|
|
|
|
|
|
|
|
|
Chương
I: TIỀN ĐỀ KHÁI THUYẾT (những điều khái quát đầu tiên)
|
|
|
|
Chương
II: CHÁNH THÍCH KINH VĂN (Chánh thức giải thích kinh văn)
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Chương
III: CHÁNH THUYẾT GIỚI TƯỚNG (chánh thức thuyết giảng giới
tướng
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
KHINH
GIỚI TƯỚNG
|
|
|
|
CHƯƠNG
IV: KẾT KHUYẾN LƯU THÔNG
|
|
|
|
c
PHẠM VÕNG
KINH BỒ TÁT GIỚI BỔN GIẢNG KÝ
Hán
văn: Pháp sư Thích Diễn Bồi
Việt
dịch: Hòa Thượng Thích Trí Minh
A.4.2.2.
PHẬT TỰ TỰ THUYẾT (Ðức Phật tự thuật thuyết giới)
A.4.2.2.1.
TỰ TỤNG KHUYẾN NHÂN (tự tụng giới để khuyên người)
Kinh
văn
1.
Phiên âm:
Từ
câu “Phật cáo chư Bồ Tát ngôn...” cho đến câu “... Thập
Ðịa chư Bồ Tát diệc tụng”.
2.
Dịch nghĩa:
Ðức
Phật nói với các vị Bồ Tát: “Nay ta cứ mỗi nửa tháng
tự tụng giới pháp của chư Phật. Tất cả hàng Bồ Tát
sơ phát tâm nhẫn đến các Bồ Tát Thập Phát Thu, Thập Trưởng
Dưỡng, Thập Kim Cương, Thập Ðịa cũng tụng giới ấy”.
Lời
giảng:
Ở
trên là nhà kiết tập kinh thuật lại việc Ðức Phật kiết
giới, giờ đây là thuyết minh Ðức Phật tự thuật việc
Ngài tụng giới.
Ðức
Phật nói với chư Bồ Tát rằng: “Ta hôm nay, mỗi nửa tháng
tự tụng giới pháp của chư Phật”. Trước tiên, điều
cần nói rõ là giới quang đương thời trùm nhiếp tất cả
đại chúng, nhân, thiên, phàm thánh, trăm vạn ức rất nhiều.
Tại
sao hiện tại chỉ nói Ðức Phật riêng nói với chư Bồ Tát?
Vì
giới pháp của chư Phật hiện tại, Ðức Phật tự đương
tụng là thuộc Ðại Thừa Bồ Tát giới, đối tượng thọ
trì giới ấy dĩ nhiên là Bồ Tát. Mà Bồ Tát trong trăm vạn
ức đại chúng được nhân, thiên, phàm phu, Tiểu Thừa đồng
tôn trọng. Nên kinh văn dù chép: “Phật nói với chư Bồ
Tát”, nhưng sự thật bao gồm cả đại chúng nhân, thiên
trong ấy.
Bốn
chữ “bán mạc, bán mạc” chỉ cho “hắc bạch” là hai
bán cá nguyệt, tức từ mùng một đến rằm là “bạch bán
nguyệt” (nửa tháng có trăng). Từ mười sáu đến ba mươi
là “hắc bán nguyệt”.
Nguyên
nhân mỗi tháng phải tụng giới hai lần là vì muốn biểu
thị sự tôn trọng của Ðức Phật đối với giới pháp và
muốn hành giả phải thẩm sát giới pháp mình đã thọ có
vi phạm hay không?
Sở
dĩ Ðức Phật đặc biệt tôn trọng giới pháp vì giới này
là căn bổn chánh nhơn của Phật, Bồ Tát tu chứng Bồ Ðề
Niết Bàn. Vì nếu không do giới pháp này thì chư Phật, Bồ
Tát quyết không thể chứng đắc cực quả rốt ráo Bồ Ðề,
Niết Bàn.
Nói
như thế, Ðức Phật đối với giới pháp không thể không
hết lòng tôn trọng. Sở dĩ hành giả phải thẩm sát giới
pháp mình đã bẩm thọ, vì thông thường đại đa số chúng
ta đều có tánh hay quên. Nếu lâu ngày không tụng giới kinh
thì những giới đã bẩm thọ có phạm hay không sẽ mặc nhiên
không hay biết.
Nếu
cứ mỗi nửa tháng tụng giới một kỳ thì tự mình sẽ đề
cao cảnh giác, không đến nỗi khi phạm giới mà cho là trì
giới. Vì thế, tụng giới là một điều vô cùng trọng yếu.
Nói
rõ hơn, chánh pháp của Ðức Phật được cửu trụ trong thế
gian hay không, cứ xem quy củ Ðức Phật chế định mỗi nửa
tháng tụng giới có được duy trì trường cửu hay không?
Luật
Thiện Kiến dạy: “Vân hà danh vi Chánh Pháp cửu trụ? Phật
ngôn: Bố Tát pháp bất hoại thị” (Thế nào gọi là chánh
pháp được cửu trụ? Ðức Phật dạy: “Với pháp bố-tát
không phá hoại chính là đấy”).
Bố-tát
là tiếng Ấn Ðộ, Trung Hoa dịch là Tịnh Trụ, nghĩa là làm
lễ bố-tát tụng giới thì thân tâm được thanh tịnh, và
y như giới pháp Phật dạy mà an trụ. Chúng ta thử tưởng
Phật tử đã thọ đại giới, mà không y như giới pháp Phật
dạy an trụ thì chánh pháp Như Lai làm sao cửu trụ thế gian?
Vì thế, luật tụng giới tuyệt đối không vì nguyên nhân
gì mà không tuân hành.
Bậc
cổ đức đối với sự tụng giới ở hai bán cá nguyệt hắc
bạch đã giải thích sâu thêm một mức nữa như vầy: Bạch
bán cá nguyệt là từ mùng Một đến Rằm. Trong bán cá nguyệt
ấy mặt trăng từ khuyết đến tròn biểu thị cho trí quang
dần dần được tăng trưởng, cùng trí đức được viên
mãn. Hắc bán cá nguyệt là từ mười sáu đến ba mươi, mặt
trăng từ sáng chuyển sang tối, tượng trưng tà quang dần
giảm và đoạn đức được cứu kính.
Ðức
Phật là bậc đã ở quả vị tối cao mà còn trịnh trọng
tụng giới như vậy, chư Bồ Tát ở nhơn địa, hành Bồ Tát
đạo, phải tụng giới là lẽ đương nhiên.
Nên
tiếp theo kinh văn nói: “Nhữ đẳng nhứt thiết phát tâm
Bồ Tát, nãi chí Thập Phát Thú, Thập Trưởng Dưỡng, Thập
Kim Cương, Thập Ðịa chư Bồ Tát diệc tụng”.
Câu
“nhứt thiết phát tâm Bồ Tát” (tất cả hàng Bồ Tát sơ
phát tâm) là chỉ Bồ Tát mới phát tâm Ðại Thừa, theo địa
vị thứ lớp là chỉ Bồ Tát ở vị Thập Tín, tức là sơ
bộ của Tam Hiền, giai cấp đầu tiên của Thập Thánh. Nếu
không trải qua giai đoạn Thập Tín này thì không thể bước
lên đại đạo Hiền Thánh.
Còn
chữ Tín ở dây nói là chỉ sự tin giới pháp của chư Phật
để làm chủng tử thành Phật. Vì không có giới pháp này,
quyết không thể thành Phật.
Trong
kinh Anh Lạc có nói rõ việc ấy như sau: “Người tu hành
ở địa vị phàm phu, được gặp chư Phật, Bồ Tát thuyết
pháp giáo hóa, trong giới pháp của Phật, sanh một niệm thâm
tín liền phát tâm Bồ Ðề, người ấy lúc bấy giờ ở trước
Thập Trụ gọi là danh tự Bồ Tát”.
Tu
học Ðại Thừa Phật pháp mà không có tín tâm thì làm sao
mà tu hành?
Chẳng
những Bồ Tát mới phát tâm, giới tâm chưa được kiên cố,
giới hạnh chưa được viên thành, cần phải tụng giới mỗi
nửa tháng, mà chính chư đại Bồ Tát trong Tam Hiền Thập
Thánh, giới tâm đã kiên cố, giới hạnh đã viên thành, cũng
phải tụng giới như vậy. Vì tụng giới là quy luật vĩnh
thường của chư Phật, nên bất luận vị thứ cao thấp như
thế nào, đều phải đồng tụng giới. Ðiều này không giản
biệt bất cứ người nào đã phát Bồ Ðề tâm, thọ Bồ
Tát giới.
Thập
Phát Thú, theo như quyển thượng của kinh này nói: “Chư Phật
các ngài nên biết! Trong Kiên Tín Nhẫn, Thập Phát Thú Tâm
hướng quả:
1.
Xả tâm.
2.
Giới tâm.
3.
Nhẫn tâm.
4.
Tấn tâm.
5.
Ðịnh tâm.
6.
Huệ tâm.
7.
Nguyện tâm.
8.
Hộ tâm.
9.
Hỷ tâm.
10.
Ðảnh tâm.
Mười
tâm này lấy Thập Tín trước làm căn bổn. Vì mười tâm
này từ quả Giả Quán nhập Không quán, tâm tâm khai phát,
thú hướng về Phật quả, cho nên gọi là Phát Thú. Mười
phát thú tâm này thông thường gọi là Thập Trụ. Vì sau khi
tín tâm đã thành tựu, trí huệ an trụ nơi lý, chứng được
địa vị bất thối chuyển.
Thập
Trưởng Dưỡng như quyển thượng kinh này thuyết minh: “Chư
Phật các ngài nên biết: Từ Thập Phát Thú tâm này vào trong
Kiên Phát Nhẫn, Thập Trưởng Dưỡng tâm hướng quả:
1.
Từ tâm.
2.
Bi tâm.
3.
Hỷ tâm.
4.
Xả tâm.
5.
Thí tâm.
6.
Hảo ngữ tâm.
7.
Ích tâm.
8.
Ðồng tâm.
9.
Ðịnh
10.
Huệ tâm.
Hành
giả Bồ Tát do mười tâm này từ quả Không Quán nhập Giả
Quán, tinh tấn dõng mãnh, với công hạnh tự lợi lợi tha,
tăng trưởng Phật đạo cho tự mình, dưỡng dục thánh thai
cho tất cả chúng sanh, nên gọi là “trưởng dưỡng”. Thập
Trưởng Dưỡng thường gọi là Thập Hạnh, là do Thập Trụ
tâm trước phát chơn ngộ lý. Từ đây, tiến thú về Phật
đạo không gián đoạn, rộng tu công hạnh lợi tha một cách
tích cực, nên gọi là Thập Hạnh.
Thập
Kim Cương, quyển thượng của kinh này thuyết minh: “Chư Phật
các ngài nên biết: từ nơi Thập Trưởng Dưỡng tâm hướng
vào trong Kiên Tu Nhẫn, Thập Kim Cương tâm hướng quả:
1.
Tín tâm
2.
Niệm tâm
3.
Hồi hướng tâm
4.
Ðạt tâm
5.
Trực tâm
6.
Bất thối tâm
7.
Ðại thừa tâm
8.
Vô tướng tâm
9.
Huệ tâm
10.
Bất hoại tâm
Hành
giả Bồ Tát do mười tâm này tu tập pháp quán Trung Ðạo,
hàng phục vô minh, tánh như kim cương, không bị bất cứ cái
gì làm hư hoại, nên gọi là kim cương.Thập Kim Cương thường
gọi là Thập Hồi Hướng. Vì ở trong mười tâm này mà tu
hành, có thể thực hành ba thứ đại hồi hướng:
-
Hồi sự hướng lý.
-
Hồi nhân hướng quả.
-
Hồi tự hướng tha.
Hồi
là hồi chuyển. Hướng là thú hướng. Hồi hướng: đem công
đức thiện căn của mình đã tu hành thú hướng đến chỗ
mong cầu, nên gọi là “hồi hướng”. Hồi Hướng có ba
loại:
-
Hồi nhơn hướng quả: Cũng gọi là Bồ Ðề Hồi Hướng,
là đem thiện nhơn công đức của mình tu tập, thú hướng
cầu chứng quả vị Bồ Ðề.
-
Hồi sự hướng lý: cũng gọi là Thực Tế Hồi Hướng, là
đem công đức thiên căn của mình tu tập thú hướng cầu
chứng vô vi Niết Bàn.
-
Hồi tự hướng tha: cũng gọi là Chúng Sanh Hồi Hướng, là
nguyện đem công đức thiện căn của mình tu tập, mà bố
thí cho tất cả chúng sanh, nên gọi là Thập Hồi Hướng.
Thập
Ðịa như quyển thượng của kinh này thuyết minh: “Chư Phật
các ngài nên biết: từ Thập Kim Cương, tâm này vào trong Kiên
Thánh Nhẫn, Thập Ðịa hướng quả:
1.
Thể Tánh Bình Ðẳng Ðịa.
2.
Thể Tánh Thiện Huệ Ðịa.
3.
Thể Tánh Quang Minh Ðịa.
4.
Thể Tánh Nhĩ Diệm Ðịa.
5.
Thể Tánh Huệ Chiếu Ðịa.
6.
Thể Tánh Hoa Quang Ðịa.
7.
Thể Tánh Mãn Túc Ðịa.
8.
Thể Tánh Phật Hậu Ðịa.
9.
Thể Tánh Hoa Nghiêm Ðịa.
10.
Thể Tánh Nhập Phật Giới Ðịa.
Hành
giả Bồ Tát do mười tâm trên làm trí huệ vào thánh địa,
nên tiến thêm một bước nữa mới vào trong địa này.
Ðịa
là ý nghĩa gánh vác, chở che, là Bồ Tát tu hành đã vào bực
Thập Ðịa, hướng thượng: phải gánh vác chánh pháp của
Như Lai, hướng hạ: có thể che chở cho chúng sanh một cách
rộng lớn.
Chỗ
quy thú của công đức trí huệ, chỗ phát sanh từ bi phương
tiện, nên gọi là Ðịa. Dù mỗi Ðịa đều có thể xuất
sanh vô lượng pháp môn, nhưng vì sự cạn sâu của Ðịa và
vì thứ lớp bất đồng nên mới phân thành thập địa. Mười
địa này cùng với thập địa, thường nói trong các kinh,
tên gọi bất đồng, nhưng đều đồng gọi là bực thánh
giả.
Như
Lai sở dĩ ân cần khuyến giáo chư Bồ Tát phải nửa tháng
tụng giới vì sự thật, lúc hành Bồ Tát đạo, Ðức Phật
do thường tụng giới pháp của chư Phật mà được hoàn thành
Phật quả.
Giờ
đây, Ngài vì chúng sanh giảng Tâm Ðịa giới, mong tất cả
chúng sanh đều được siêu phàm nhập thánh, tuần tự chuyển
tiến, thú hướng Phật đạo và chúng sanh, đương nhiên cũng
phải y theo quy củ này của Phật, mỗi nửa tháng tụng giới
pháp của chư Phật, để huệ mạng của Như Lai được liên
tục không đoạn tuyệt. Thế nên Ngài phải hai ba phen ân cần
khuyên chư Bồ Tát tụng giới pháp này.
A.4.2.2.2.
PHÓNG QUANG GIỚI HỌC
(phóng
quang khiến đại chúng tụng và học giới pháp)
Kinh
văn
1.
Phiên âm:
Từ
câu “Thị cố giới quang tùng khẩu xuất...” cho đến câu
“...ưng thọ trì, ưng độc tụng, ưng thiện học”.
2.
Dịch nghĩa:
Vì
thế, nên giới quang từ miệng phóng ra. Phóng quang là vì có
nguyên do chớ chẳng phải vô cớ. Giới quang ấy chẳng phải
màu xanh, vàng, đỏ, trắng, và đen; chẳng phải sắc pháp
cũng chẳng phải tâm pháp, chẳng phải pháp hữu, pháp vô,
cũng chẳng phải pháp nhơn, pháp quả. Nó chính là bổn nguyên
của chư Phật, là căn bổn hành Bồ Tát đạo, là căn bổn
của chúng Phật tử. Vì thế nên chúng Phật tử phải thọ
trì, phải đọc tụng, phải học kỹ giới pháp này.
Lời
giảng
Kinh
văn phần trước nói: “Phật tức khẩu phóng vô lượng quang
minh” (Ðức Phật liền từ trong mịêng phóng ra vô lượng
tia sáng).
Giới
quang từ nơi miệng phóng ra, ý muốn nói rõ giới pháp từ
miệng Phật tuyên thuyết, quang minh ứng từ miệng Phật phóng
ra. Sở dĩ trong miệng Phật phóng ra quang minh, giảng nói giới
pháp này, là do nhờ lúc tu nhơn, hành Bồ Tát đạo, ngài thường
trì tụng giới pháp của chư Phật.
Giới
đủ công năng sanh thiện diệt ác, quang minh có lực dụng
chiếu sáng phá tối; nên giới quang từ miệng Phật phóng
ra, chúng sanh nào thấy được đều phát tâm Bồ Ðề. Chúng
sanh nào nghe được đều lìa khổ sanh tử.
Giới
quang đầy đủ công năng, lực dụng như vậy, không phải
vô nhân, vô duyên mà phóng quang nên nói “hữu duyên, phi vô
nhơn duyên cố quang” (phóng quang là vì có nguyên do, chớ
không phải vô cớ).
Giới
quang từ miệng đức Xá Na phóng ra, tất nhiên phải có nguyên
do, và việc đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật tụng giới
pháp hẳn nhiên không phải là vô cớ. Có chỗ giải thích
Tâm Ðịa diệu giới vốn không tự tánh; vô tự tánh giới
hiện khởi, dĩ nhiên phải nương nhờ nhân duyên.
Cái
gì là nhân? Cơ cảm chúng sanh là nhân.
Cái
gì là duyên? Ðức Như Lai tuyên thuyết là Duyên.
Lại
có chỗ nói giới pháp của chư Phật, đức Lô Xá Na tự tụng,
ngàn Phật tùy theo mà tụng. Ngàn Phật tự tụng, hàng Bồ
Tát sơ phát tâm và chư Bồ Tát đã phát tâm từ nhiều kiếp
lâu xa cũng tụng như thế. Cho nên duyên của giới quang chính
từ miệng Phật lưu xuất.
Ðã
có duyên thù thắng như thế thì chắc chắn có nhân thù thắng
của nó. Cho nên nói: “Hữu duyên phi vô nhân cố quang”.
Vì
e phàm phu, ngoại đạo và tiểu thừa khi nghe Phật nói có
nhân, có duyên, không liễu đạt giới quang sẵn có của tự
mình, một mặt hướng về ngoại cảnh dong ruổi tầm cầu,
sanh khởi vọng chấp không chánh đáng, nên Phật lại phân
biệt tổng phá rằng: Như trên nói phóng giới quang, đã là
vật sắc ngũ phương (1), chẳng phải màu xanh, vàng, đỏ,
trắng, đen, nên không sa vào ảnh tượng quả Biến Kế Chấp
của phàm phu; là lục nhập sắc tâm (2), chẳng phải sắc
pháp, chẳng phải tâm pháp, nên không sa vào quả vọng tưởng
tình cảnh của nhơn thiên. Lại không phải là vọng chấp
của lục sư (3), chẳng phải là pháp hữu, chẳng phải là
pháp vô thì không sa vào quả tà kiến, chấp thường, chấp
đoạn của ngoại đạo.
Cũng
không phải là pháp hý luận, chẳng phải là pháp nhân, pháp
quả, thì không sa vào quả sự tướng có tu, có chứng của
Tiểu Thừa. Ðã không lạc vào các quả trên, thì đương nhiên
chứng nhập Pháp Thân Diệu Quả. Tức là chân nhơn thành Phật.
Cho nên Tâm Ðịa giới quang này là pháp siêu việt tình trần,
ly khai kiến chấp hữu vô, bặt dứt tâm tu chứng và không
thể nghĩ bàn được.
Từ
trong miệng Ðức Phật phóng ra tâm địa giới quang không thể
nghĩ bàn, ấy là Bổn Nguyên Chánh Biến Tri Hải thênh thang
vô tận của chư Phật chứng đắc. Vì nếu chư Phật không
có tâm địa giới pháp này thì không thể chứng đắc quả
vô thượng Bồ Ðề và vô trụ Niết Bàn.
Chẳng
những là bổn nguyên của chư Phật thành Phật, mà cũng là
căn bổn của chư Bồ Tát hành Bồ Tát đạo. Vì Bồ Tát nếu
không có tâm địa giới pháp này thì không thể tu lục độ
vạn hạnh. Suy xuống những tầng lớp bên dưới, chúng sanh
đời đời kiếp kiếp sanh tử không cùng, nhưng đến đời
vị lai sẽ được thành Phật, ấy là do lấy tâm địa giới
pháp này làm căn bổn.
Cho
nên nói: “Thị đại chúng chư Phật tử chi căn bổn” (là
căn bổn của chư Phật tử). Thật có thể nói phàm thánh
không ai chẳng nương vào giới pháp này. Vì nương nơi giới
thanh tịnh, lẽ đương nhiên được chỗ gọi là Tịnh Cực
Quang Thông (giới nhơn là thời kỳ tu nhơn nghiêm trì tịnh
giới). Tâm Ðịa giới pháp này đã là căn bổn của đại
chúng, của chư Bồ Tát và của các đức Như Lai. Nên tiếp
theo kinh nói: “Thị cố đại chúng chư Phật tử ưng thọ
trì, ưng độc tụng, ưng thiện học” (Vì thế chúng Phật
tử phải thọ trì, phải đọc tụng, phải học kỹ giới
này) không nên có chút xem thường.
Thế
nào là thọ trì, đọc tụng?
-
Lãnh nạp nơi tâm là Thọ.
-
Giữ mãi không quên là Trì.
-
Niệm văn tự trong giới kinh là Ðọc.
-
Niệm thuộc lòng giới kinh là Tụng.
-
Gắng sức thực hành theo là Thiện Học.
Trong
ấy có sự liên quan với nhau, nghe rồi cần phải thọ trì.
Thọ trì rồi nhất định phải đọc tụng, Ðọc tụng thì
phải học kỹ. Vì nếu không thọ trì thì không thể tạo
được nhân thành Phật. Nếu không đọc tụng thì không thể
làm nhân tăng trưởng. Ðọc tụng mà không học kỹ thì chẳng
những trở thành nói suông, không bổ ích, lại không thể
chứng đắc diệu quả. Vì thế học giả với bốn việc nghe,
trì, đọc, học này phải thuận theo thứ lớp, đúng như pháp
mà thực hành, mới thấy được công dụng của giới pháp.
Chú
thích:
1.
Ngũ phương vật sắc:
*
Ngũ phương: Ðông, Tây, Nam, Bắc, và Trung Ương.
*
Vật sắc: ngũ sắc gồm có hai loại:
-
Ngũ chánh sắc: xanh, vàng, đỏ, trắng, đen.
-
Ngũ gián sắc: phi (màu điều), hồng, tử (tím), lục (xanh
lá cây), lưu hoàng (màu vàng cam).
Bộ
Hành Sự Sao Tư Trì Ký nói: “Ngũ sắc gồm nhiếp chánh sắc
và gián sắc trong ngũ phương. Mỗi sắc phối hợp với vị
trí trong ngũ phương như sau:
|
Ngũ
chánh sắc
|
Phương
hướng
|
Ngũ
gián sắc
|
|
Thanh
sắc
|
Ðông
phương
|
Lục
sắc
|
|
Bạch
sắc
|
Tây
phương
|
Phi
sắc
|
|
Xích
sắc
|
Nam
phương
|
Hồng
sắc
|
|
Hắc
sắc
|
Bắc
phương
|
Tử
sắc
|
|
Hoàng
sắc
|
Trung
Ương
|
Lưu
hoàng
|
2.
Lục nhập sắc tâm (lục nhập tức là lục căn): nhãn –
nhĩ - tỉ - thiệt – thân – ý.
Lục
căn thuộc về Tâm; Sắc là một ở trong lục trần. Nhưng
Sắc ở đây tượng trưng cho lục trần. Lục trần còn gọi
là Lục Cảnh. Vì sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp là sáu
cảnh sở duyên của sáu căn. Xưa dịch là Lục Nhập, nay dịch
là Lục Xứ. Lục Cảnh là Lục Nhập bên ngoài. Lục Căn là
Lục Nhập bên trong. Lục Nhập trong Thập Nhị Nhân Duyên là
Lục Nhập bên trong, tức Lục Căn. Chữ Nhập nghĩa là Thiệp
Nhập, là sáu căn với sáu cảnh thiệp nhập lẫn nhau mà sanh
ra sáu thức nên gọi là Xứ.
3.
Lục sư: Ngoại đạo nước Thiên Trúc, trong bộ Phiên Dịch
có thiên Lục Sư, nói tên Lục Sư như sau:
1)
Phú Lan Na Ca Diếp.
2)
Mạc Già Lê Câu Xa Lê.
3)
San Xà Dạ Tỳ La Chi.
4)
A Kỳ Ða Xí Sá Khâm Bà La.
5)
Ca La Cưu Ðà Ca Chiên Diên.
6)
Ni Kiền Ðà Nhã Ðề Tử.
A.4.2.2.3.
PHỔ NHẾP QUẦN CƠ (thâu nhiếp căn cơ của đại chúng)
Kinh
văn
1.
Phiên âm:
Từ
câu “Phật tử đế thính! Nhược thọ Bồ Tát giới giả...”
cho đến câu “...giai danh đệ nhứt thanh tịnh giả”.
2.
Dịch nghĩa:
Chúng
Phật tử hãy lóng nghe! Nếu là người thọ giới Bồ Tát
này không luận là quốc vương, thái tử, các quan chức, hay
tỳ kheo, tỳ kheo ni, không luận là chư thiên cõi Sắc, cõi
Dục; không luận là hàng thứ dân, huỳnh môn, dâm nam, dâm
nữ, hay hàng nô tỳ, cũng không luận là tám bộ quỷ thần,
thần Kim Cương hay loài súc sanh nhẫn đến kẻ biến hóa,
hễ ai nhận hiểu được lời truyền giới của Pháp Sư; thời
đều thọ đặng giới và đều giới gọi là thanh tịnh thứ
nhứt.
Lời
giảng
Giảng
đến đây, Ðức Phật lại bảo các Phật tử rằng:
-
“Hiện tại các ông cần phải chí tâm thành ý lóng nghe cho
kỹ, ta nói đây: Trường hợp của người phát tâm thọ giới
pháp của Phật, cùng người thọ giới tỳ kheo tăng có điểm
bất đồng: Thọ giới tỳ kheo chẳng những phải đủ năm
duyên thành tựu (1), lại phải trừ bỏ mười ba giá nạn
(2) mới được cho thọ giới. Nếu thiếu một trong năm duyên
nói trên và có một giá nạn vào trong mười ba giá nạn thì
không cho thọ giới tỳ kheo tăng”.
Vì
tỳ kheo tăng là thành phần trụ trì Tam Bảo (3), là phước
điền trong thế gian, là sư phạm của Nhân Thiên. Nếu không
phải là pháp khí thanh tịnh thì không thể phát sanh vô tác
giới thể. Trái lại, thọ giới Bồ Tát thì không khó khăn
như thế, chỉ có điểm tối cần là phải phát tâm Bồ Ðề
mới được thọ giới pháp của Phật.
Vì
bổn nguyên Tâm Ðịa diệu giới này tất cả chúng sanh đều
sẵn đủ, nên bất luận hiền, ngu, quý, tiện, nhân, phi nhân
(quỷ thần)... chủ yếu là có thể lãnh hội được lời
nói của Pháp Sư truyền giới, thì không chúng sanh nào không
có thể thọ giới pháp này của Phật. Những chúng sanh ấy
trong kinh văn lược nêu như sau:
-
Quốc vương là vị nhân chủ.
-
Vương tử là thanh cung (4).
-
Bá quan là các quan chức làm việc công của quốc gia để
quyết đoán những sự phải quấy.
-
Tể tướng (giới bổn Việt văn dịch là các quan chức) là
vị quân đứng đầu trong bá quan nắm cương lãnh triều đình
giúp cho quốc vương.
-
Tỳ kheo, tỳ kheo ni.
-
Mười tám vị Phạm thiên cõi trời Sắc giới (bổn Việt
văn gọi là “chư thiên cõi Sắc”)
-
Các thiên tử sáu cõi Dục (chư thiên cõi Dục) cõi trời Dục
Giới.
-
Ngoài ra hàng thứ dân là bá tánh ở nhân gian.
-
Hoàng môn là các quan hoạn ở nội cung.
-
Dâm nam, dâm nữ hy sinh sắc tướng.
-
Hàng nô tỳ phục vụ con người.
-
Lại còn có bát bộ quỷ thần thuộc về chúng Hộ Pháp.
-
Thần Kim Cương là vị thần cầm kim cương bảo xử theo hầu
chư Phật để ngăn dẹp ngoại ma, hộ trì Chánh Pháp.
-
Súc sanh là lục súc... cho đến người biến hóa là chỉ cho
thiên, long, quỷ, thần...
Vì
các vị này nếu để nguyên hình vào trong đại chúng rất
bất tiện, nên biến hóa hình người đến đạo tràng thọ
giới pháp của Phật.
Các
thứ chúng sanh như trên chủng loại bất đồng, chỉ cần
hiểu lời nói của Pháp Sư đều được thọ giới.
Nên
biết những chúng sanh vừa kể, xem về hình thái thì có sai
khác, nhưng về bổn tánh thì không có gì bất đồng. Cho nên
ở nhân gian này, bậc quý trọng như quốc vương, thái tử,
hạ tiện như hoàng môn, nô tỳ, cho đến những chúng sanh
khác, bất luận là quỷ thần, chủ yếu nghe hiểu được
lời nói của vị Pháp Sư thuyết giới, thì vị hành giả
Bồ Tát làm Truyền Giới Sư phải vì tất cả phải vì tất
cả chúng sanh ấy truyền trao Tâm Ðịa giới pháp.
Tuyệt
đối không nên có tâm phân biệt lựa chọn, nói chúng sanh
này có thể thọ giới, chúng sanh kia không được thọ giới.
Phải có tâm đại từ bình đẳng, không bỏ sót một chúng
sanh nào. Nhưng trong sự không lựa chọn phân biệt, vẫn có
chỗ lựa chọn phân biệt như sau:
1.
Chúng sanh nào không hiểu được lời nói của Pháp Sư truyền
giới thì không nên truyền giới Bồ Tát, vì dù truyền giới
cũng không thể đắc giới.
2.
Chúng sanh cõi Vô Sắc vì không có sắc thân, không phải pháp
khí thọ giới, nên phải trừ bỏ, không truyền giới.
3.
Chúng sanh trong địa ngục, thọ các thứ thống khổ, cực
hình, bị các khổ làm chướng ngại, nên cũng phải trừ bỏ,
không truyền giới.
Chúng
ta thấy Bồ Tát giới hết sức bao dung, không quá nghiêm khắc
như giới Thanh Văn. Vấn đề cần phải rõ ở đây là vì
sao thọ giới Thanh Văn lại nghiêm khắc như thế và thọ giới
Bồ Tát lại bao dung đến cả phi nhân, quỷ thần... đều
được bẩm thọ? Như thế không lẽ Bồ Tát thuần khiết
không bằng Thanh Văn hay sao? Sự thật vấn đề thế này:
-
Bồ Tát lấy việc lợi sanh làm mục đích duy nhứt, nên tinh
thần dung nạp luôn phải rộng mở, nếu như không thể bao
dung tất cả thì sự hóa độ không khỏi có hạn lượng.
-
Thanh Văn vâng giữ theo Tăng chế của đức Như Lai, trụ trì
chánh pháp của Phật, nên cần phải lựa chọn nghiêm cẩn,
nếu không thì chánh pháp của Như Lai không tránh khỏi có
chỗ tổn thất.
Ðây
là nguyên nhân căn bản khác nhau giữa Bồ Tát giới và Thanh
Văn giới.
Câu
“giai danh đệ nhứt thanh tịnh giả” (đều gọi là thanh
tịnh thứ nhứt) là nói các loại hữu tình trên, khi chưa
thọ giới Bồ Tát, thì có sự sai biệt nhiễm tịnh, cao hạ,
quý tiện.
Khi
thọ giới rồi, như kinh văn dạy ở trước: “Chúng sanh thọ
Phật giới tức nhập chư Phật vị” (chúng sanh nào thọ
giới của Phật, tức đã dự vào hàng chư Phật). Lúc ấy,
chúng sanh nào cũng thành pháp khí, tối thượng, đều là thanh
tịnh thứ nhất, lại cũng không còn sữ khác biệt ai nhiễm,
ai tịnh, ai cao, ai thấp, ai quý, ai tiện, ai trí, ai ngu....
Lại
có chỗ giải thích: Khi chưa thọ giới, vì Tâm Ðịa diệu
giới bị phiền não làm nhiễm ô, nên không được thanh tịnh.
Giờ đây thọ giới trước tiên theo kinh dạy phải tha thiết
sám hối, gột rửa thân tâm, đầy đủ phạm hạnh thanh tịnh,
nên gọi là đệ nhứt thanh tịnh.
Chú
thích:
1.
Năm duyên thành tựu:
*
Lối giải thích thứ nhất:
-
Nhân: chỉ người thọ giới
-
Tăng chỉ cho chúng tăng như Hòa Thượng truyền giới và Yết
Ma, Giáo Thọ, các tôn chứng....
-
Pháp: là lúc làm lễ truyền trao giới pháp đúng như pháp,
như luật, như lời Phật dạy mà thực hành.
-
Y bát là mỗi giới tử lúc thọ giới Cụ Túc phải có đủ
ba y và bình bát.
*
Lối giải thích thứ hai:
-
Nhơn thành tựu: chỉ cho các vị thọ giới thuộc về người
trong nhơn đạo và các căn phải đầy đủ, không phải là
người phá trọng giới, cũng phải đầy đủ hình tướng
của người xuất gia. Trước tiên thọ giới Sa Di, sau mới
cho thọ giới Cụ Túc (bên Ni thọ Sa Di, phải thọ Thức Xoa,
học giới hai năm mới thọ Cụ Túc).
-
Kiết giới thành tựu: bạch Tứ Yết Ma, tăng số đầy đủ,
không có lỗi biệt chúng, y bát đầy đủ.
-
Tự xưng danh thành tựu: Giới tử thọ giới Cụ Túc phải
tự xưng tên của mình và xưng tên của Hòa Thượng, thành
tâm khất cầu giới pháp.
-
Tâm thành tựu: tâm và cảnh đều tương ứng.
-
Sự thành tựu: việc thọ giới được cứu cánh thành tựu,
trước là thỉnh sư, sau thọ giới. Xong rồi, trước cũng
như sau đều đúng pháp.
2.
Mười ba giá nạn
Nói
chung gồm 13 giá tội và mười ba nạn tội. Giá tội thuộc
về khinh, chữ “giá” nghĩa là ngăn che. Nạn tội thuộc
về trọng; chữ “nạn” là chướng nạn.
*
Mười ba nạn tội:
-
Biên tội nạn: Người trước kia thọ Cụ Túc Giới, rồi
phạm bốn pháp Ba La Di thì người ấy ở bên ngoài Phật pháp
nên gọi là Biên Tội.
-
Phạm Tỳ Kheo Ni: Lúc còn làm người thế tục, phạm giới
tỳ kheo ni nghiêm trì tịnh giới.
-
Tặc tâm thọ giới: Lúc làm người thế tục, hoặc xuất
gia làm sa di, trộm nghe chúng tăng thuyết giới yết ma, rồi
giả dối xưng mình là tỳ kheo, nên gọi là “tặc tâm thọ
giới”.
-
Người phá nội, ngoại đạo: Người trước kia tu theo ngoại
đạo, sau vào Phật pháp thọ giới Cụ Túc. Thọ giới Cụ
Túc rồi lại bỏ Phật pháp trở về ngoại đạo, bấy giờ
muốn trở lại thọ giới Cụ Túc. Người này với hai bên
Phật pháp và ngoại đạo đều phá hoại, tâm tánh không nhất
định, nên gọi là “phá nội ngoại đạo”.
-
Hoàng môn: năm hạng người bất nam. Trong Luật gọi là “sanh
bất nam” là khi vừa sanh ra không có bộ phận dương vật
của nam tử. Kiện bất nam là có dương vật nhưng tự cắt
(trường hợp cắt sau khi thọ Cụ Túc thì không ở trong cấm
lệ), biến bất nam, bán bất nam, đố bất nam.
-
Giết cha.
-
Giết mẹ.
-
Giết A La Hán.
-
Phá Tăng và phá pháp luân tăng, nếu là phá yết ma tăng thì
không ở trong nạn này.
-
Làm thân Phật xuất huyết.
-
Nạn phi nhơn: quỷ thần trong bát bộ biến hóa thành hình
người để thọ giới.
-
Súc sanh nạn: súc sanh biến hóa làm hình người để thọ
giới.
Nạn
nhị hình: người đủ hai căn nam và nữ.
*
Mười ba giá tội (có chỗ gọi là thập lục giá):
-
Không biết tên mình.
-
Không biết tên Hòa Thượng của mình.
-
Không đủ hai mươi tuổi.
-
Không đủ ba y.
-
Không có bình bát.
-
Cha không cho phép.
-
Mẹ không cho phép.
-
Mình thiếu nợ của người.
-
Làm nô lệ cho người.
-
Ðương làm quan trong quốc gia (nếu hưu trí hay xin nghỉ thì
không trong hạn lệ cấm này).
-
Không phải là nam tử.
-
Có bịnh hủi.
-
Có bịnh ung thư.
-
Có bịnh bạch lại.
-
Mắc bịnh còm xấu, thân hình gầy gò, ốm yếu.
-
Bị điên cuồng.
Mười
sáu giá tội này thường gọi là “mười ba giá tội”, nhưng
trong Luật khi chất vấn giới tử thì chỉ có mười thứ:
y bát tính là một, cha mẹ tính là một, năm thứ bịnh tính
là một, cộng là mười giá tội.
3.
Trụ Trì Tam Bảo:
Một
trong bốn loại Tam Bảo. Kính Quán Vô Lượng Thọ nói: “Là
Phật tử phải nhất tâm cung kính Tam Bảo và phụng sự sư
trưởng. Tất cả:
-
Phật Ðà là Phật Bảo.
-
Giáo pháp của Ðức Phật tuyên thuyết là Pháp Bảo.
-
Những người theo giáo pháp của Phật tu hành là Tăng Bảo.
-
Phật là giác tri.
-
Pháp là phép tắc.
-
Tăng là hòa hợp.
Bốn
loại Tam Bảo:
1)
Nhứt Thể Tam Bảo: còn gọi là đồng thể Tam Bảo, đồng
tướng Tam Bảo, nghĩa là thể của mỗi Tam Bảo đều có ý
nghĩa Tam Bảo. Trên thể của Phật Bảo bao hàm ý nghĩa giác
chiếu là Phật Bảo, Quỹ Tắc là Pháp Bảo, không trái chống
nhau là Tăng Bảo. Như thế, Phật Bảo có đủ Tam Bảo. Tóm
lại, Tam Bảo có quán trí là Phật Bảo, có quỹ tắc là Pháp
Bảo, hòa hợp không chống trái là Tăng Bảo.
2)
Lý Thể Tam Bảo: trên thể của Chơn Như mà thành lập đủ
Tam Bảo. Lý thể Chơn Như cùng với giác tánh, pháp tướng
không trái chống nhau nên gọi là Lý Thể Tam Bảo.
3)
Hóa Tướng Tam Bảo: Còn gọi là Biệt Tướng Tam Bảo, Chơn
Thật Tam Bảo. Tam Bảo này có hai loại:
-
Tam Bảo Ðại Thừa: ba thân của chư Phật là Phật Bảo, lục
độ là Pháp Bảo, Thập Thánh là Tăng Bảo.
-
Tam Bảo Tiểu Thừa: Hóa thân Phật tương tục là Phật Bảo,
pháp Tứ Ðế, Thập Nhị Nhân Duyên là Pháp Bảo, tứ quả
Thanh Văn, Duyên Giác là Tăng Bảo.
4)
Trụ Trì Tam Bảo: Sau khi Phật nhập diệt, Tam Bảo cửu trụ
ở thế gian, dùng các danh mộc điêu khắc tượng Phật, hoặc
dùng bùn, đất, xi măng tô đắp tượng Phật, dùng giấy vẽ
hình tượng Phật... là Phật Bảo. Văn cú trong Tam Tạng thánh
điển là Pháp Bảo. Phật tử xuất gia, cạo râu tóc, mặc
y hoại sắc là Tăng Bảo.
Bốn
loại Tam Bảo trên có hai loại trước thuộc Ðại Thừa, hai
loại sau thông cả Ðại, Tiểu Thừa.
1.
Thanh Cung
Cung
điện của Thái Tử. Bộ Thần Dị Ký nói: “Ở phương Ðông
núi Ðông Minh có một cung điện dùng đá xanh làm vách, ngoài
cửa có bảng bằng bạc, cũng dùng đá xanh chạm khắc sáu
chữ “thiên địa trưởng nam chi cung” (cung con trưởng nam
của trời đất). Vì lý do ấy nên gọi là Thanh Cung. Bộ sách
trên nói:
-
Phương Ðông thuộc về cung Chấn. Cung Chấn là trưởng tử.
Xưa kia Tần Vương lúc còn làm Thái Tử. Phụ hoàng của Tần
Vương nói: “Phương vị của con ta ở tại Ðông Cung nên
cần đem việc trong cung ủy thác cho Thái Tử”. Vì thế nên
nói Ðông Cung là cung điện của Thái Tử ở.

|