B.1.1.5.
CÔ TỬU GIỚI (giới bán rượu)
Kinh
văn:
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử tự cô tửu, giáo nhân cô tửu...”
cho đến câu “thị Bồ Tát Ba La Di tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
Phật tử tự mình bán rượu, bảo người bán rượu, nhân
bán rượu, duyên bán rượu, cách thứ bán rượu, nghiệp bán
rượu. Tất cả mọi thứ rượu đều không được bán. Rượu
là nguyên nhân danh tội lỗi. Là Phật tử lẽ ra phải làm
cho tất cả chúng sanh có trí huệ sáng suốt, nhưng trái lại
đem sự say mê điên đảo cho tất cả chúng sanh, Phật tử
này phạm Bồ Tát Ba La Di tội.
Lời
giảng:
Bốn
trọng giới Sát, Ðạo, Dâm, Vọng đều đã giảng rõ ở trước.
Giờ đây, xin giảng giới Cô Tửu thứ năm.
Chữ
“cô” có hai nghĩa: mua và bán, nên mua rượu gọi là cô
tửu, mà bán rượu cũng gọi là cô tửu.
Rượu
là ẩm liệu để uống, có chứa tính ma túy bên trong nên
uống nhiều sẽ làm cho người hôn mê. Do đó, Ðại Thừa
cũng như Tiểu Thừa, Tăng cũng như tục, đối với rượu
đều bị nghiêm cấm. Chẳng những năm chúng xuất gia không
được sinh sống bằng nghề bán rượu, mà cả hai chúng tại
gia cũng không được làm nghề này.
Phật
pháp cho việc bán rượu và đặt mua rượu là việc bất hợp
luật nghi. Nếu làm việc này để làm phương tiện mưu sinh
về kinh tế, là điều Phật pháp không thừa nhận, vì trái
với tinh thần Phật pháp. Với hành giả bên Thanh Văn thì
phạm về luật mua bán quy định trong Thất Tụ và chỉ phạm
vào thiên thứ ba của giới “cấm mua bán”.
Nhưng
với hành giả Bồ Tát bên Ðại Thừa, trong tinh thần lấy
lợi tha làm chủ yếu, tuyệt đối không được mua bán rượu,
nếu làm thì phạm căn bổn trọng tội không thể tha thứ.
Tại
sao mua bán rượu phạm căn bổn trọng tội không thể tha thứ?
Vì
rượu là thuốc vô minh, cũng là thứ làm loạn tâm tánh, uống
vào sẽ bị hôn mê. Thế là không hợp với tinh thần Bồ
Tát. Bồ Tát giáo hóa dẫn dắt chúng sanh được tăng trưởng
và kích phát mọi người hướng thiện. Ðã không làm như
vậy, lại cho người uống thuốc vô minh, khiến tâm tánh hôn
mê tán loạn thì đâu phải là hành vi của Bồ Tát, cho nên
phải quyết định nghiêm cấm.
Thông
thường việc uống rượu được xem là rất quan trọng, là
một trong năm giới cấm. Thế tại sao việc mua bán rượu
liệt vào giới trọng mà uống rượu để vào giới khinh?
Vì
tội uống rượu quả thật rất nặng, nhưng chỉ tai hại
trong phạm vi bản thân một cá nhân, chứ không gây tổn hại
đến nhiều người. Ðối với Ðại Thừa Bồ Tát, uống rượu
không phải là một trọng tội đứng đầu mà chỉ liệt vào
một trong bốn mươi tám giới khinh.
Còn
người đặt rượu và bán rượu làm cho quảng đại quần
chúng bị thương hại, thậm chí còn đi đến chỗ bại quốc,
vong gia, táng thân, mất mạng. Việc này thường thấy không
ít trong lịch sử, Cho nên Ðức Phật đặc biệt đem việc
mua bán rượu và đặt rượu chế thành giới trọng.
Triều
nhà Hạ bên Trung Hoa có ông Nghi Ðịch có tài pha chế rượu
rất ngon, ông đem rượu phụng hiến lên vua Võ Ðế. Nhà vua
dùng thử, thấy hương vị của rượu rất đậm đà, ngấm
vào cơ thể tạo ra cảm giác ngất ngây.
Vua
biết rằng nếu để nhân gian uống rượu này sẽ gây hậu
quả vô cùng tai hại, thậm chí có thể đến cảnh nước
mất nhà tan. Từ đó, chẳng những ngài cấm không cho nấu
và pha chế rượu; riêng đối với Nghi Ðịch, ngài còn xa
lánh dần dần và chính bản thân nhà vua cũng hết sức tự
khiển trách về việc uống rượu.
Trong
lịch sử Trung Hoa, vua Võ Ðế nhà Hạ thật là một bậc minh
quân, minh trí. Chính thiện cử này là một trong những nguyên
nhân tạo nên phong cách, cũng như tinh thần cao quý của ngài.
Nếu đương thời, sau khi uống rượu, Ngài cảm thấy ưa thích
vị ngon ngọt của rượu, rồi mải trầm mê trong những chén
rượu ấy thì Ngài sẽ không bao giờ được lịch sử suy
tôn là một bậc minh quân như thế.
Vì
người nấu rượu và mua bán rượu gây ảnh hưởng xấu cho
rất nhiều người, nên quyết không phải đó là hành vi của
một vị Bồ Tát. Vì thế, trong kinh này, dù chưa luận đến
tội lỗi của việc uống rượu, mà trước tiên, đã ngăn
cấm việc nấu rượu cũng như bán rượu.
*
Thời kỳ chiến tranh Hoa - Nhật:
Ở
Hương Cảng có một vị ưu bà di rất thâm tín pháp môn Tịnh
Ðộ, và rất tôn kính ngài Liên Tông Thập Tam Tổ Ấn Quang
đại sư. Phật tử này viết thư thỉnh đại sư đến Hương
Cảng tỵ nạn.
Ngài
biết gia đình của Phật tử này đã nhiều đời sống với
nghề nấu và pha chế rượu nên viết thư phúc đáp rằng
nếu muốn ngài đến Hương Cảng tỵ nạn thì phải từ bỏ
nghề nấu rượu. Theo đây, chúng ta thấy đối với giới
này, Ấn Tổ xem trọng đến mức nào.
Rượu
sở dĩ bị nghiêm cấm vì nó là tuyền nguyên sản sanh các
tội lỗi. Trên thế gian, biết bao người tạo không biết
bao nhiêu tội lỗi, thậm chí phạm đến tội ngũ nghịch,
thập ác, đều là do sau khi uống rượu quá độ, sanh hôn
mê mà tạo thành. Vì khi say rượu thì lý trí bị mất hẳn.
Chẳng những đối với những việc công đức pháp lành cần
phải làm, họ đã không chịu làm, mà chính những công đức
pháp lành họ đã tạo trước đây cũng bị mất hẳn, để
rồi trọn ngày thân tâm điên đảo, không biết làm việc
gì.
Lại
nữa, khi uống rượu say thì không thể tự khống chế mình.
Trong việc sinh hoạt hằng ngày thì hoang phí, huy hoắc (tiêu
tiền không nghĩ) vô độ, là cội gốc mọi sự gây gỗ với
người khác; là yếu môn sanh các thứ bịnh cho bản thân,
tâm tánh cuồng loạn, không biết hổ thẹn, không biết liêm
sỉ. Ðến nỗi, nhiều khi thoát hết cả y phục trên thân,
đi đứng xiêu vẹo, té lên té xuống, nằm vất vưởng đầu
đường xó chợ, bị người chê bai không đếm xỉa đến,
tiếng xấu lan khắp mọi nơi.
Cuối
cùng, với các bậc chánh nhân quân tử ngày một xa dần, với
bọn ác hữu, ác nhân ngày một gần gũi. Ðể rồi ngày càng
đi vào vực sâu tội ác không phương cách tự cứu!
Như
thế, chúng ta thử nghĩ tai hại của rượu lớn biết chừng
nào! Chẳng những thế, còn có những sự tình bất luận quan
hệ với mình hay liên quan đến người, vốn nên giữ bí mật,
nhưng khi đã quá say, không kiềm chế được miệng, đem nói
hết cho mọi người nghe. Nếu vấn đề hay sự việc không
đến nỗi quan trọng thì không nói chi; trái lại, giả như
đó là sự việc tối mật, thì họa hoạn vô cùng. Có nhiều
kẻ sau khi uống rượu, phát cuồng, nói bậy đến nỗi táng
thân mất mạng, việc này rất thường thấy trong xã hội.
Dù
bạn là một người biết tôn trọng lễ nghi đến độ nào,
khi say rồi thì nội tâm mờ mịt, tôn ty già trẻ không phân.
Ðối với cha mẹ đáng lẽ phải hiếu thuận cung kính, trở
lại đánh mắng. Ðối với bậc trưởng thượng, lẽ ra phải
tôn trọng, nhưng ngược lại làm ô nhục, hủy báng các ngài.
Còn
như bạn là một Phật tử, xưa nay đối với Tam Bảo hết
dạ chí thành, chí kính; nhưng một khi uống rượu vào rồi
hôn mê, vội đem Tam Bảo vất ra sau ót, lại cũng không biết
thế nào là cung kính Phật, Pháp, Tăng. Chẳng những thế khi
chất độc của rượu ăn sâu quá rồi, bạn không còn được
là một người bình thường, mà đã trở thành một kẻ cuồng
si.
Những
việc không đáng nóng giận, bạn lại phát đại sân nộ một
cách phi lý. Những việc vốn không nên buồn rầu khóc lóc,
bạn lại thương tâm khóc kể mãi không thôi. Những việc
vốn không nên nói nhiều, bạn lại lớn tiếng, cao giọng,
nói bậy. Những người vốn không nên đánh đập thì bạn
lại xông tới đánh họ. Những hành động mất phong độ
chánh thường như vậy, không phải là điên cuồng thì là
gì?
Khi
đã như thế thì những giới phẩm bạn cần phải nghiêm giữ,
lại không thể giữ gìn đúng theo pháp, nên tự nhiên bạn
sẽ trở thành một tội nhân phạm giới trong Phật pháp.
Giới
phẩm đã không giữ gìn, nội tâm lại tán loạn không thôi.
Khi tưởng nhớ việc này, khi nghĩ suy việc khác. Sinh hoạt
theo lối si mê, tán loạn trong cảnh thiên hôn địa ám, tự
nhiên trí huệ sẽ mất hẳn, không thể biện biệt phải quấy,
chánh tà.
Lại
nữa người uống rượu quá say, tất nhiên thân tâm phóng
dật theo đuổi thú vui thinh sắc. Lâu ngày thể xác dần suy,
sắc thân mỗi ngày một bại hoại, cuối cùng chỉ còn da
bọc xương, không còn giống hình hài một con người nữa.
Tóm
lại:
Rượu
có những đại quá hoạn như thế. Lớn thì tán thất huệ
mạng; nhỏ thì tàn hại sắc thân, nên Phật pháp không thể
cho phép bán rượu hay nấu chế rượu.
Mua
hay bán đều gọi là “cô”. Nhưng chữ “cô” ở đây là
chỉ về việc bán rượu. Bán rượu là việc đổi chác, đem
vốn cầu lời. Nếu nói về tinh thần kinh thương thế tục
thì không có gì đáng phải cấm ngăn, bàn luận. Nhưng đối
với lập trường của Phật pháp, luận về cầu đạo giải
thoát thì không thể không phân tách sự lợi hại đối với
việc này, nên dù là Phật tử tại gia, đã thọ Bồ Tát giới,
bạn cũng không được làm việc buôn bán bất hợp luật nghi
ấy.
Ðức
Phật dạy: Nếu một Phật tử hành Bồ Tát đạo, dù tự
cô tửu hay giáo nhân cô tửu đều trái với luật nghi của
Bồ Tát.
-
Tự cô tửu là chính mình làm nghề pha chế rượu bán để
thu lợi sinh sống.
-
Giáo nhân cô tửu là mình mở tiệm, quán cho kẻ khác bán
rượu.
Nếu
số lời thu được thuộc về phần mình thì đồng với tự
mình bán rượu không khác, nên phạm căn bổn trọng tội.
Nếu số lời thu hoạch được thuộc về phần người đứng
bán, theo sự lý giải của kinh, có chỗ cho là kết thành tội
khinh cấu, có chỗ lại cho rằng thuộc về căn bổn trọng
tội.
Tại
sao vậy? Vì tiền lời tuy thuộc về người khác, nhưng chính
bạn dạy người bán rượu, cho nên mới khiến có người
mua rượu về uống, gây tổn hại thân thể họ, tán thất
huệ mạng của họ. Vì vậy, tự bán hay bảo người bán không
có gì khác nhau. Ðây là những tác hại nhắm vào việc làm
cho tâm chúng sanh bị điên đảo, chứ không chỉ đơn thuần
nhắm vào phương tiện kiếm lời mà thôi. Nghĩa là chủ yếu
làm cho chúng sanh bị hôn mê, điên đảo thì không luận là
đích thân bạn hay bạn bảo người khác bán rượu, tội ấy
vẫn bằng nhau. Cho nên đều kết thành căn bổn trọng tội.
Do
đó, một hành giả Bồ Tát chân chánh, dù bất cứ nhân duyên
nào đều không được bán rượu. Dù trước kia bạn sống
với nghề bán rượu, nhưng một khi đã phát tâm Bồ Ðề,
thọ Bồ Tát giới, phải tức khắc đổi nghề. Nhất định
không giữ mãi nghề bán rượu này để tự hại mình và hại
người.
Bán
rượu kết thành trọng tội đều do hội đủ bốn điều
kiện giống như các giới trước: nhân, duyên, pháp, nghiệp.
1.
Cô tửu nhân (nhân bán rượu): đầu tiên khởi một tâm niệm
bán rượu để lấy lời nhiều gọi là nhân bán rượu.
2.
Cô tửu duyên (duyên bán rượu): tâm niệm bán rượu này tương
tục không gián đoạn, đưa đến việc bán rượu.
3.
Cô tửu pháp (cách thức bán rượu): quá trình làm việc bán
rượu có những hình thức mua vô, bán ra một lít, hai lít,
một xị, hai xị v.v... cùng các phương thức, tư cụ mua bán
gọi là cách thức bán rượu.
4.
Cô tửu nghiệp (nghiệp bán rượu): việc vận dụng tay mình
bán rượu, đem rượu trao cho người mua để hình thành việc
bán rượu, gọi là nghiệp bán rượu.
Rượu
có nhiều loại như:
-
Thiêu tửu (rượu dùng để đốt như alcohol), loại này hàm
chứa tinh chất của rượu rất nhiều và trong suốt, không
màu sắc.
-
Hoàng tửu là rượu có sắc vàng.
-
Khúc tửu là rượu ở trong chất men.
-
Bồ đào tửu là rượu làm bằng trái bồ đào.
-
Cam giá tửu là rượu mía.
-
Quả tử tửu là rượu làm bằng các thứ trái cây.
-
Thảo mộc tửu là rượu chế bằng các thứ cây cỏ.
-
Mễ tửu là rượu nấu bằng gạo, nếp v.v...
Bất
luận là thứ nào trong các thứ nói trên, không luận về nồng
độ rượu mạnh hay yếu, chỉ cần người uống bị hôn mê,
đều không được bán. Cho nên kinh dạy: “Nhứt thiết tửu
bất đắc cô” (tất cả các thứ rượu đều không được
bán).
Tại
sao vậy?
Trong
kinh dạy tiếp rằng: “Rượu là nhân duyên sanh khởi các
tội ác”. Cứ xem nhân loại hiện nay trong xã hội, phân tranh
gay gắt, phát sanh vô số đại quá hoạn, đa số đều do uống
rượu mà ra. Hàng Phật tử bất luận tại gia hay xuất gia,
nhiều vị giới hạnh không thanh tịnh cũng do nơi uống rượu
mà hủy phạm giới cấm. Thậm chí đến nỗi khuynh gia bại
sản, tán quốc vong gia, tán thân mất mạng, đa số đều do
uống rượu gây nên.
Ðại
Trang Nghiêm Luận có dạy: “Phật thuyết thân khẩu ý, tam
nghiệp chi ác hạnh, duy tửu vi căn bổn” (Phật dạy thân,
khẩu, ý, ác hạnh của ba nghiệp chỉ do rượu làm gốc).
Do
đây, chúng ta thấy tai hại của rượu to lớn vô cùng. Như
một người bản chất văn nhã và từ ái, khi bị rượu làm
hôn mê, dám làm những việc đánh mắng người và trở thành
một kẻ hung bạo. Như vậy không phải là do uống rượu mà
sanh ra là gì?
Vì
rượu có khả năng sanh ra các tội ác, là cội nguồn của
tất cả ác hạnh, cho nên Phật nghiêm cấm tất cả hành giả
Ðại Thừa Bồ Tát không được bán rượu.
Bồ
Tát vì hóa độ chúng sanh mà phát tâm Bồ Ðề, nhận thấy
chúng sanh đang ở trong vòng vô minh mê vọng, sinh hoạt quanh
quẩn trong vòng tội ác thiên hôn địa ám, nên mới vận dụng
các thứ thiện quyền phương tiện để khai phát trí huệ
minh đạt cho chúng sanh.
Kinh
dạy tiếp theo: “Nhi Bồ Tát ưng sanh nhứt thiết chúng sanh
minh đạt chi huệ” (là Bồ Tát, lẽ ra phải làm cho tất
cả chúng sanh có trí huệ sáng suốt).
Sanh
khởi trí huệ minh đạt cho chúng sanh là làm cho chúng sanh
biện biệt được phải quấy, thiện ác, thông đạt sự lý,
biết chỗ thủ xả, hiểu rõ chánh tà, không bị hôn mê che
lấp, cũng không bị trệ ngại, không còn bồi hồi trên con
đường mê tối, chỉ hướng về con đường của đấng Ðại
Giác mà tiền tiến. Ðấy mới chính là bi nguyện của Bồ
Tát cần thực hành. Nếu đã không thực hành như vậy, lại
còn đi bán rượu, khiến cho người sau khi uống rồi, vốn
là kẻ nhút nhát, biến thành người to gan, tâm tánh vốn nhu
hòa trở thành cường bạo; bản chất là người thông đạt
sự lý trở nên kẻ mê muội, tối tăm, vốn là người thông
đạt quyền biến trở nên kẻ ngu muội, đần độn. Như vậy
đều là do nơi rượu sai khiến.
Vì
vậy, làm sao có thể nói việc bán rượu là không quan trọng?
Làm sao có thể nói chỉ là tùy tiện đôi chút mà không cần
lưu tâm đề phòng? Làm sao không cực lực tuyệt đối ngăn
cấm?
Hành
giả Bồ Tát lấy việc lợi sanh làm trách nhiệm của mình,
nên trên mọi khía cạnh, đều có bổn phận khai phát trí
huệ cho chúng sanh, khích phát chúng sanh có chí hướng thượng,
khiến cho chúng sanh đồng bước trên con đường của đấng
Ðại Giác luôn tiến bước không ngừng. Nếu không thành tựu
được những điều như vậy, thì không đúng với hạnh nguyện
của Bồ Tát.
Nên
kinh dạy tiếp: “Nhưng trái lại còn làm cho tất cả chúng
sanh sanh tâm điên đảo”, ở đây bảo là làm cho tất cả
chúng sanh điên đảo, có nghĩa là đem rượu bán cho người,
làm cho tâm tánh của chúng sanh mê hoặc, điên điên đảo
đảo thì đâu còn gì là tâm hạnh của vị Bồ Tát.
Ðúng
thế! Ðại đa số chúng sanh trên thế gian này đều ngu muội,
nhưng không phải không có người minh đạt luân lý. Ðã minh
đạt thì không có lỗi lầm, và nếu lại gia tâm đề cao
cảnh giác, luôn luôn tự sách phát cho mình thì có thể đi
trên con đường giải thoát lớn của pháp xuất thế. Nay vì
bạn đem rượu bán cho người làm cho người mãi hôn mê, đó
là việc hoàn toàn trái nghịch với luân lý, thử hỏi tội
ác của bạn lớn hay không?
Lại
nữa có những hành giả tu học Phật pháp, thông đạt và
vững tin nơi luật nhân quả, thiện ác. Việc làm không bao
giờ dám trái luật nhân quả và đã có công phu tu chứng;
nay vì bạn đem rượu bán cho người, khiến người biến thành
một kẻ ngu xuẩn, vô trí, mê muội đối với lý nhân quả,
hoặc phủ nhận luật nhân quả và cho tu chứng không có ý
nghĩa gì. Bấy giờ, họ bỏ phế công phu tu hành trước kia,
thử hỏi tội ác của bạn lớn hay không lớn?
Vì
tham lam muốn thâu được nhiều tiền của, vận dụng phương
kế bán rượu cho người uống, khiến người hôn mê, điên
đảo, và làm những việc không nên làm. Tội lỗi này đương
nhiên rất nặng, nên cuối cùng, kinh văn dạy: “Thị Bồ
Tát Ba La Di tội” (Phật tử này phạm Bồ Tát Ba La Di tội).
-
Không được bán rượu là đoạn trừ tất cả ác, thuộc
về Nhiếp Luật Nghi Giới.
-
Nên sanh khởi trí huệ minh đạt do nơi tu tập tất cả các
pháp lành, thuộc về Nhiếp Thiện Pháp Giới.
-
Làm cho chúng sanh tâm không điên đảo, đó là khắp độ chúng
sanh, thuộc Nhiếp Chúng Sanh Giới.
Nếu
giữ gìn giới không bán rượu nghiêm cẩn thì Tam Tụ Tịnh
Giới của Bồ Tát được trọn vẹn. Nếu phạm giới bán
rượu là hủy phạm Tam Tụ Tịnh Giới của Bồ Tát, như vậy
mất hẳn tư cách Bồ Tát.
Cho
nên, muốn làm một vị Bồ Tát chân chánh, danh hợp với thật,
chẳng những không được sát sanh, trộm cắp, dâm dục, vọng
ngữ, mà còn không được bán rượu nữa. Vì họa hại của
sự bán rượu vô cùng vô tận. Trong khi Bồ Tát phải lấy
việc lợi sanh làm tối yếu, đâu nên vì mưu cầu sự sống
cho cá nhân mình mà để họa hại vô cùng tận cho chúng sanh?
Giới
không bán rượu chỉ thuộc về giá nghiệp mà không thông
nơi tánh nghiệp. Vì giới này chỉ ngăn cấm những người
thọ giới Bồ Tát, không phải là điều ngăn cấm của pháp
luật thế gian.
Các
quốc gia trên thế giới hiện nay, không nước nào ngăn cấm
làm rượu và bán rượu hay nấu rượu vì việc bán rượu
thu được một số ngoại tệ rất lớn và tiền thuế rượu
cũng nhiều. Nhưng vì việc này thuộc về Ác Luật Nghi nên
chẳng những hàng Phật tử đã thọ giới nếu bán rượu
sẽ phạm tội này mà ngay đến những người không thọ giới,
sống với nghề này cũng bị chiêu cảm quả báo không tốt.
Cho
nên Ðức Phật đặc biệt vì các đại sĩ đã phát Bồ Ðề
tâm và thọ Bồ Tát giới, chế định giới điều này để
ngăn cấm rất nghiêm khắc. Ðồng thời, khuyến dạy các Bồ
Tát không được sinh sống bằng nghề bán rượu và làm rượu.
Nếu làm thì phạm Ba La Di tội.
Như
có người lại cho rằng không có quả báo tội ác thì Ðức
Phật là một đấng đại từ đại bi cần gì phải chế lập
giới điều này làm cho chư Bồ Tát phải bị sự thúc phược
vô ích?
Uống
rượu làm cho người say loạn nên đương nhiên không được
bán. Nhưng các thứ rượu dùng trị liệu những bịnh đau
nhức vẫn không được bán hay sao?
Có
chỗ nói: Bồ Tát tại gia vì muốn duy trì sự sanh sống cho
cá nhân và gia đình, hoặc vì mong cầu tiền lời mà bán rượu
thuốc thì không vi phạm Bồ Tát luật nghi vì hai lý do sau
đây:
-
Vì rượu thuốc diệt trừ bệnh hoạn cho người, làm cho thân
tâm con người được an ổn, khang kiện.
-
Trong rượu thuốc có các thứ thuốc nên khi người dùng, chỉ
dùng đúng liều lượng mà thôi, không thể buông lung uống
quá lượng đến nỗi sanh ra tội hôn mê, say loạn, cho nên
không vi phạm Bồ Tát giới. Những điều này chỉ cho phép
Bồ Tát tại gia, còn Bồ Tát xuất gia thì tuyệt đối không
cho phép, vì đó là việc nuôi sống tà mạng, trái với nếp
sống chánh mạng.
Có
chỗ nói rằng bất luận Bồ Tát tại gia hay xuất gia, đều
ở trong phạm vi ngăn cấm không cho phép, vì trong các luật,
luận từ trước đến nay không thấy khai mở giới này. Nhưng
đó là nói về tất cả các thứ rượu uống vào làm cho tâm
tánh mê loạn, chứ đối với các thứ rượu thuốc thì vô
hại.
Giới
bán rượu kết thành trọng tội cũng không phải đơn giản,
phải hội đủ năm duyên, lược phân biệt như sau:
1.
Thị chúng sanh: Có ba phẩm sai biệt:
-
Nếu bán rượu cho chúng sanh thượng phẩm thì phải căn cứ
bán rượu cho người nào để định tội khinh, trọng.
-
Nếu bán cho những người uống mà họ không bị hôn mê, tán
loạn thì chỉ phạm tội khinh cấu.
-
Nếu bán cho những người uống vào mà họ bị say sưa, loạn
tâm thì kết thành căn bổn trọng tội.
Ở
đây có người hỏi: chúng sanh thượng phẩm tức là Phật,
thánh nhân, sư tăng v.v... những bậc này uống rượu cũng
bị say loạn hay sao?
Chư
Phật, thánh nhân đương nhiên không bao giờ uống rượu, say
loạn; nhưng hàng cha mẹ, sư tăng dù thuộc về thượng phẩm,
nhưng không nhất định là thánh nhân nên khi uống rượu quá
lượng cũng say khướt như thường. Cũng có rất nhiều bậc
sư trưởng uống rượu say nhừ tử như bùn. Cũng có những
tăng chúng xuất gia không giữ gìn đúng theo giới luật, khi
uống rượu chẳng những không biết hổ thẹn, mà khi càng
uống lại càng cảm thấy vui tươi, hớn hở. Vì thế, nếu
đem rượu bán cho những chúng sanh không phải thánh nhân này,
sẽ phạm căn bổn trọng tội.
Bán
rượu cho chúng sanh trung phẩm (cõi trời, cõi người), tất
nhiên phạm căn bổn trọng tội. Vì những chúng sanh này là
đối tượng chủ yếu của giới điều Ðức Phật chế lập.
Người, trời là những chúng sanh rất thích uống rượu, nên
bán cho những chúng sanh này, chính là khuyến khích, thúc đẩy
sự say mê, hôn loạn cho họ.
Bán
rượu cho chúng sanh hạ phẩm là quỷ thần v.v... Nếu những
chúng sanh này chưa thọ giới Bồ Tát thì ít gây ảnh hưởng
tổn hại cho đạo pháp nên các bậc cổ nhân quy kết thành
tội khinh cấu. Nếu là chúng sanh đã thọ giới Bồ Tát, vì
trên thân đã mang giới thể nên phạm căn bổn trọng tội.
Bất
luận chúng sanh thuộc phẩm nào, nếu bán rượu cho họ, đều
không khỏi phạm tội khinh hay trọng.
2.
Chúng sanh tưởng (tưởng là chúng sanh), duyên này căn cứ
vào ba phẩm để phân biệt:
*
Chúng sanh thượng phẩm:
Hai
trường hợp này phạm căn bổn trọng tội:
-
Say loạn tưởng là say loạn.
-
Say loạn nghi là say loạn.
Bốn
trường hợp phạm tội khinh cấu:
-
Say loạn tưởng chẳng phải say loạn.
-
Không say loạn tưởng không phải say loạn.
-
Không say loạn nghi là say loạn.
-
Không say loạn nghi không say loạn.
*
Chúng sanh trung phẩm:
Cả
bốn trường hợp này đều phạm tội khinh cấu:
-
Chúng sanh trung phẩm tưởng là chúng sanh hạ phẩm.
-
Ba trường hợp ở hạ phẩm.
Hai
trường hợp này phạm căn bổn trọng tội:
-
Chúng sanh trung phẩm tưởng là trung phẩm.
-
Chúng sanh trung phẩm nghi là trung phẩm.
*
Chúng sanh hạ phẩm:
Hai
trường hợp này phạm căn bổn trọng tội:
-
Chúng sanh hạ phẩm có giới tưởng là có giới.
-
Chúng sanh hạ phẩm có giới nghi là có giới.
Ba
trường hợp này đều phạm tội khinh cấu:
-
Chúng sanh hạ phẩm có giới tưởng không có giới.
-
Chúng sanh hạ phẩm không có giới tưởng có giới.
-
Chúng sanh hạ phẩm không có giới nghi là có giới.
3.
Hy lợi phản mại (có tâm mong cầu tài lợi mà bán rượu):
Ðiểm
này chính là do chủ thể tạo nghiệp. Vì người đời sở
dĩ mở tiệm bán rượu, mục đích duy nhất là vì cầu lợi.
Ðối với thế tục, thông thường rất thích mua bán làm ăn
để nuôi sống bằng nghề này, vì thu được nhiều tài lợi.
Nhưng với một Phật tử, đặc biệt là hành giả Ðại Thừa
Bồ Tát, tuyệt đối không được làm việc bán rượu này.
Như
mọi người đều biết, Bồ Tát có hai loại: xuất gia và
tại gia.
Bồ
Tát tại gia đúng theo pháp cầu lợi, bất cứ sự mua bán
nào chánh đáng đều được làm, không phải là không cho mua
bán. Vả lại, từ trong việc mua bán ấy có thể nhiếp hóa
được số chúng sanh rộng lớn. Nhưng đối với sự mua bán
rượu thuộc về ác luật nghi này, dù Bồ Tát tại gia cũng
không được phép làm.
Bồ
Tát xuất gia chẳng những không được phép mua bán thuộc
về ác luật nghi mà bất cứ lối mua bán nào để cầu lợi,
đều nằm trong phạm vi nghiêm cẩn một cách nghiêm mật.
4.
Thị chân tửu (thật là rượu):
Rượu
sở dĩ được gọi là rượu vì có đủ ba yếu tố: sắc,
hương và vị. Khi uống vào nhất định khiến người bị
say loạn. Dù những loại rượu không có sắc và hương, nhưng
vị rượu rất nồng, uống vào khiến người bị say, nếu
đem mua bán những thứ rượu như thế phải phạm vào căn
bổn trọng tội.
Bồ
Tát tại gia làm việc ở các dâm xá hoặc làm nhân viên chiêu
đãi cho các tiệm bán rượu, nếu tự mình không bán rượu
thì chỉ phạm tội khinh cấu.
5.
Thọ dữ tiền nhân (trao cho người trước mặt):
Nghĩa
là bán rượu và giao cho người mua một cách trực tiếp. Thời
gian xảy ra việc người giao, người nhận kết thúc thì kết
thành trọng tội. Nếu vì cầu tài lợi mà bán rượu thì
mắc tội rất nặng và rất đáng sợ.
Nói
về tội này, kinh Thập Luân có ghi rõ:
Thập
áp du luận tội,
Ðẳng
bỉ nhất dâm phòng,
Trí
bỉ thập dâm phòng,
Ðẳng
nhất tửu phòng tội.
Dịch:
Mười
tội làm nghề ép dầu,
Bằng
tội mở một dâm xá,
Tạo
tội lập mười dâm xá,
Bằng
tội mở một tiệm rượu.
Theo
luật nhân quả, tội trọng như thế, tương lai phải cảm
thọ khổ báo như thế nào?
Ðức
Phật dạy rằng:
-
Những người làm rượu, chiêu cảm quả địa ngục Tửu Hà.
-
Những người bán rượu, cảm thọ địa ngục Tửu Trì.
-
Những người bán rượu khi ra khỏi địa ngục Tửu Trì, chuyển
sanh trong nhân gian chịu dư báo làm một kẻ điên điên, cuồng
cuồng, không được như người bình thường.
Bồ
Tát đã biết rõ tội ác bán rượu thảm trọng và quả báo
thống khổ như vậy phải nghĩ tưởng như vầy: “Ta đây
là Bồ Tát có bổn phận hóa độ chúng sanh, đem trí huệ
minh đạt sự lý truyền trao cho chúng sanh, khiến cho chúng
sanh khỏi ngu si vô trí, thú hướng đến con đường lớn quang
minh vô thượng Bồ Ðề mới phải. Tại sao lại bán rượu
cho người uống vào phải bị hôn mê cuồng loạn mà thành
đại tội”. Trải qua một phen suy tư như vậy thì không bao
giờ đi bán rượu.
