chồng bảo: “Anh ấy
toan làm nhục em, nhưng không bị làm nhục; toan giết anh, nhưng
anh không chết, giờ đây anh đâu có ân hận gì!”
Người
vợ cũng nói: “Cái khổ nhất của em là tưởng anh đã chết,
em toan báo thù kẻ địch, nhưng kẻ địch đã tự thọ báo,
giờ đây em rất mãn nguyện”.
Bấy
giờ cả hai buồn vui lẫn lộn, dẫn nhau xuống ghe cùng chèo
về xóm.
Qua
hai câu chuyện trên thuyết minh về việc phạm dâm nghiệp
mà bị hiện báo.
Tiếp
theo đây, xin trích dẫn hai truyện ngắn nói về sự giữ gìn
thân tâm thanh tịnh, không phạm tội dâm mà được phước
báo hiện tại.
* Truyện
thứ nhất:
Ở
Trung Hoa, tại tỉnh Chiết Giang, có quan Chỉ Huy Sứ, rước
một giáo sư về nội dinh dạy con.
Một
hôm, vị giáo sư bị bệnh thương hàn, vì muốn cơn bệnh
mau nhẹ, nên liệu trị theo cách phát hãn (làm cho toát mồ
hôi), giáo sư bảo học trò đi lấy mền. Cậu bé khi đi lấy
mền, vì sơ ý, nên kéo luôn chiếc dép của mẫu thân đến
phòng thầy giáo. Khi xông thuốc lá xong, giáo sư bảo cậu
bé đem trả mền thì chiếc dép còn lại trong phòng thầy giáo,
nhưng cả thầy lẫn trò đều không biết.
Quan
Chỉ Huy Sứ trông thấy nghi ngờ vợ mình tư thông với thầy
giáo nên tra hỏi người vợ; nhưng tra hỏi cách nào phu nhân
vẫn không chịu tội. Quan Chỉ Huy Sứ lập mưu dò xét. Ông
sai một tỳ nữ đến phòng thầy giáo gõ cửa và nói lệnh
bà mời thầy đến. Thầy giáo cả giận mắng: “Ðêm khuya
giờ này mà mời cái gì!”
Tỳ
nữ tức khắc về thưa lại. Chỉ Huy Sứ bắt buộc phu nhân
phải đích thân đi. Khi phu nhân đi trước, quan Chỉ Huy Sứ
nối gót theo sau và cầm một thanh bạch nhẫn (gươm trắng)
đứng bên ngoài đợi mở cửa. Phu nhân gõ cửa xin vào phòng,
thầy giáo liền cự tuyệt và bảo rằng: “Giờ này phu nhân
không được phép vào phòng tôi”.
Phu
nhân khẩn khoản nhiều lần, nhưng thầy giáo quyết định
không mở. Hôm sau, theo thường lệ mỗi buổi sáng, sau khi
súc miệng, rửa mặt, điểm tâm xong, thầy giáo sẽ bắt đầu
dạy học. Nhưng trái lại, thầy giáo sau khi súc miệng, chải
đầu xong, liền từ biệt quan Chỉ Huy Sứ đi về.
Quan
Chỉ Huy Sứ bấy giờ mới rõ sự thật, nói rằng: “Tiên
sinh thật là một bậc chân quân tử”. Ðoạn thuật hết
đầu đuôi tự sự chính mình đã làm và thành tâm tạ lỗi,
mời thầy ở lại lớp tiếp tục giáo huấn các con trong nhà.
Thầy
giáo là một thanh niên trẻ tuổi. Trong kỳ thi năm ấy, thầy
đậu khoa cao, sau đó làm quan trong nội triều.
* Truyện
thứ hai:
Cũng
tại Trung Hoa, thời bấy giờ có một tướng lãnh tên Trình
Ngạn Tân. Lúc đi chinh phạt tại Ninh Thành, trong thời gian
ở thành nội, một hôm, kẻ tả hữu đưa vào ba thiếu nữ
chưa chồng, không biết con nhà ai, dâng cho tướng lãnh. Ba
cô đều là người quốc sắc khuynh thành. Tướng công đang
lúc rượu say, thấy ba cô thiếu nữ còn quá trẻ, bảo rằng:
“Ba cô cũng như con gái tôi ở nhà, tôi đâu dám làm việc
phạm giới”. Sau đó, vị tướng lãnh ra lệnh thuộc hạ
cho ba cô ăn uống no đủ và dẫn vào một ngôi nhà tử tế
cho cả ba an nghỉ. Ngài ra ngoài khóa cửa lại. Ðến sáng,
bảo người dẫn đến hỏi danh tánh, xứ sở, cha mẹ, rồi
sai người mang về trao trả cho gia đình.
Sau
này, tướng công trí sĩ về cố hương, tịnh dưỡng tu hành.
Ðến ngày từ trần, ông đi từ biệt các thân hữu, rồi
niệm Phật mà tạ thế, hưởng thọ chín mươi ba tuổi. Các
con của ông sau này đều đậu khoa cao và rất vinh hiển.
Truyện
kể trên đã chứng minh cho chúng ta thấy rằng giữ gìn hạnh
thanh tịnh, không phạm tội mà được phước báo hiện tiền.
Như
thế, chúng ta thấy rõ những giới điều của Phật chế định,
ngăn cấm việc này không được làm, việc kia không được
làm, chính là xuất phát từ tâm từ bi của Phật. Ngài muốn
cho chúng ta đi trên con đường giải thoát, thoát hẳn sự
thúc phược và mọi khổ đau.
Thế
nên người đời nếu quan niệm những giới luật của Phật
là những quy điều bó buộc con người một cách vô ích, thì
họ hoàn toàn sai lầm. Có một điều chúng ta cần phải biết:
Bốn giới Sát, Ðạo, Dâm, Vọng thuộc về tánh giới. Ðứng
về phương diện tội lỗi thì gọi là tánh tội. Nghĩa là
bốn sự việc ấy bản chất của chúng vốn là tội lỗi.
Thế nên nếu người nào giữ gìn không phạm thì được phước
vô lượng; người nào trái phạm thì khổ quả vô biên. Không
luận có Phật ra đời hay không, có Phật chế giới hay không
chế giới, hễ nghiêm trì thì được phước, vi phạm thì
mang họa.
Như
trên đã giải thích danh từ Ba La Ðề Mộc Xoa là Biệt Biệt
Giải Thoát, cũng có thể dịch là Bảo Giải Thoát. Nghĩa là
người thọ trì giới pháp này, nếu theo đúng pháp, giữ gìn
không hề vi phạm, nếu là hành giả Thanh Văn thừa, thì Như
Lai bảo đảm, chứng chắc người ấy quyết định được
quả giải thoát tất cả vô minh, phiền não v.v... được chứng
Pháp Thân thanh tịnh, đạt đến quả vị như Phật.
Căn
cứ vào ý nghĩa trên đây, chúng ta có thể nói như vầy: “Lúc
tu nhân, giữ gìn tịnh giới nghiêm cẩn, đạt đến chỗ chứng
quả Pháp Thân thanh tịnh nên gọi là Ba La Ðề Mộc Xoa”.
Tính chất trọng yếu của Ba La Ðề Mộc Xoa, từ những thuyết
minh trên, có thể nói, đã được biểu thị một cách minh
bạch.
Trong
kinh Phạm Võng này giảng mười giới trọng căn bản gọi
là Thập Ba La Ðề Mộc Xoa.
Trong
Luận Du Già Bồ Tát Giới giảng bốn giới trọng căn bản,
gọi là Tứ Ba La Ðề Mộc Xoa.
Kinh
Ưu Bà Tắc giảng sáu giới trọng căn bản, gọi là Lục Ba
La Ðề Mộc Xoa.
Trong
kinh Thiện Giới giảng tám giới căn bổn thì gọi là Bát
Ba La Ðề Mộc Xoa...
Như
thế, các kinh giảng giới trọng căn bổn, nhiều ít không
đồng đều. Mười Ba La Ðề Mộc Xoa, Ðức Phật đã giảng,
là phép tắc thành Phật của chúng sanh, nên tất cả chúng
sanh trong ba đời đều phải đảnh đới thọ trì.
Hai
chữ “đảnh đới” nghĩa là đầu đội (bản Việt văn
dịch là kính trọng thọ trì).
Dùng
“đầu đội” ý muốn nói sự tôn trọng đến cực điểm,
như đem những vật quý báu đội lên đầu, không dám tùy
tiện sơ suất, không dám xem nhẹ mảy may và cũng không dám
có tâm khinh thường.
Hai
chữ “thọ trì” là ý nghĩa lãnh thọ, chấp trì, biểu thị
tinh thần đối với giới pháp, từng giờ, từng phút dùng
tâm thể hội, như giữ gìn cẩn thận những vật mình yêu
tiếc, không một giây phút buông bỏ, xa lìa hoặc quên lãng.
Chỉ
có thái độ tinh thần và đầu đội tuân giữ đối với
giới pháp như thế mới mong tránh khỏi sự sai phạm giới
luật.
Ðầu
đội, vâng giữ giới pháp thành Phật này, không chỉ riêng
một chúng sanh nào cần phải thực hành mà tất cả chúng
sanh đều phải thực hành. Không phải chỉ riêng đời hiện
tại, mà cả đến đời quá khứ, vị lai, tất cả chúng sanh
đều phải thực hành đúng theo như thế.
Tóm
lại:
Tất
cả chúng sanh đều phải hết lòng tôn trọng giới pháp này.
Trừ phi những chúng sanh nào không muốn được giải thoát
và thành Phật. Trái lại, nếu muốn được giải thoát và
thành Phật thì cần phải trân trọng tôn kính Ba La Ðề Mộc
Xoa.
Nếu
đối với Ba La Ðề Mộc Xoa này hơi có chút xem thường, hủy
phạm, phá hoại mà muốn thành Vô Thượng Phật Quả thì hoàn
toàn vô vọng. Tính chất trọng yếu của giới pháp chúng
ta đã có thể thấy rõ nơi đây, nên tôi (pháp sư giảng kinh)
hy vọng mỗi hành giả đang tu học Phật pháp, đối với giới
pháp thành Phật này, phải đúng theo pháp mà đảnh đới thọ
trì (đầu đội vâng giữ).
Ðức
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật xuất hiện trong nhân gian vì muốn
cho chúng sanh biết rõ trọng yếu tính của giới pháp này,
nên Ngài vì đại chúng đương thời giảng lại Thập Vô Tận
Tạng Giới Phẩm (câu này bản Việt văn dịch là “Ðức
Phật vì trong đại chúng này mà giảng lại giới phẩm Vô
Tận Tạng).
Hai
chữ “đại chúng” trong kinh văn đoạn này, chỉ cho hàng
tứ chúng hiện tiền có thể bẩm thọ giới pháp, cùng với
chúng thiên, long, bát bộ quỷ thần v.v... Nhân vì giới pháp
này, bất luận người nào, chúng sanh nào chỉ cần hiểu được
lời giảng của Pháp Sư truyền giới thì đều có thể bẩm
thọ.
Hai
chữ “trùng thuyết” trong câu “trùng thuyết Vô Tận Tạng
Giới Phẩm” (giảng lại giới phẩm Vô Tận Tạng), chứng
tỏ trước đã giảng qua, hiện tại giảng lại lần nữa,
hoàn toàn không có ý nào mới lạ, cho nên gọi là “trùng
thuyết”. Hoặc trước kia, Ðức Phật Lô Xá Na ở thiên cung
vì chư Bồ Tát và chư thiên nhân đã giảng qua 10 Ba La Ðề
Mộc Xoa này. Giờ đây, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật vì chúng
sanh trong cõi nhơn gian đây giảng lại 10 giới phẩm Vô Tận
Tạng.
Có
người cho: Ðem trọng yếu tính của giới pháp để giảng
nói, chỉ dạy cho mọi người một lần là đủ rồi, sao lại
phải giảng nói lại lần nữa?
Nên
biết: Giới là nền tảng thành Phật. Trong kinh Hoa Nghiêm dạy:
“Giới vi Vô Thượng Bồ Ðề bổn” (giới pháp là căn bổn
để thành tựu Vô Thượng Bồ Ðề). Vì thế, tuy đã nói
một lần rồi, phải nói lại lần nữa, mà không cảm thấy
nhàm chán, phiền nhọc để cho chúng sanh đối với giới pháp
này luôn đề cao cảnh giác, đem giới pháp này ghi nhớ trong
não hải, không được quên lãng.
Khi
Ðức Phật còn tại thế, Ngài vì chúng đệ tử xuất gia
và tại gia cùng chế định nguyên tắc nửa tháng tụng giới
một lần. Chính Ðức Phật cứ mỗi nửa tháng, Ngài cũng
tự tụng giới, đây là ý nghĩa Trùng Thuyết.
Ðức
Ðạo Tuyên Luật Sư, sơ tổ của Luật Tông Trung Hoa, cứ mỗi
nửa tháng, vì đại chúng công khai tụng với chúng một lần;
riêng cá nhân, Tổ lại tụng đến 10 lần. Ðây đều là biểu
thị ý nghĩa chư Phật Như Lai, chư Ðại Bồ Tát tôn trọng
kính cẩn đối với giới pháp chưa đủ, lại còn phải tụng
nhiều lần cho thuần thục điều văn của mỗi giới.
Nếu
không nằm lòng giới điều thì sẽ không biết thế nào là
Trì, thế nào là Phạm, có khi phạm giới vẫn không biết,
lại tự cho mình là trì giới, thật nguy hiểm biết dường
nào!
Nếu
như thường tụng giới, thường giảng giới thì đối với
việc trì phạm, ghi nhớ rõ ràng, biết việc nào không nên
làm, nếu làm thì phạm giới. Nhờ thế, nhất cử, nhất động
của chúng ta đều có sự lưu ý giữ gìn, nên không đến
nỗi xảy ra những việc vi phạm giới luật.
Ðức
Phật trước vì chúng sanh giảng nói mười Ba La Ðề Mộc
Xoa, rồi từ 10 Ba La Ðề Mộc Xoa diễn rộng ra thành 48 giới
khinh. Lại từ 48 giới khinh khai triển ra thành ba ngàn oai nghi,
tám muôn tế hạnh. Rốt sau, đối với giới Bồ Tát diễn
thành vô cùng vô tận; cho nên gọi là Vô Tận Tạng Giới.
Như
trên đã thuyết minh, bất luận giới pháp Phật tánh hay Quang
Minh Kim Cương Bửu Giới này mà Ðức Phật Lô Xá Na thường
trì tụng trong thời kỳ tu nhân là chỉ có một giới này
duy nhất.
Tại
sao hiện tại gọi là Vô Tận Giới?
Tâm
Ðịa diệu giới, thật tế mà nói, chỉ là một giới mà
thôi. Nhưng vì do tâm niệm của chúng sanh vô tận nên giới
pháp này cũng thành ra vô tận.
Trong
kinh Anh Lạc thuyết minh: “Giới pháp của tất cả phàm, thánh
đều lấy tâm làm thể. Tâm nếu như có chỗ cùng tận thì
giới pháp cũng có chỗ tận cùng; nhưng vì tâm không cùng
tận nên giới pháp cũng không cùng tận”.
Cho
nên Vô Tận Tạng Giới vốn là do tâm thể vô tận mà sinh
ra. Giới pháp của Bồ Tát dù có nhiều đến vô cùng, vô
tận như vậy, nhưng đều không lìa bản thể của tự tâm.
Vì thế nên gọi là một giới.
Tâm
Ðịa diệu giới bản thể của nó vốn là nhất vị bình
đẳng, không thể nói có nhiều thứ sai khác. Nhưng ở trước
sở dĩ nói Vô Tận Giới Tạng, chẳng qua vì nhắm vào sự
sai biệt của giới tướng. Nếu như căn cứ vào giới thể
mà nói thì vẫn là một chớ không phải nhiều.
Ðức
Phật giảng Vô Tận Tạng Giới vì ngại rằng chúng sanh căn
cứ vào giới tướng mà sanh vọng tưởng chấp trước, rồi
đối với Giới Thể Bổn Hữu lại quên mất. Cho nên bấy
giờ lại phải đem giới tướng vô tận quy nạp về giới
thể bổn hữu; nhưng giới thể này không phải từ bên ngoài
mà đến, cũng không phải do người nào cấp cho, mà chính
là giới pháp Phật tánh sẵn đủ của tất cả chúng sanh.
Phật
tánh này là bổn nguyên tự tánh thanh tịnh. Từ nơi giới
pháp này, chúng sanh cùng Phật đồng nguyên gốc. Phật tánh
tự nó từ xưa nay thanh tịnh. Chỉ có điểm bất đồng là
ở chỗ chư Phật đã trở lại bổn nguyên, khôi phục được
tự tánh thanh tịnh ấy, còn phàm phu chúng ta vì chưa trở
về bổn nguyên, nên cần phải bẩm thọ giới pháp mới khôi
phục được tự tánh thanh tịnh của mình. Dù chưa khôi phục
được tự tánh thanh tịnh, dù mãi còn trôi lăn trong biển
sanh tử, nhưng nếu suy tìm đến tận nguồn gốc thì tự tánh
vẫn là thanh tịnh, từ trước đến nay chưa từng bị nhiễm
ô.
Ở
đây một vấn đề đặt ra là tại sao giới pháp Phật tánh
sẵn đủ của chúng sanh, nếu vốn đã là bổn nguyên thanh
tịnh, sao lại còn phải bẩm thọ Vô Tận Tạng Giới?
Ðối
với điểm này, Phật đã dạy rõ: “Như Lai nói Vô Tận Tạng
Giới là phương tiện của Như Lai, người bẩm thọ Vô Tận
Tạng Giới là phương tiện của người bẩm thọ”.
Như
vậy, Phật tánh vẫn là căn bổn của giới pháp, là tự tánh
thanh tịnh vốn sẵn có từ xưa đến nay của chúng sanh, lấy
giới pháp Phật tánh làm thể sở y. Hành giả sở dĩ cần
phải bẩm thọ giới pháp, mục tiêu duy nhất là vì khôi phục
bổn nguyên tự tánh thanh tịnh.
Nếu
như không bẩm thọ giới pháp thì không làm sao có thể khôi
phục bổn nguyên tự tánh thanh tịnh. Cũng vì lý do ấy, Ðức
Phật đã vì chúng sanh giảng nói Vô Tận Giới Tạng. Thế
thì thuyết giả hay thọ giả đều là tối yếu, nếu không
thì không thể khôi phục bổn nguyên tự tánh thanh tịnh.
A.4.1.4.
TỤNG TIỀN KHỞI HẬU (tụng phần trước, khởi phát phần
sau)
A.4.1.4.1.
XÁ NA THỈ THỌ (Ðức Phật Xá Na bắt đầu thuyết trao giới
pháp)
Kinh
văn
1.
Phiên âm
Từ
câu “ngã kim Lô Xá Na...” cho đến câu “...cam lộ tức
khai”.
2.
Dịch nghĩa
Nay
ta là Lô Xá Na
Ðang
ngự trị trên đài Liên Hoa
Trên
nghìn cánh sen đơm vòng
Lại
hiện ra nghìn đức Thích Ca
Mỗi
cánh sen trăm ức cõi,
Ðều
ngồi dưới cội Bồ Ðề
Ðồng
thời thành Chánh Giác đạo,
Nghìn
trăm ức Phật cũng vậy.
Lô
Xá Na là bổn thân,
Nghìn
trăm ức Phật Thích Ca
Ðều
đem theo vi trần chúng.
Cùng
nhau đến tại chỗ Ta.
Ðể
nghe Ta tụng Phật giới,
Ta
liền giảng môn cam lộ...
Lời
giảng:
Ở
phần trên là lối văn trường hàng, từ đây trở về sau
là lối văn trùng tụng. Trong mười lăm câu kệ trên, câu
đầu tiên nói rõ Phật Lô Xá Na bắt đầu truyền trao Quang
Minh Kim Cương Bửu Giới.
Trong
kinh thường nói Phật có ba thân: Pháp thân, Báo thân và Ứng
thân. Theo như tông Thiên Thai thì:
-
Ðức Tỳ Lô Xá Na là biểu tượng cho Pháp thân Phật.
-
Ðức Lô Xá Na là biểu tượng cho Báo thân Phật.
-
Ðức Thích Ca Mâu Ni là biểu tượng cho Ứng thân Phật.
Nhưng
theo kinh Hoa Nghiêm giảng thì:
-
Ðức Tỳ Lô Xá Na chính là đức Lô Xá Na, và ngược lại.
Hai thân ấy chỉ là một mà thôi, không nên phân biệt. Kinh
Hoa Nghiêm do đức Lô Xá Na Phật tuyên thuyết bởi vì đức
Lô Xá Na chính là đức Tỳ Lô Xá Na.
Cho
nên bộ Hoa Nghiêm bổn dịch ở triều Tấn, gồm sáu mươi
quyển, để là Ðức Phật Lô Xá Na; trong khi cũng bộ Hoa Nghiêm
nhưng bổn dịch ở triều Ðường gồm tám mươi quyển thì
để là đức Tỳ Lô Xá Na.
Lô
Xá Na là tiếng Ấn Ðộ, Trung Quốc dịch là Tịnh Mãn.
-
Chữ Tịnh ý muốn nói sự tu hành khi đạt đến quả vị
Phật thì bao nhiêu tội ác và các thứ hư vọng đều diệt
trừ hết sạch, không còn một sợi tơ hay mảy lông, cho nên
gọi là Tịnh.
-
Chữ Mãn có nghĩa là khi sự tu hành đã đạt đến quả vị
Phật thì bao nhiêu thiện pháp, vô lượng vô biên công đức
đều đã tu tập, đã viên mãn tất cả, không còn thiếu sót
cả đến sợi tơ, mảy lông, nên gọi là Mãn.
Nói
một cách đơn giản hơn, tất cả mọi nhiễm pháp đều đoạn
dứt không còn thừa, tất cả tịnh pháp đều viên mãn trang
nghiêm, không thiếu. Ðấy gọi là Lô Xá Na Phật.
Có
nơi gọi là Quang Minh Biến Chiếu; danh từ này vốn dịch từ
đức hiệu Tỳ Lô Xá Na. Bởi vì tông Hoa Nghiêm xem Lô Xá
Na và Tỳ Lô Xá Na là một. Vì vậy, cũng dịch đức hiệu
Lô Xá Na là Quang Minh Biến Chiếu.
Thông
thường trong kinh giải thích danh từ Quang Minh Biến Chiếu
như sau: “Nội trí dĩ quang, chiếu chơn pháp giới. Ngoại
dĩ thân quang chiếu ứng đại cơ” (Bên trong dùng Trí quang
chiếu chơn pháp giới; bên ngoài dùng thân quang chiếu ứng
đại cơ - đại cơ là chỉ cho Ðại Bồ Tát).
Chư
cổ đức cũng nói: “Ðức hiệu Tịnh Mãn là ý chỉ sự
tự thọ dụng thân mà đặt tên; đức hiệu Quang Minh Biến
Chiếu là ý chỉ sự tha thọ dụng thân mà đặt”.
Dù
có sự sai khác nhưng tự thọ dụng thân hay tha thọ dụng
thân đều chỉ cho báo thân của Phật.
-
Tự thọ dụng báo thân là chỉ cho quả vị cứu cánh, chư
Phật đã chứng đắc Trí đức và Ðoạn đức.
-
Tha thọ dụng báo thân tức chỉ sát trần tướng hảo (tướng
tốt của báo thân rất nhiều, không thể tính kể, dường
như vi trần của sát độ nên gọi là “sát trần tướng
hảo”).
Hàng
Ðịa Thượng Bồ Tát tùy theo tâm lượng của các Ngài mà
trông thấy vì mỗi mỗi tướng tốt đều không có chừng
ngằn, hạn lượng.
Câu
“ngã kim Lô Xá Na” (nay ta là Lô Xá Na), tức chánh báo của
Phật.
Câu
“phương tọa Liên Hoa đài tạng” (đang ngồi trên đài Liên
Hoa) chỉ cho bổn độ của Ðức Phật Lô Xá Na, cũng tức
là y báo của Phật.
Chữ
“ngã” trong câu “ngã kim Lô Xá Na” là chữ đức Lô Xá
Na tự xưng mình, có nghĩa là Ta hoặc Tôi.
Nhưng
Ðức Phật Lô Xá Na cũng là bậc đã chứng quả vị, tuyệt
đối phá trừ tất cả cái Ngã, hoàn toàn không còn chấp
ngã. Vì nếu còn chấp ngã thì chưa thể thành Phật. Vì vậy,
chữ Ngã dùng ở đây không phải là cái Thật Ngã của hạng
phàm phu vọng chấp, cũng không phải là Thần Ngã của ngoại
đạo vọng chấp là có thật, mà chỉ thuận theo Thế Ðế
giả danh mà gọi là Ngã, cũng gọi là Vô Sanh Ngã, “ngã”
trong Vô Ngã. Không nên xem chữ Ngã ở đây là Thật Ngã của
phàm phu hay Thần Ngã của ngoại đạo.
Chữ
“kim” nghĩa là hiện tại, dùng chỉ thời gian Ðức Phật
đang thuyết giới, không thuộc về quá khứ hay vị lai, mà
chính là ở ngay lúc hiện tại đương thời. Trong lúc đức
Lô Xá Na thuyết giới, Ngài ngự ở đâu?
Chính
ngay trên đài Liên Hoa. Theo nhãn quang của chúng sanh quan sát
thì thấy Chánh Báo là Chánh Báo, Y Báo là Y Báo. Hai thực
thể này cách biệt không thể dung thông thành một, nhưng với
Phật nhãn thì chân Chánh Báo là Y Báo, Y Báo là Chánh Báo,
cả hai dung thông lẫn nhau. Căn thân cùng quốc độ xưa nay
không phải là hai, và vốn không thể phân chia, sai biệt.
Chữ
“phương” trong câu “phương tọa Liên Hoa đài” có hai
nghĩa:
1.
Chỉ cho thời gian sắp ngự nhưng chưa ngự, vì đức Lô Xá
Na sắp vì chúng sanh truyền trao Quang Minh Kim Cương Bửu Giới,
tất nhiên trước tiên, Ngài chuẩn bị đến ngồi trên Liên
Hoa đài.
2.
Nói rõ thời gian đã ngồi, nghĩa là Ðức Phật sắp truyền
trao Quang Minh Kim Cương Bửu Giới nên đã an tọa trên Liên
Hoa Ðài.
Liên
Hoa là hình tượng của Hoa Tạng thế giới giống như hoa sen.
Chữ
Ðài nghĩa là cao hiển, như thông thường gọi là cái đài
cao. Ðây biểu thị tâm địa diệu giới của Ðức Phật Lô
Xá Na sắp tuyên thuyết. Trên thế gian này, không có một pháp
nào có thể sánh kịp, không pháp nào có thể trên Tâm Ðịa
diệu giới; không một pháp nào vượt qua Tâm Ðịa diệu giới.
Trong giới Thanh Văn có hai câu tụng:
Nhứt
thiết chúng luật trung,
Giới
kinh vi tối thượng.
Dịch:
Trong
tất cả luật giới
Giới
kinh là trên hết.
Hơn
nữa, chữ Ðài là ở chính giữa, có thể hàm nhiếp mười
phương, biểu thị đức Lô Xá Na là chủ trong ngàn Ðức Phật
và Tâm Ðịa diệu giới là căn bản của các giới. Ðức
Phật Lô Xá Na ngồi trên đài Liên Hoa, thân của Ngài cùng
với đài Liên Hoa tương xứng vừa vặn, không lớn, không
nhỏ, tức biểu thị nghĩa mầu viên dung của y báo và chánh
báo trùng trùng, thân và độ (cõi nước) không có hai.
Cũng
có thể nói: tâm tánh của chúng sanh ở cõi này chính là một
hoa sen đẹp, không những ở nơi bùn không dính bùn mà còn
mang ý nghĩa nhân quả đồng thời. Chính vì tâm tánh của
chúng sanh ở thế giới này là một đóa sen đẹp, nên thế
giới Hoa Tạng giống như đóa hoa sen. Thế giới nương nơi
tâm tánh của chúng sanh mà hiển hiện, và cũng y theo tâm tánh
của chúng mà an trụ, cho nên nói: “Phương tọa Liên Hoa đài”.
Hoa
sen có những điểm đặc sắc:
-
Ở nơi bùn mà không nhiễm bùn, vẫn luôn giữ được bản
chất tinh khiết, thường hằng vĩnh viễn. Ðây là biểu thị
tâm địa bất biến của giới thể. Lúc ở địa vị phàm
phu, xem ra dường như bị ô nhiễm, nhưng thực tế không có
tướng cấu nhiễm. Lúc ở địa vị Thánh Nhân, trông thấy
dường như thanh tịnh, nhưng thực tế không có tướng thanh
tịnh.
Cổ
đức có câu: “Xử sanh tử lưu, ly châu độc diệu ư thương
hải. Cư Niết Bàn ngạn, quải luân cô lãng ư bích thiên”
(Trong dòng sanh tử, ly châu riêng chiếu nơi biển cả. Ở bờ
Niết Bàn, trăng sáng soi riêng trên trời xanh).
Hai
câu “ly châu độc diệu ư thương hải; quải luân cô lãng
ư bích thiên” tượng trưng Tâm Ðịa diệu giới như như
bất biến, ở thánh bất tăng, ở phàm bất giảm. Ở thánh
không có tướng thanh tịnh, ở phàm không có tướng ô nhiễm.
Giống như hoa sen “cư trần bất nhễm trần”, cũng như hạt
ngọc dưới cổ con Ly long luôn soi sáng trong biển cả, cũng
như vầng minh nguyệt lơ lửng luôn soi sáng nơi trời xanh.
-
Hoa sen khi lên khỏi mặt nước thì hết sức trong sạch thơm
tho. Trong kinh Phật thuyết A Di Ðà nói: “Vi diệu hương khiết”
là chỉ cho nghĩa này.
Dùng
hai đặc tính hoa sen kể trên để biểu thị cho Tâm Ðịa
giới thể trước cũng như sau luôn tinh khiết, trong sạch,
thơm tho, bát ngát, không bị bất cứ sự huân nhiễm nào của
ác pháp mà bị biến đổi.
Hoa
sen lại còn đặc tính nở búp, biểu thị ý nghĩa đức Lô
Xá Na Phật khai thật Nhất Thừa Tâm Ðịa giới pháp, diễn
nói bằng cách dùng Quyền thừa phân ra mười giới trọng
và bốn mươi tám giới khinh. Ðến rốt sau, Ngài lại đem
Quyền (mười giới trọng, bốn mươi tám giới khinh) hội
quy về Thực (bổn nguyên tự tánh thanh tịnh tâm địa giới
thể duy nhất).
Hai
câu:
Châu
tráp thiên hoa thượng,
Phục
hiện thiên Thích Ca
Dịch:
Trên
ngàn cánh sen đơm vòng
Lại
hiện ra ngàn Thích Ca.
Hai
chữ “châu tráp” là vây quanh thành vòng tròn. Chữ “hoa”
trong hai chữ “thiên hoa” thông thường gọi là “biện hoa”
(biện: cánh), vì hoa sen có nhiều cánh, nói cánh hoa nhưng chủ
ý là chỉ cho toàn bộ đóa hoa (đây chỉ là cách nói hoán
dụ).
Hoa
sen ở nhân gian lớn nhất chỉ mấy mươi cánh là cùng, nhưng
hoa sen ở thiên giới so sánh với hoa sen ở nhân gian thì lớn
hơn nhiều, có đến hơn trăm cánh. Hoa sen của chư Phật, Bồ
Tát ngồi lại lớn hơn hoa sen ở thiên giới. Mỗi đóa hoa
có ngàn cánh, như vậy, trong ngàn cánh hoa đơm vòng này lại
hiện ra ngàn Phật Thích Ca.
Hai
chữ “phục hiện” ở câu “phục hiện thiên Thích Ca”
có sự liên hệ tương tục:
-
“Châu tráp thiên hoa thượng” và “phương tọa liên hoa
đài” hai câu này chỉ về y báo.
-
“Phục hiện thiên Thích Ca” và câu “ngã kim Lô Xá Na”,
hai câu ấy thuộc về chánh báo.
Trước
tiên, trông thấy ngàn cánh hoa (y báo), sau trông thấy ngàn
Phật Thích Ca ở trên ngàn cánh hoa hiện ra, cho nên dùng chữ
“phục hiện”. Như thế nếu phân tích thì thấy trên một
cánh hoa sen có một Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni, trên ngàn cánh
hoa sen tức nhiên có ngàn đức Thích Ca Mâu Ni.
Như
phần trước đã giải, Thích Ca tiêu biểu cho ứng thân Phật,
tùy theo cơ cảm của chúng sanh mà thị hiện. Trong kinh đôi
lúc chia làm 2 loại: ứng thân và hóa thân.
-
Ứng thân chính là ngàn Ðức Phật.
-
Hóa thân là chỉ cho trăm ngàn ức Phật Thích Ca.
Sở
dĩ như thế là vì không có một thân nào của Phật thị hiện
mà không phải vì một sự kiện duy nhất: hóa độ các loại
chúng sanh bất đồng.
Ngàn
Phật Thích Ca ngồi trên ngàn cánh sen, chúng ta đã cảm thấy
rất nhiều Phật. Thế nhưng tiếp theo trên mỗi cánh sen lại
có trăm ức quốc độ, và trong mỗi quốc độ lại có một
đức Thích Ca đi du hành giáo hóa (Trong bản Việt văn, dùng
hai câu sau đây để phiên nghĩa: “Mỗi cánh sen trăm ức cõi,
mỗi cõi một Phật Thích Ca”).
Trong
mỗi quốc độ, mỗi quốc độ có một Phật Thích Ca, trăm
ức quốc độ trăm ức Ðức Phật Thích Ca. Ngàn cánh sen có
trăm ngàn ức quốc độ, như vậy sẽ có đến trăm ngàn ức
Ðức Phật Thích Ca.
-
Về mặt không gian, chúng ta thấy số quốc độ có đến trăm
ngàn ức như vậy, lẽ đương nhiên giữa các quốc độ đều
có vô lượng sự khác biệt nhau. Trong trăm ngàn ức quốc
độ sai khác vô lượng vô biên ấy, có trăm ngàn ức Phật
Thích Ca, tính như vậy thì biết là rất nhiều.
-
Về phương diện thời gian, Phật Thích Ca tuy nhiều như vậy,
nhưng đó chỉ là những ứng thân và hóa thân của Ngài, cho
nên sự thành Phật của trăm ngàn ức Ðức Phật Thích Ca
không có sự sai biệt khác nhau về thời gian. Và chính vì
sự không có sự sai khác bất đồng về vấn đề thời gian,
cho nên ngàn Ðức Phật Thích Ca đều ngồi dưới cội Bồ
Ðề, cùng trong một lúc hoàn thành Phật đạo.
Cho
đến trăm ngàn Phật Thích Ca cũng đều đồng ở trong một
thời gian chứng đắc Vô Thượng Bồ Ðề. Ðoạn chú thích
này để giải thích hai câu kinh tụng trong bản Việt văn:
“Ðều ngồi dưới gốc cội Bồ Ðề, đồng thời Chánh
Giác đạo”. Ý nói ứng thân và hóa thân Phật ở trong trăm
ngàn ức quốc độ thị hiện thành Phật và thuyết pháp độ
sanh, tuyệt đối không có vấn đề phân biệt trước sau.
Tại
sao vậy?
Vì
mục đích duy nhất của ứng thân và hóa thân Phật là vì
độ những chúng sanh hữu duyên nên thị hiện hai hình tướng
ấy. Nhưng cơ duyên của các chúng sanh trong quốc độ nào
đã thuần thục cần hóa độ thì ở trong quốc độ ấy thị
hiện thành Phật để hóa độ.
Nếu
như khi chúng sanh trong trăm nghìn ức quốc độ, nhân duyên
hóa độ đã thuần thục, lúc bấy giờ đức Thích Ca Mâu
Ni Phật xem việc hóa độ chúng sanh là trách nhiệm của Ngài,
nên đương nhiên trong trăm nghìn ức quốc độ khác nhau đó,
đồng trong một lúc, Ngài thị hiện thành Phật đạo để
hóa độ.
Ðức
Phật bao giờ cũng tùy cơ duyên của chúng sanh mà phó cảm,
không bao giờ để mất thời cơ. Như thủy triều trong biển
cả, lúc lên, lúc xuống đều có thời gian nhất định không
sai chạy, đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật trong nghìn trăm
quốc độ thị hiện thành Phật cũng lại như thế.
Ngoài
ra, sự kiện từ nơi Phật Lô Xá Na thị hiện ngàn Phật Thích
Ca hay ngàn trăm ức Phật Thích Ca chính là từ Thể mà khởi
ra Dụng.
Nếu
như hỏi ngàn trăm ức Phật Thích Ca từ đâu mà có?
Lẽ
đương nhiên là từ bổn thân của Phật Lô Xá Na thị hiện
mà có. Như vậy, trăm ngàn ức Phật Thích Ca vốn phát xuất
từ chính Ðức Phật Lô Xá Na. Ðó chính là quy trình thu nhiếp
Dụng trở về Bổn. Ðoạn này dùng để giải thích hai câu
kệ trong bổn Việt dịch:
Nghìn
trăm ức Phật như vậy,
Lô
Xá Na là bổn thân.
Đem
sự biến Dụng (nghìn trăm ức Phật Thích Ca) thu nhiếp lại
để quy nạp về Căn Bổn (Phật Lô Xá Na), vì ngàn trăm ức
Phật Thích Ca thuộc về thân “sở hóa hiện” (đối lập
với năng hóa hiện) của ngàn Phật Thích Ca. Suy luận ngược
lại thì ngàn Phật Thích Ca đương nhiên chính là bổn thân
của ngàn trăm ức Phật Thích Ca. Tương tự, ngàn Phật Thích
Ca là thân sở hóa hiện của Phật Lô Xá Na. Như vậy, đương
nhiên Phật Lô Xá Na là bổn thân của ngàn Phật Thích Ca.
Cho
nên Dụng dù có đến nghìn, trăm, ức như vậy, nhưng Thể
thực ra chỉ là một mà thôi. Nên bộ Phát Ẩn giải thích
hai câu kệ này như sau: “Phật Lô Xá Na là Bổn, ngàn Phật
Thích Ca là Tích. Ngàn Phật Thích Ca là Bổn, trăm ức Phật
Thích Ca là Tích. Bổn Phật hay Tích Phật không phân trước
sau, đồng thành Phật một lúc. Ðây chính là tượng trưng
cho Thể và Dụng vốn không hai vậy”.
Về
mặt danh từ, dù phân chia ra Bổn và Tích, nhưng đừng sinh
ý tưởng là có hai. Vì ngàn trăm ức Phật Thích Ca tức là
một thân của Ðức Phật Lô Xá Na mà thôi.
Nói
thí dụ cho dễ hiểu: Ảnh tượng của vầng minh nguyệt hiện
khắp trăm ngàn ức sông hồ, nhưng ngước nhìn lên không trung
chỉ thấy một vầng minh nguyệt duy nhất. Lại như nghìn trăm
ức người đồng dùng miệng truyền âm thanh; âm thanh từ
mỗi người tuy có sai khác, nhưng tiếng vang ở hang trống
không thể phân biệt. Ứng thân và hóa thân Phật vô cùng
vô tận, nhưng về Pháp Thân chỉ có một và bất di bất dịch
như vậy.
Phật
Thích Ca phân thân ở nghìn trăm ức quốc độ, đương nhiên
phải có chúng sanh được hóa độ nhiều như vi trần trong
những quốc độ ấy. Lúc bấy giờ, Phật Thích Ca đem vi trần
chúng sanh được giáo hóa ấy, từ các quốc độ đến thế
giới Liên Hoa Ðài Tạng. Một Phật Thích Ca dẫn dắt vi trần
chúng sanh, ngàn trăm ức Phật Thích Ca đem theo ngàn trăm ức
vi trần chúng sanh. Cho nên nói: “Các tiếp vi trần chúng”
(đều đem theo vi trần chúng). Danh từ “vi trần” có nghĩa
là hạt bụi nhỏ, dùng để chỉ con số nhiều đến mức
không thể ước lượng được, cũng ví như những hạt bụi
nhỏ, không thể nào đếm được.
Kinh
Phạm Võng quyển Thượng thuyết minh: “Bấy giờ Ðức Phật
Thích Ca liền kình tiếp đại chúng trong thế giới này đến
cung Bách Vạn Ức Tử Kim Cang Quang Minh ở thế giới Liên Hoa
Ðài Tạng, để ra mắt Ðức Phật Lô Xá Na, Ngài đang ngự
trên bửu tòa trăm ngàn ức cánh sen sáng suốt rực rỡ”.
Văn
tụng ở phần này dùng chữ “tiếp”, nhưng trong phần văn
trường hàng thì lại dùng chữ “kình tiếp”.
-
Trong kinh Duy Ma Cật nói: “Thủ kình đại thiên”.
-
Kinh Pháp Hoa nói: “Thần thông tiếp chúng”.
Kinh
Duy Ma Cật ở phẩm Kiến A Súc Phật, phẩm 12, giải thích:
“Sở dĩ dùng từ ‘thủ kình đại thiên’ nhân vì đại
chúng trong pháp hội lúc Phật nói kinh Duy Ma Cật đều sanh
tâm khát ngưỡng, muốn được thấy thếu giới Diệu Hỷ
và đức Vô Ðộng Như Lai, cùng với chúng Bồ Tát, Thanh Văn,
của thế giới ấy. Vì vậy, Ðức Phật bảo Bồ Tát Duy Ma
Cật tiếp lấy thế giới Diệu Hỷ cùng với chúng Bồ Tát,
Thanh Văn... đem đến cõi Ta Bà cho đại chúng được xem thấy”.
Ðức
Duy Ma Cật Bồ Tát phụng mệnh Ðức Phật, hiện thần thông,
dùng tay hữu tiếp lấy thế giới Diệu Hỷ và đức Bất
Ðộng Như Lai cùng với chúng Bồ Tát, Thanh Văn... đem đến
thế giới Ta Bà cho đại chúng được trông thấy. Bồ Tát
tiếp lấy thế giới Diệu Hỷ về mặt y báo lẫn chánh báo
một cách dễ dàng như những người thợ gốm để đất vào
khuôn. Khi Bồ Tát đặt thế giới ấy trên tay đem về thế
giới Ta Bà này giống như Ngài để một tràng hoa trên tay
và đưa cho đại chúng xem.
Mặc
dù các từ ngữ không giống nhau, nhưng ý nghĩa giữa các kinh
vẫn tương đồng.
Ðức
Phật Thích Ca tiếp vi trần chúng sanh đến nơi nào?
Hiển
nhiên là đến Hoa Tạng thế giới của Phật Lô Xá Na cư trú
vậy. Ðoạn này giải thích câu “cùng nhau đến tại chỗ
Ta” trong bổn Việt dịch.
Hai
chữ “câu lai” (cùng đến) ý nói rằng chẳng những vi trần
chúng sanh được tiếp nhận đưa đi, mà chính nghìn trăm ức
Phật Thích Ca cũng đồng đi đến nơi đức Lô Xá Na Phật.
Khi đến nơi, việc đầu tiên là ngàn, trăm, ức Phật Thích
Ca (người đưa đại chúng: năng tiếp) và vi trần chúng sanh
(những kẻ được đưa đến: sở tiếp), đồng kính lễ đức
Lô Xá Na Phật. Sau khi kính lễ xong, tất cả đều nghe Ðức
Phật Lô Xá Na đích thân tụng Tâm Ðịa đại giới của chư
Phật. Ðây cũng chính là giới pháp Ngài hằng trì tụng. Giới
pháp này gọi là Quang Minh Kim Cương Bửu Giới.
Một
điểm cần lưu ý là tại sao ở đây dùng từ “tụng giới”
mà không dùng từ “giảng giới” trong câu “để nghe ta
tụng giới?”
Nguyên
vì Tâm Ðịa pháp giới vốn do chư Phật đồng chứng đắc,
cùng nhau truyền thừa, bất luận chư Phật thời quá khứ,
hiện tại hay vị lai, chỗ sở chứng và truyền thừa đều
là Tâm Ðịa pháp giới này. Ngoài Tâm Ðịa pháp giới này
ra không còn một giới pháp nào khác.
Chư
Phật thời quá khứ đã tụng giới pháp như thế, hiện tại
Ðức Phật Lô Xá Na cũng đem giới pháp này vì đại chúng
tụng lại. Ðiều này chính là biểu thị ý nghĩa đây không
phải là lần đầu tiên Ðức Phật Lô Xá Na tụng “Tâm Ðịa
diệu giới” này.
Nếu
hỏi giới pháp này từ đâu mà có?
Có
thể trả lời một cách khẳng định rằng: Do chư Phật trong
đời quá khứ khởi tụng mà có.
Nếu
hỏi tấn thêm rằng: Chư Phật thời quá khứ vì sao đồng
tụng giới pháp này?
Có
thể không ngần ngại trả lời rằng: giới pháp này là giới
pháp Phật tánh sẵn có của tất cả chúng sanh và chư Phật.
Tức là chư Phật nhờ giới này mà thành Phật; chẳng qua
chư Phật đem Tâm Ðịa giới pháp sẵn đủ của mình khai
hiển ra, cho nên được thọ dụng giới pháp này. Còn chúng
sanh tuy vốn sẵn đủ giới pháp, nhưng vì phiền não bao vây,
che đậy, chưa có thể khai hiển được giới pháp, cho nên
không thọ dụng được giới pháp này mà thôi.
Ví
như hai người đều có vàng ngọc do tổ tiên chôn giấu dưới
đất. Một người biết khai quật lên nên được giàu có
hưởng thụ đầy đủ mọi khoái lạc. Một người không biết
khai quật lên nên phải đi làm thuê mướn khổ sở, hoặc
đến nỗi phải đi ăn xin, chẳng hạn. Ðó chính là vì không
biết tự mình có của báu nên phải chịu khổ sở như vậy.
Nếu
khi biết được, hoặc có người khác chỉ bảo cho, lấy của
báu lên được để tiêu dùng, thì được sung sướng như
người kia không khác.
Chư
Phật Như Lai chứng được Tâm Ðịa diệu giới này, biết
rõ nó không phải là vật sở hữu riêng của bất cứ ai,
mà là một pháp sẵn có, sẵn đủ của tất cả chúng sanh,
nên chư Phật sau khi thành Phật liền vì chúng sanh tụng ra
giới pháp này.
Chư
Phật quá khứ đã tụng trì như vậy, hôm nay Ðức Phật Lô
Xá Na cũng theo gương chư Phật quá khứ vì vi trần chúng sanh
do ngàn trăm ức Ðức Phật Thích Ca tiếp dắt đến, cũng
như trăm ngàn ức Ðức Phật Thích Ca mà tụng lại một biến.
Vì lý do ấy nên ở đây gọi là “tụng” mà không nói là
“giảng”.
Câu:
“Cam lộ môn tức khai” (ta liền giảng pháp môn cam lộ)
chủ ý nêu thí dụ và tán thán công đức này. Tương truyền
ở Trung Hoa ngày xưa có một thứ tiên đơn diệu dược trường
sanh bất lão. Ðã nói là “bất lão” đương nhiên sẽ bất
tử. Ở Ấn Ðộ vào thời xưa cũng tương truyền có vị thuốc
Cam Lộ giống như loại tiên đơn mà Trung Quốc gọi là “thuốc
bất tử”.
Có
thuyết cho rằng Cam Lộ là một thứ tinh khí của thần linh,
ngưng đặc lại giống như chất mỡ và ngon ngọt như kẹo
mạch nha, lại thêm tươi đẹp thanh khiết. Có nơi nói rằng:
Trên cõi Trời có một thứ thiên đơn gọi là Cam Lộ, nếu
ai ăn được vị Cam Lộ này thì thân tâm được thanh tịnh
và sẽ không già, không chết.
Do
nơi truyền thuyết trong nước Ấn Ðộ xưa kia có vị Cam Lộ,
nên khi Ðức Phật thuyết pháp thường dùng từ Cam Lộ để
ví cho Thật Tướng của các pháp, hoặc ví cho cảnh Niết
Bàn rốt ráo, hoặc ví cho giáo pháp của Ðức Phật đã thuyết
giảng. Trong kinh này dùng Cam Lộ để ví cho Tâm Ðịa Diệu
Giới.
Nếu
người nào bẩm thọ Tâm Ðịa diệu giới này sẽ được
thoát ly sự nhiệt não sanh tử trong tam giới, chứng đắc
cảnh Niết Bàn thanh tịnh tự tại. Cũng như bệnh nhân có
phước duyên được uống Cam Lộ diệu dược thì tất cả
bệnh tật tiêu trừ. Vì thế nên gọi là: “Cam lộ môn khai”
(cửa cam lộ liền mở).
Dù
rằng Phật tánh diệu giới là pháp sẵn đủ của tất ca
chúng sanh, nhưng do từ vô thỉ đến nay bị những thứ hoặc
nghiệp che đậy, chẳng khác nào những cánh cửa đã đóng
chặt, không cách gì mở ra được. Cho nên dẫu rằng có sẵn
nhưng chúng sanh vẫn không thể thọ dụng được thứ “cam
lộ” này. Chư Phật dùng Phật nhãn xem xét, thấy chúng sanh
sẵn có Cam Lộ mà không thọ dụng được, nên rất xót thương
và đau buồn. Cho nên lúc bấy giờ Ðức Phật Lô Xá Na vì
tất cả chúng sanh mà tụng Tâm Ðịa diệu giới, mà trước
đó chư Phật đã tụng.
Như
thế, có nghĩa là Ngài cũng như chư Phật đồng vì chúng sanh
mà mở toang cánh cửa Cam Lộ đã bị đóng bít từ lâu. Vì
tất cả chúng sanh nào được nghe và được thọ trì giới
pháp này chẳng khác nào người được uống vị Cam Lộ, thâm
tâm mát mẻ, tự tại, thoát ly khỏi sự nhiệt não trong sanh
tử luân hồi, chứng đắc cảnh Niết Bàn bất sanh bất diệt.
Vị
Cam Lộ được xem là diệu dược bất tử, nên dùng làm thức
ăn thì no lòng, dùng làm thức uống thì giải khát, dùng làm
thuốc uống thì có thể trị liệu bá bệnh. Chính do có ba
thứ đặc dụng kể trên, nên chư cổ đức đem Cam Lộ tượng
trung cho Tam Tụ Tịnh Giới của Ðại Thừa Bồ Tát.
Nếu
dùng Cam Lộ làm thức ăn thì chẳng những đỡ đói mà lại
vĩnh viễn no đủ. Ðây ví cho Nhiếp Thiện Pháp Giới, nghĩa
là nếu hành giả Bồ Tát nào có thể thọ trì Nhiếp Thiện
Pháp Giới một cách chân thực, thực hành tất cả các thiện
pháp tích cực thì các công đức pháp lành sẽ được sung
mãn nơi sanh mạng, như ăn Cam Lộ mà được no đủ.
Nếu
dùng Cam Lộ làm trà để uống, chẳng những có thể giải
khát lúc khí trời nóng bức mà lại vĩnh viễn không cảm
thấy khô miệng. Ðây là ví cho Nhiêu Ích Hữu Tình Giới,
nghĩa là: Nếu hành giả Bồ Tát thấy những chúng sanh cõi
thế gian bị các thứ khổ não bức ngặt, với tinh thần Nhiêu
Ích Hữu Tình, các Ngài liền hóa độ chúng sanh không giây
phút chậm trễ, cũng không quên lãng khiến cho chúng sanh trừ
hết nhiệt não, được trạng thái thanh lương, dường như
uống vị Cam Lộ mà được mát mẻ.
Nếu
dùng Cam Lộ như một thứ linh đơn diệu dược có công dụng
trị liệu bách bệnh, chỉ cần dùng một lần, tức khắc
mọi bệnh tật tiêu trừ, thân thể trở lại khang kiện, đây
ví cho Nhiếp Luật Nghi Giới. Nghĩa là nếu hành giả Bồ Tát
nào có thể nghiêm trì Nhiếp Luật Nghi Giới một cách chân
thành thì tự nhiên được đoạn dứt tất cả ác pháp và
không còn tạo tội.
Chúng
ta sở dĩ tạo ra các tội ác, đấy là những chứng bệnh,
do nơi không y theo Nhiếp Luật Nghi Giới mà phụng hành, để
đoạn trừ tất cả tội ác. Nếu nghiêm trì Nhiếp Luật Nghi
Giới, đoạn trừ tất cả tội ác, thì ví như bệnh nhân
được uống vị Cam Lộ, tất cả tật bệnh đều được
thuyên giảm lành mạnh. Vì thế, chính nơi một thí dụ Cam
Lộ này, hàm nhiếp Tam Tụ Tịnh Giới của Bồ Tát.
Ðại
môn Tam Tụ Tịnh Giới làm thế nào để có thể mở toang
ra được?
Ðiều
đó không có gì đặc biệt, diệu xảo cả. Chỉ cần được
nghe Ðức Phật Lô Xá Na tụng giới pháp mà chư Phật đã
thường trì tụng thì cánh cửa to lớn ấy tự nhiên mở rộng
ra. Do đây, chúng ta biết được rằng: Nếu không có Ðức
Phật Lô Xá Na đọc tụng giới pháp này, tất nhiên cánh cửa
cam lộ kia chắc chắn trường kỳ đóng bít. Tất cả chúng
sanh trên thế gian nếu chỉ nương vào sức lực của mình
thì không bao giờ có thể mở toang cửa ấy ra được. Chúng
ta biết rõ giới pháp này không phải ở ngoài mà là sẵn
có nơi nội tâm. Khi nghe Phật tụng giới, nếu y theo đó mà
phụng hành thì Tâm Ðịa diệu giới sẵn có sẽ được khai
phát. Ấy tức là mở toang cánh cửa cam lộ vậy.
