A.4.1.4.2.
THÍCH CA CHUYỂN THỌ (Phật Thích Ca truyền trao giới pháp)
Kinh
văn
1.
Phiên âm:
Từ
câu “thị thời thiên bách ức...” cho đến câu “...chuyển
thọ chư chúng sanh”.
1.
Dịch nghĩa:
Bấy
giờ ngàn trăm ức Phật,
Trở
về đạo tràng của mình.
Ðều
ngồi dưới cội Bồ Ðề,
Tụng
mười giới trọng,
Bốn
mươi tám giới khinh
Của
Bổn Sư Xá Na.
Giới
như vầng nhật nguyệt sáng
Cũng
như chuỗi báu, ngọc châu,
Chúng
Bồ Tát như vi trần,
Do
giới này mà thành Phật,
Ðây
là đức Xá Na tụng,
Ta
đây cũng tụng như vậy,
Các
ông tân học Bồ Tát,
Phải
cung kính thọ trì giới,
Khi
thọ trì giới này rồi,
Nên
truyền lại cho chúng sanh...
Lời
giảng
Hai
chữ “thị thời” (bấy giờ) là chỉ thời gian Phật Lô
Xá Na vì ngàn Phật Thích Ca và ngàn trăm ức Phật Thích Ca
truyền trao Tâm Ðịa giới pháp. Ngàn Phật Thích Ca và ngàn
trăm ức Phật Thích Ca đương thời sau khi ở Liên Hoa Ðài
Tạng thế giới, nghe Ðức Phật Lô Xá Na tụng giới xong,
đều trở về đạo tràng nơi mình đắc đạo trước kia.
Tất cả đều ngồi dưới cội Bồ Ðề, tụng lại giới
pháp của Bổn Sư Lô Xá Na Phật. Ta (chỉ cho Ðức Phật Thích
Ca) đã trì tụng mười giới trọng và bốn mươi tám giới
khinh.
Ngàn
Phật Thích Ca và ngàn trăm ức Phật Thích Ca đều nhận Ðức
Phật Lô Xá Na làm Bổn Sư, cho nên cần phải tụng lại giới
pháp của Bổn Sư đã tụng. Ðây là biểu thị giới pháp
có thầy truyền trao và trong thân tâm không bao giờ vong bổn.
Ðoạn trên đây dùng giải thích các câu kệ trong giới bổn
Hán văn:
Thị
thời thiên bách ức,
Hoàn
chi bổn đạo tràng,
Các
tọa Bồ Ðề thọ,
Tụng
ngã Bổn Sư giới.
Phần
tiếp theo, giải thích câu kệ: “Giới như minh nhật nguyệt”
(giới như vầng nhật nguyệt sáng). Câu này có hai phần:
*
“Giới như vầng minh nhật”. Trong kinh thường nói:
Trọng
tội như sương, lộ
Huệ
nhật năng tiêu trừ
Dịch:
Tội
trọng như sương, giá,
Mặt
trời trí huệ hay tiêu trừ.
Ở
phương Bắc Trung Hoa (pháp sư Diễn Bồi ở Trung Hoa), hàng
năm từ khoảng tháng Chín, tháng Mười, bắt đầu có sương
xuống nhiều. Dù chỉ là một màng mỏng manh, nhưng che phủ
cả trên nóc nhà, cây cối, núi rừng. Tất cả hiện ra một
màu trắng xóa. Sớm mai thức dậy có thể trông thấy rõ ràng.
Nhưng lúc vầng thái dương vừa xuất hiện, bao nhiêu sương
tuyết trắng xóa kia đều bị ánh mặt trời chiếu rọi, tức
khắc tan biến, không tồn tại được lâu dài. Ngoài sương
tuyết ra, còn có một thứ nước mù sa, cũng như thế, cứ
mỗi sớm mai, thứ mù sa này đọng khắp trên các đầu ngọn
cỏ xanh trong những cánh đồng mênh mông bát ngát, lóng lánh
như ngọc. Nhưng khi mặt trời xuất hiện, bao nhiêu giọt mù
sa kia đều bị tia sáng mặt trời làm tan biến tức khắc.
Bao
nhiêu tội ác của chúng sanh đã tạo ra từ vô thỉ cũng giống
như sương tuyết, mù sa, không có thực thể. Nên một khi mặt
trời trí tuệ xuất hiện thì tất cả tội ác ấy tức khắc
tiêu trừ. Ở đây dùng “minh nhật” để dụ cho Tâm Ðịa
diệu giới, nghĩa là khi ánh sáng của vầng thái dương xuất
hiện, tất cả hắc ám đều bị tiêu diệt như quang minh của
giới pháp có công năng diệt trừ tất cả sương mù tội
ác.
*
Giới như vầng minh nguyệt:
Minh
nguyệt là trăng sáng. Vầng trăng tượng trưng cho sự thanh
lương, u tịch. Trong đêm tối, vầng trăng tỏa ra những tia
sáng vừa trong sạch, vừa mát mẻ, tạo cho con người cảm
giác sảng khoái dễ chịu. Dù ban ngày nóng bức đến độ
nào, đêm về, khi vầng minh nguyệt xuất hiện, tất cả sự
nóng bức đều tan biến, khiến mọi người cảm thấy mát
mẻ, an vui, tự tại.
Ví
giới pháp như vầng trăng sáng, là biểu thị ý nghĩa nếu
hành giả thật sự nghiêm trì tịnh giới sẽ luôn cảm thấy
thân tâm thường được mát mẻ, an vui, tự tại. Trái lại,
nếu tạo tội lỗi, hoặc vi phạm giới pháp, dù không ai hay
biết, nhưng nội tâm tự biết rõ tội lỗi của mình. Nếu
không nghĩ đến thì thôi, một khi bỗng nhiên nghĩ đến, tức
khắc mặt sẽ nóng bừng, nội tâm nhiệt não, như tiết mùa
Hạ nóng bức không chịu nổi.
Nên
kinh luật từng nói:
Phạm
giới tựu đắc nhiệt não,
Trì
giới tựu đắc thanh lương.
Dịch:
Phạm
giới sẽ bị nhiệt não,
Trì
giới sẽ được mát mẻ, an lạc.
Vì
thế nên ví giới pháp như vầng minh nguyệt.
Phần
tiếp theo sau đây, xin giải thích câu: “Diệc như anh lạc
châu” (cũng như chuỗi anh lạc).
-
Anh là tên chung của loài hoa, thứ hoa tốt nhất, hoặc cái
tinh túy, tốt đẹp nhất.
-
Lạc là vui.
-
Châu là hột ngọc sinh ra do nước bọt của con trai dưới
biển kết tụ lại rất đẹp và quý.
Anh
lạc là một loại chuỗi người Ấn Ðộ dùng làm vật trang
sức. Người thì dùng ngọc thật để xâu thành chuỗi, người
thì dùng hoa tươi đẹp đẽ để xâu thành tràng hoa trang sức
nơi cổ. Ở đây, nói chuỗi ngọc Anh Lạc chỉ cho những hạt
trân châu, kim ngân có giá trị được kết lại thành chuỗi,
một thứ trang sức quý giá của những người giàu.
Dùng
hình tượng chuỗi Anh Lạc quý báu để ví cho chúng sanh, nếu
có thể nghiêm trì tịnh giới thì được đắc vô lượng
thiện pháp, mà không bị bần cùng, cô độc. Sự bần cùng,
cô độc của chúng sanh ở thế gian, đối với Phật pháp
mà nói, thì không phải là không có tài sản, tiền bạc, giàu
có mà gọi là “bần cùng”. Ở đây chính là chỗ không
có công đức, pháp tài, do không nghiêm trì tịnh giới hoàn
hảo, khiến cho các thiện pháp quý báu bị tản thất.
Nếu
có thể nghiêm trì tịnh giới thì tất cả của báu thiện
pháp tự nhiên mỗi ngày dần dần tích tụ lại thành một
đại phú gia. Vì vậy, giới pháp được ví như chuỗi ngọc
Anh Lạc.
Anh
Lạc là loại chuỗi trang nghiêm. Mọi người vì muốn trang
sức thân mình nên dùng chuỗi ngọc Anh Lạc mang vào cổ, vì
nó là vật vô cùng quý giá và đẹp đẽ. Ấy là dụ cho hành
giả nếu có thể nghiêm trì tịnh giới thì có thể không
còn những tướng mạo xấu xa. Nếu sanh làm người mà lại
bị tướng mạo xấu xí, theo như Phật pháp, thì đó là hậu
quả của những việc không nghiêm trì tịnh giới. Nếu có
thể nghiêm trì tịnh giới thì chắc chắn được tướng hảo
viên mãn.
Hai
câu kệ:
Giới
như minh nhật nguyệt,
Diệc
như Anh Lạc châu.
Còn
có lối giải thích khác:
-
“Giới như minh nhật nguyệt”: mặt trời, mặt trăng tượng
trưng cho sự quang minh, biểu thị cho trí huệ quang minh, trang
nghiêm.
-
“Diệc như anh lạc châu”: anh lạc tượng trưng cho sự giàu
sang, biểu thị cho phước đức trang nghiêm.
Căn
cứ vào đây, chúng ta có thể biết nếu hành giả có thể
nghiêm trì tịnh giới thì chắc chắn được phước huệ nhị
nghiêm. Trong kinh thường nói, hành giả tu học Phật pháp,
không phải chỉ cần tu phước đức mà đối với trí huệ
cũng cần phải chuyên tâm tu học.
Việc
tu phước đức, trí huệ này không phải là tìm cầu ở bên
ngoài. Chỉ có nghiêm trì tịnh giới mới có thể được phước
huệ nhị nghiêm. Tu hành đến mức phước huệ viên mãn, thì
đương nhiên được thành Phật quả. Nói như thế mới có
thể thấy rõ được rõ ràng tính chất trọng yếu của sự
trì giới.
Cổ
thi Trung Hoa có câu “nhật nguyệt lệ thiên”. Mặt trời,
mặt trăng soi sáng trên không trung, lúc trời quang mây tạnh,
tạo nên một khung cảnh vô cùng diễm lệ, trang điểm cho
bầu trời trở nên rực rỡ, khiến cho mọi người đối cảnh
đều sanh tâm ưa thích, chiêm ngưỡng.
Ðây
ví như hành giả tu học Phật pháp, nếu có thể nghiêm trì
tịnh giới sẽ được các giới đức trang nghiêm nơi thân.
Thế nhân trông thấy đều tín ngưỡng, tôn sùng. Trong xã
hội, chúng ta có thể chứng kiến một sự kiện thật rõ
ràng: Một tăng nhân phá hủy giới pháp, người ấy không
bao giờ được sự kính ngưỡng của giới Phật tử. Vì sự
kính ngưỡng là nơi giới đức đầy đủ, chứ không do nơi
cá nhân của vị Tăng ấy.
Thế
nên chúng Tăng trì giới thanh tịnh, thì dù đi đến đâu cũng
đều được sự tôn kính sùng bái của mọi người. Vì thế,
hành giả tu học Phật pháp bất luận tại gia hay xuất gia
đều phải nghiêm trì tịnh giới.
Vấn
đề nghiêm trì tịnh giới chẳng những triệt để đối với
hàng Tăng chúng, Phật tử tại gia hay xuất gia, mà đối với
vô lượng vô biên chúng Bồ Tát nhiều như vi trần. Trong tương
lai, sở dĩ các Ngài được thành tựu Vô Thượng Chánh Ðẳng
Chánh Giác không phải do nguyên nhân nào khác mà chính là do
nơi thọ trì mười giới trọng, 48 giới khinh.
Cho
nên, trong văn tụng có câu: “Do thị thành Chánh Giác” (do
đây mà thành Chánh Giác).
Nói
như thế để thấy rõ, muốn được thành Phật, phải thọ
trì giới này. Vì thọ trì giới là Nhân, thành Chánh Ðẳng
Chánh Giác là Quả. Nhân quả rõ ràng như thế đều là do
nơi lực dụng của giới pháp. Như thế chúng ta đối với
giới pháp này có thể nào lại bỏ qua, không thọ trì!
Ðoạn
này dùng giải thích hai câu:
Vi
trần Bồ Tát chúng,
Do
thị thành Chánh Giác.
Như
trên đã nói: Mười giới trọng và bốn mươi tám giới khinh
vốn do “Bổn Sư Lô Xá Na Phật của ta trì tụng, nên Thích
Ca Mâu Ni Phật Ta đây cũng đúng pháp, đúng luật như lời
Phật dạy, mà trì tụng như thế” (lời Phật Thích Ca tự
nói). Như thế để mọi người thấy rằng: nói tụng giới,
không phải bản thân mình không cần tụng, chỉ chuyên môn
dùng miệng bảo người khác tụng.
Nho
thư có câu “thượng hành hạ hiệu” (người trên thực
hành, kẻ dưới mới làm theo). Nên biết đức Lô Xá Na Phật
đích thân tụng giới, chính là thể hiện tinh thần “thượng
hành”, Bổn Sư Thích Ca cũng tụng như thế chính là ý nghĩa
“hạ hiệu” vậy.
Chúng
ta không bao giờ tự mình không thực hành mà có thể bảo
người khác thực hành được. Chỉ khi nào đem chính bản
thân mình thực hành phép tắc thì mới có thể khiến kẻ
khác tùy thuận theo để thực hành. Ngược lại, nếu như
tự mình không trì tụng, chỉ khiến bảo người trì tụng,
thì dù cho có hiệu quả thì cũng chỉ có tính cách nhất thời,
không thể nào vĩnh cửu được. Phật Lô Xá Na hiểu rất
rõ điểm này.
Bổn
Sư Thích Ca cũng nhận thức rất minh bạch nguyên lý ấy. Vì
thế nên Bổn Sư Lô Xá Na cũng như ngàn Phật Thích Ca, trăm
ngàn ức Phật Thích Ca mỗi mỗi đều trì tụng giới pháp.
Ðây là giải thích hai câu:
Thị
Lô Xá Na tụng,
Ngã
diệc như thị tụng.
Dịch:
Ðây
là đức Lô Xá Na tụng,
Ta
cũng tụng y như vậy.
Phật
Lô Xá Na và Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, các ngài hãy còn
tụng giới, không dám cẩu thả một mảy tơ, sợi lông như
vậy. Hàng tân học Bồ Tát các ông mới được nghe giới
pháp, lẽ tất nhiên lại càng cần phải thân tâm cung kính,
đảnh đới thọ trì Tâm Ðịa diệu giới này không nên xao
lãng, xem thường bất cứ phút giây nào.
-
Ðảnh đới thuộc về thân nghiệp, nghĩa là đối với pháp
thể hiện thái độ tôn trọng cực điểm.
-
Thọ trì thuộc về ý nghiệp, nghĩa là đối với giới pháp
phải có tâm quý trọng tuyệt đỉnh.
Vì
nếu đối với giới pháp không tôn trọng, quý kính tuyệt
đối thì không bao giờ đầu đội và thọ trì. Bổn Sư Thích
Ca Mâu Ni rất e ngại cho những người mới phát tâm, mà lại
có sự xem thường đối với giới pháp. Cho nên Ngài đặc
biệt thận trọng và cực lực răn dạy. Chẳng những hành
giả bản thân phải theo đúng pháp thọ trì như thế, và khi
thọ trì rồi lại còn phải truyền trao lại cho những chúng
sanh đã phát đại tâm, để giới pháp này mãi được triển
chuyển lưu truyền không bị đoạn tuyệt.
-
Tự mình thọ trì giới là tự lợi; đem giới pháp truyền
trao lại cho chúng sanh là lợi tha. Như vậy mới có thể gọi
là Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nếu
chỉ nghĩ tự mình thọ trì mà không truyền trao cho những
chúng sanh phát đại thừa tâm thì thành ra phong cách của Thanh
Văn, không thể gọi là Bồ Tát.
Phần
trên đây giải thích bốn câu kệ:
Nhữ
tân học Bồ Tát
Ðảnh
đới thọ trì giới.
Thọ
trì thị giới dĩ,
Chuyển
thọ chư chúng sanh.
Dịch:
Các
ông mới học Bồ Tát,
Phải
cung kính thọ trì giới.
Khi
thọ giới này rồi,
Nên
truyền lại cho chúng sanh
Lưu
ý: “Ðảnh đới” ở đây dịch là cung kính.
Theo
sự phân tích ở trên, chúng ta có thể xác định rõ ràng:
Ðối với giới pháp này cần phải lưu truyền cho hậu thế
mãi mãi, cũng như những ngọn đèn, ngọn này nối tiếp qua
ngọn kia. Ánh sáng tiếp nhau mãi mãi không đoạn tuyệt. Ðó
chính là do sự triển chuyển truyền giao. Như đầu tiên căn
bổn từ đức Lô Xá Na, truyền trao cho Bổn Sư Thích Ca Mâu
Ni Phật. Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật lại đem giới pháp căn
bổn này truyền trao cho chúng Bồ Tát vi trần. Chúng Bồ Tát
vi trần được giới pháp này làm căn bổn và tiếp tục truyền
trao cho phàm phu chúng sanh, truyền trao xuống mãi như thế,
cùng tột đến đời vị lai vô biên, vô tận.
A.4.1.4.3.
KHUYẾN CHÚNG TÍN THỌ (khuyên đại chúng tin tưởng, thọ trì)
Kinh
văn
1.
Phiên âm:
Từ
câu “đế thính ngã chánh tụng...” đến câu “...chí tâm
thính ngã tụng”.
2.
Dịch nghĩa:
Lắng
nghe ta đang trì tụng,
Pháp
Ba La Ðề Mộc Xoa
Là
giới tạng trong Phật pháp,
Ðại
chúng lòng nên tin chắc,
Các
ngươi là Phật sẽ thành.
Ta
đây là Phật đã thành,
Thường
có lòng tin như vậy.
Thời
giới phẩm đã được trọn vẹn,
Tất
cả những người có tâm,
Ðều
nên nhiếp hộ Phật giới.
Chúng
sanh nào thọ Phật giới,
Chính
là vào hàng chư Phật.
Ðã
đồng hàng bực Ðại Giác.
Mới
thật là con chư Phật.
Ðại
chúng đều nên cung kính,
Chí
tâm nghe lời ta tụng.
Lời
giảng
“Ðức
Bổn Sư Lô Xá Na đã thọ trì, đọc tụng đại giới của
chư Phật. Giờ đây, Ta (Bổn Sư Thích Ca) cũng đang tụng giới
pháp này mà Bổn Sư của ta đã tụng. Các ông cần phải nhứt
tâm lắng nghe đúng như pháp ta đang tụng cho nghiêm túc, không
được để tâm nghĩ tưởng Ðông, Tây, mà ngăn ngại cho việc
nghe giới của các ông”.
Ðây
là một điều khẩn yếu vì nếu người không chuyên tâm nghe
kỹ, sẽ không được thâm nhập Tâm Ðịa diệu giới của
Phật. Như thế thì dù có nghe cũng như không nghe, đối với
bản thân không được một chút lợi ích nào cả. Ðây là
giải thích câu kệ: “Ðế thính ngã chánh tụng”.
Pháp
Ba La Ðề Mộc Xoa là giới tạng trong Phật pháp, tức là vô
thượng Tâm Ðịa giới pháp, là bổn nguyên của tất cả
giới pháp như: Ngũ Giới, Bát Giới, Thập Giới, hai trăm năm
mươi giới v.v... Không một giới nào chẳng từ nơi căn nguyên
Tâm Ðịa diệu giới này mà lưu xuất. Ðồng thời tất cả
Ngũ Giới, Bát Giới, hai trăm năm mươi giới... này cũng không
một giới nào chẳng nhiếp vào trong căn nguyên này. Cho nên
gọi là giới tạng trong Phật pháp.
Trong
kinh Thanh Tịnh Tỳ Ni Phương Quảng thuyết minh: “Bồ Tát
Tỳ Ni do như đại hải, nhứt thiết Tỳ Ni vô bất nạp thọ”
(Tỳ Ni của Bồ Tát như bể cả, tất cả các Tỳ Ni khác
không một Tỳ Ni nào chẳng nhiếp thọ) chính là ý này.
*
Có một lối giải thích khác:
Giới
tạng của Phật giáo thuộc về Ðại Thừa Tỳ Ni. Chẳng những
khác hẳn tà giới của ngoại đạo, lại cũng khác biệt với
thiên giới của Thanh Văn, Duyên Gác (thiên giới là giới của
hàng hành giả Nhị Thừa, chỉ thiên trọng về tự lợi mà
tu hành, nên giới pháp của các Ngài bẩm thọ gọi là Thiên
Giới).
Giới
của ngoại đạo tu hành sao gọi là tà giới?
Nguyên
vì các ngoại đạo ấy cho là con người kiếp trước là loài
súc sanh như gà, chó v.v... cho nên trong đời hiện tại cần
phải giữ giới không ăn thịt gà, chó... Họ tự lập riêng
ra những giới khổ hạnh như ăn những đồ phẩn uế... và
cho rằng có thực hành những khổ hạnh ấy mới tiêu tội,
được phước, để có thể được sanh lên thiên đường,
hưởng sự khoái lạc. Sự thật ý nghĩa của hành động này
không phải là giới hạnh được sanh lên thiên đường, nhưng
họ vọng chấp như vậy, nên gọi là tà giới.
Hai
chữ Tỳ Ni trong thuật từ Ðại Thừa Tà Ni là tiếng Ấn
Ðộ, Trung Quốc dịch là Thiên Thọ. Ý nghĩa cho rằng Tỳ
Ni là thọ mạng của Phật pháp, cho nên Tỳ Ni tồn tại một
ngày ở thế gian là Phật pháp cũng tồn tại ở thế gian
một ngày. Nếu một mai Tỳ Ni bị tiêu diệt trên thế gian
thì Phật pháp cũng không còn!
Cũng
có nơi giải thích Tỳ Ni là Thiện Tánh, tức là tự tánh
của Tỳ Ni vốn là thuần thiện. Chủ yếu là đúng theo giới
pháp thọ trì thì hàng Phật tử tu học Phật pháp có thể
tăng tiến thiện hạnh. Có chỗ dịch là Thiên Trụ, từ này
cũng đồng nghĩa với Thiên Thọ, ý nói nếu Tỳ Ni cửu trụ
thế gian thì chánh pháp của Như Lai cũng cửu trụ ở thế
gian.
Giới
tạng của Phật pháp quan hệ mật thiết đến sự tồn vong
của Phật pháp là như thế. Vì thế, hàng tân học Bồ Tát
các ông phải thiết thực dụng tâm lắng nghe cho kỹ, không
được khinh suất.
Này
đại chúng! Các ông chẳng những phải chí tâm lắng nghe thật
nghiêm túc, lại phải thật lòng tin tưởng sâu chắc. Nếu
như chỉ nghe mà không có tâm thâm tín, nghĩa là nghe qua rồi
cho là xong chuyện, thế là vô dụng. Cho nên tuyệt đối sau
khi nghe tụng giới phải xác thực tin chắc giới này là chánh
nhân thành Phật. Nếu đúng pháp, y luật, phụng trì không
biếng nhác thì tương lai nhất định sẽ thành tựu vô thượng
Phật Quả không nghi. Chẳng những phải tin chắc rằng tự
mình do nghiêm trì tịnh giới mà được thành Phật, lại càng
phải tin tưởng rằng đức Lô Xá Na thành Phật cũng là do
Ngài nghiêm trì tịnh giới mà được. Nếu có được tín
tâm đầy đủ như vậy, thì niệm niệm hộ trì giới mới
không dám sanh tâm hủy phạm giới, dù như mảy lông.
Thế
nên chữ Tín ở đây mang ý nghĩa trọng yếu vô cùng. Trên
đây là giải thích câu kệ: “Ðại chúng tâm đế thính”.
Vì
muốn củng cố tín tâm của đại chúng cho kiên cố hơn, đức
Bổn Sư Thích Tôn tiến xa hơn một bước, Ngài đối trước
đại chúng trong pháp hội dạy rằng:
-
“Này toàn thể đại chúng! Các ông không nên tự xem nhẹ
mình, tự cho mình là tâm địa phàm phu, không mong gì đạt
đến quả Phật. Các ông nên biết: dù hiện tại các ông
là phàm phu, nhưng trong tương lai đều quyết định sẽ được
thành Phật. Nhưng điều cần yếu là các ông phải có tín
tâm sâu chắc khi thọ trì giới pháp này.
Giờ
đây ta vì các ông nói một lời khẳng định: Ta đây là đấng
Ðại Thánh Giác đã thành Phật, nhưng nguyên nhân ta được
thành Phật chính là do tin chắc vào giới pháp này. Do ta đối
với giới pháp này thâm tín thọ trì, cho nên được thành
Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Các ông cũng cần phải
tự tin chắc nơi mình.
Ðiều
tối yếu là phải thọ trì giới pháp này mới quyết định
thành tựu được Phật quả. Ta cũng có thể nói với các
ông một cách quả quyết rằng: Hiện tại ta truyền trao giới
pháp này lại cho các ông, bảo đảm rằng các ông được
giải thoát chắc chắn. Ðây là sự kiện nhất định, không
có gì đáng nghi!”
Ðây
là lời Phật nói với đại chúng đương thời, nhưng cũng
bao hàm tất cả đại chúng thọ trì Bồ Tát giới đời vị
lai.
Như
vậy, muốn thành tựu quả Phật, nhất quyết phải cầu thọ
Tâm Ðịa diệu giới này, nhưng muốn cầu thọ Tâm Ðịa diệu
giới này, cần phải khởi tín tâm quảng đại. Chỉ có đủ
tín tâm này thì Phật chủng mới không bị đoạn tuyệt và
đối với tự thân, quyết sẽ được thành Phật.
Nếu
như không có tín tâm sâu chắc thì đối với tất cả giới
pháp không thể nào giữ gìn một cách nghiêm cẩn được.
Trong Ðại Trí Ðộ Luận nói: “Phật pháp đại hải, tín
vi năng nhập” (Bể cả Phật pháp, chỉ có lòng tin mới vào
được).
Phần
trên dùng giải thích hai câu kệ:
Nhữ
thị đương thành Phật,
Ngã
thị dĩ thành Phật.
Dịch:
Các
ngươi là Phật sẽ thành,
Ta
đây là Phật đã thành.
Trì
giới quyết định sẽ được thành Phật, điều ấy cần
phải tin chắc không nên nghi ngại. Nếu như thường được
tín tâm như vậy, thì giới phẩm trọn vẹn. Do đây, chúng
ta thấy giới phẩm được trọn vẹn không phải là một sự
kiện khó khăn. Ðiều quan hệ trọng yếu là hoàn toàn ở
sự tin chắc!
Thế
nên người có tín tâm chỉ cần phóng hạ đồ đao tức khắc
thành tựu một vị Phật trong trăm ngàn vị Phật. Trái lại,
nếu không có tín tâm thì dù có gặp được sự kêu gọi
phát khởi giác tánh nơi chúng sanh của ngài Thường Bất Khinh
Bồ Tát cũng vẫn mãi trầm mê (Ngài Thường Bất Khinh Bồ
Tát kêu gọi chúng sanh phát khởi tín tâm, nhưng chúng sanh
thời bấy giờ không tin, lại còn phỉ báng, nên bị đọa
lạc trong nghìn kiếp).
Ðã
tin Tâm Ðịa đại giới này là chánh nhân thành Phật thì
hẳn nhiên cần phải thọ trì giới pháp này. Nếu chỉ tin
suông mà không bẩm thọ giới pháp ấy tức không phải chân
thật tín tâm.
Bồ
Tát đại giới này trừ những loại cây đá vô trí, không
phải là pháp khí thì không thể bẩm thọ đại giới này.
Ngoài ra, tất cả chúng sanh có tâm thức (chí cho loài hữu
tình có sự hoạt động về tinh thần) bất luận cao cấp
hay hạ cấp đều nên nhiếp thọ Phật giới.
Chữ
Nhiếp ở đây có nghĩa là nạp thọ, thu nhận và giữ mãi
trong tâm những gì được nghe giảng từ bên ngoài, không cho
mất, ấy gọi là Nhiếp. Tại sao những người có tâm thức
đều nên nhiếp thọ Phật giới?
Vấn
đề này trong kinh Niết Bàn thuyết minh: “Phàm hữu tâm giả,
giai đương tác Phật” (tất cả chúng sanh có tâm thức đều
có thể thành Phật). Có tâm thức cũng tức là có sẵn Phật
tánh. Sẵn có Phật tánh đương nhiên có thể thành Phật.
Trong
Quán kinh cũng nói: “Thị tâm thị Phật, thị tâm tác Phật”
(tâm này là Phật, tâm này làm Phật). Vì Phật không phải
ở ngoài tâm; ngoài tâm hoàn toàn không có Phật. Cho nên Tâm
Ðịa đại giới này chỉ từ tâm mới có được.
Chính
vì như vậy, cho nên tất cả những chúng sanh nào có tâm thức,
kể cả những hàm linh xuẩn động, bò bay, cựa quậy, không
một chúng sanh nào chẳng có thể nhiếp hộ Phật giới này;
cũng không một chúng sanh nào chẳng do nhiếp hộ Phật giới
này mà thành Phật.
Phần
trên dùng để giải thích hai câu kệ:
Nhứt
thiết hữu tâm giả,
Giai
ưng nhiếp Phật giới.
Nên
tiếp theo hai câu:
Chúng
sanh thọ Phật giới,
Tức
nhập chư Phật vị.
Từ
địa vị phàm phu đến địa vị Phật cách nhau rất xa, như
vậy tại sao mới vừa thọ giới pháp mà lập tức được
vào địa vị của chư Phật?
Nguyên
vì Tâm Ðịa giới pháp này do chư Phật truyền trao lẫn nhau,
chính chư Phật từ nơi giới pháp này mà được thành Phật.
Hiện nay, chúng sanh do Tâm Ðịa giới pháp của chư Phật đây
thì đương nhiên đã bước lên giai cấp địa vị của chư
Phật.
Nơi
đây có một vấn đề cần nên biết: Ðịa vị đã đồng
với Phật quả Ðại Giác thì cứ xác thực gọi những người
thọ giới là Phật, sao lại còn gọi là “chân thị chư Phật
tử?”
Hai
chữ “Phật tử” là đệ tử của Phật là điều không
còn nghi gì cả. Nhưng sánh với Phật quả đại giác thì có
một khoảng cách rất xa. Như vậy sao lại bảo “tức nhập
chư Phật vị?”
Chúng
ta nên biết rằng “thọ giới vị Phật giới” (giới vị
tức là địa vị của giới tử thọ giới pháp của chư Phật),
tuy nói là đồng hàng với Ðại Giác nhưng trên thực tế
hoàn toàn chưa chứng được quả Ðại Giác tối cao. Vì tu
hành nhân hạnh chưa viên thành, về công đức chứng đắc
vẫn chưa viên mãn. Cho nên sau khi thọ Phật giới, phải ở
trong khoảng thời gian lâu dài là trải qua ba đại a tăng kỳ
kiếp. Trong thời gian ấy, phải rộng tu lục độ vạn hạnh,
thừa sự chư Phật trong mười phương, thực hành tất cả
đại pháp của chư Phật. Chừng nào đạt đến hạnh nguyện
viên mãn, mới chân thực bước vào địa vị của Như Lai.
Như vị vương tử làm lễ Quán Ðảnh, trong tương lai chắc
chắn thừa kế vương vị, nhưng hiện tại thì vẫn còn ở
Ðông Cung nên chỉ được gọi là Vương Tử, chưa được
gọi là Quốc Vương.
Danh
từ “Phật tử” giải thích theo lối thông thường là đại
phàm từ miệng Phật sanh, từ pháp hóa sanh đều gọi là Phật
tử. Căn cứ vào phương diện phân biệt thể loại, thì có
nơi chia làm ba thể loại như sau:
-
Tu hành còn ở trong địa vị phàm phu, chưa ngộ nhập Phật
đạo, chưa thể thiệu long Phật chủng thì chỉ gọi là ngoại
Phật tử.
-
Hành giả nhị thừa, bẩm thọ giới pháp Tiểu thừa của
Như Lai, dù có thể sanh trưởng pháp thân, hoàn thành thánh
quả, nhưng không từ trong giáp pháp đại thừa xuất sanh,
nên gọi là Thứ Phật tử.
-
Hành giả Bồ Tát đã bẩm thọ Ðại Thừa giáo pháp của
Như Lai, phát Bồ Ðề tâm, thọ Bồ Tát giới, Pháp Thân sanh
trưởng, gọi là chân Phật tử.
Câu
kệ: “Chơn thị Phật tử” chính là chỉ cho loại Phật
tử thứ ba này.
Trong
bộ Pháp Tạng Giới Bổn Sớ quyển một, đối với danh từ
Phật tử phân biệt rõ ràng như sau:
-
Y cứ theo kinh Lăng Già thuyết minh: “Bát địa Bồ Tát, danh
tối thắng Phật tử” (Bồ Tát đệ bát địa gọi là tối
thắng Phật tử). Vì Bồ Tát ở địa vị thứ tám tu hành
đã đạt đến trình độ “vô công dụng hạnh”, nghĩa là
tất cả công hạnh nhiệm vận tự nhiên, đồng thời với
tác dụng của chư Phật, mới đủ tư cách là Phật tử.
-
Y cứ trong Phật Tánh Luận thuyết minh: “Sơ Ðịa danh vi Phật
tử” nghĩa là Bồ Tát ở địa vị sơ đẳng, nhưng đã thể
ngộ chơn lý của các pháp, bắt đầu chứng được Pháp Thân,
được khí phần của Phật, mới đủ tư cách gọi là Phật
tử.
-
Kinh Anh Lạc thuyết minh: “Thập Trụ tức danh Phật tử”.
Bồ Tát Thập Trụ dù mới bắt đầu vào địa vị Tam Hiền,
nhưng các Ngài đã tu hành đến bậc bất thối chuyển, nên
đầy đủ tư cách gọi là Phật tử.
-
Phát Bồ Ðề tâm, thọ Bồ Tát giới, liệt vào hàng Ðại
Thừa, mới có tư cách gọi là Phật tử. Hạng Phật tử thứ
tư này ứng vào câu kệ: “Chơn thị chư Phật tử” của
kinh Phạm Võng vậy.
Như
trên đã nói rõ, giai cấp, địa vị của Bồ Tát dù thứ
tự cao thấp bất đồng, nhưng tất cả đều phải thọ trì
giới pháp này triệt để, cho nên các chúng Phật tử kể
trên đều bao hàm trong đây.
Theo
bộ Nhiếp Luận của Chơn Ðế tam tạng pháp sư dịch vào
triều nhà Lương, Ðại Thừa Bồ Tát chân thật là con Phật
phải hội đủ năm điều kiện sau đây:
1.
Dùng Phương Tiện làm cha.
2.
Dùng Bát Nhã làm mẹ.
3.
Dùng Thiền Ðịnh làm thai.
4.
Dùng Từ Bi làm người dưỡng dục.
5.
Dùng lòng tin ưa pháp Ðại Thừa làm chủng tử.
Ðủ
năm điều kiện trên thì mới là chân thật Phật tử, thiếu
một trong năm điều kiện trên thì vẫn không thể gọi là
chân Phật tử.
Ðức
Phật Thích Ca dạy: “Thọ giới Phật rồi là chân Phật tử,
tương lai được thành Phật đó là lẽ tự nhiên, không còn
vấn đề gì. Thế nên, hiện tại, lúc ta đang tụng giới
pháp của Bổn Sư Lô Xá Na, đại chúng các ông đều phải
cung kính, chí tâm, nhất ý lắng nghe Ta tụng lại đại giới
của chư Phật đây vậy”.
Ba
chữ “chí tâm thính” nghĩa là trong lúc nghe giới, không
phải nghe một cách tùy tiện mà là nghe một cách nhận chân.
Vì chỉ có nghe với tinh thần nhận chân, không lơ đễnh,
giới pháp mới có thể thâm nhập vào Tâm Ðịa, để trở
lại với bổn nguyên tự tánh thanh tịnh của mình.
Nghe
giới chí tâm hay không, vấn đề này hoàn toàn tùy thuộc
vào thái độ cung kính. Hai chữ “cung kính” trong văn tự
thường đi đôi với nhau có ý nghĩa:
Chữ
Cung là biểu thị hình tướng, oai nghi, nghiêm chỉnh ở bên
ngoài.
Chữ
Kính là chỉ về tâm ý kiền thành ở bên trong.
Như
vậy, trong cũng như ngoài đều phải tinh thành mới gọi là
“chí tâm”. Giới tạng đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni đang
tụng là giới tạng của chư Phật, tất cả đại chúng phải
chí tâm lắng nghe. Nếu lúc nghe mà không chí tâm thành khẩn,
thì không thể vào được bổn nguyên Tâm Ðịa. Cho nên lời
cuối cùng của Ðức Phật ở đây, đặc biệt là kết khuyến,
răn nhắc đại chúng phải chí tâm lắng nghe.
Trên
đây là giải thích hai câu kệ:
Ðại
chúng giai cung kính,
Chí
tâm thính ngã tụng.
Chú
thích:
Thành
ngữ “phóng hạ đồ đao” trong kinh điển thường đề cập.
Bộ Sơn Ðường Tứ Khảo dẫn giải:
Ngày
xưa có một đồ tể ở hội Niết Bàn vừa buông bỏ con dao
làm nghề sát hại xuống, lập tức được thành Phật. Ðây
ý nói sự bỏ dữ theo lành một cách nhanh chóng, chứ thật
sự không phải có thể thành Phật một cách nhanh chóng như
thế. Bởi lẽ, tạo ác nghiệp hay thiện nghiệp đều do nơi
tâm. Lúc si mê, tùy theo vọng tưởng phiền não tạo ác nghiệp;
khi tỉnh ngộ, tùy thuận theo trí huệ mà tạo thiện nghiệp.
Như
vậy, Thiện hay Ác nghiệp đồng do tâm tạo nên. Chính trong
khi bỏ Ác đấy tức là Thiện. Nên nói: “Phóng hạ đồ
đao, lập địa thành Phật”. Hai câu này người thế gian
dù chưa tin Phật cũng thường nói đến, nhưng phải hiểu
rõ ý nghĩa là như vậy.
Câu
này đồng nghĩa với câu: “Phiền não tức Bồ Ðề”. Nghĩa
là mê thì phiền não, ngộ thì Bồ Ðề. Nhưng nên biết rằng,
từ sự giác ngộ ấy tiến tu phải trải qua ba đại a tăng
kỳ kiếp, chứ không phải buông bỏ con dao sát hại mà thành
Phật lập tức. Nguyên nhân sự thành Phật ở vô lượng kiếp
về sau cũng do giờ phút buông bỏ con dao đồ tể này. Cũng
vì thế, chư cổ đức gọi là “hồi đầu thị ngạn”.
Ý nói khi si mê thì sanh tử luân hồi; một khi đã hồi quang
phản chiếu thì tiến đến cảnh giới Niết Bàn.
