B.1.1.8.
XAN TÍCH GIA HỦY GIỚI
(bỏn
xẻn lại thêm hủy báng)
Kinh
văn:
1.
Phiên âm:
Từ
câu “Nhược Phật tử tự xan, giáo nhân xan...” cho đến
câu ‘Thị Bồ Tát Ba La Di tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Giới
bỏn xẻn thêm mắng đuổi. Nếu Phật tử tự mình bỏn xẻn,
bảo người bỏn xẻn: nhân bỏn xẻn, duyên bỏn xẻn, cách
thức bỏn xẻn, nghiệp bỏn xẻn. Phật tử khi thấy những
người bần cùng đến cầu xin, phải cấp theo chỗ cần dùng
của họ. Nếu không như thế lại đem lòng giận ghét, cho
đến không cho một mảy. Nếu có người đến cầu học giáo
pháp, cũng chẳng nói một câu, một kệ, lại còn xua đuổi
quở mắng. Phật tử này phạm Bồ Tát Ba La Di tội.
Lời
giảng:
Mục
đích của giới khen mình, chê người là vì muốn mong cầu
danh dự, lợi dưỡng; nhưng vì khi mong cầu chưa được danh
dự, lợi dưỡng nên sanh ra thủ đoạn khen mình, chê người.
Giới
bỏn xẻn lại thêm hủy nhục xuất phát từ nơi lợi dưỡng
đã thuộc về phần sở hữu của mình, muốn cất chứa cho
kỹ, bỏn xẻn, yêu tiếc, không chịu bố thí cho người.
Giới
trước so ra có phần thô phù, trong khi giới sau thì có phần
vi tế hơn. Vì vậy, nên sắp đặt thành thứ tự trước sau
như vậy.
Trong
kinh, Phật dạy Xan (bỏn xẻn) cùng với Tham có chỗ bất đồng.
Tham
là ham muốn không biết nhàm chán. Khi lợi dưỡng chưa thuộc
về mình, cần phải tìm mọi cách làm sao cho vừa lòng thỏa
ý. Thế nên luôn tìm nhiều biện pháp để cầu cho được
càng nhiều càng tốt, không bao giờ cho là vừa đủ.
Xan
là bỏn xẻn, không xả thí. Phàm những tài vật thuộc về
phần sở hữu của mình, bất luận tiền tài, tri thức hay
năng lực đều tuyệt đối ôm giữ riêng cho mình. Dù bất
cứ ai đến nhờ mình trợ giúp cũng không bao giờ giúp đỡ
cho họ mảy may, hoặc cho chút ít, cũng thấy đó là mối tổn
thất rất to lớn.
Trên
đời này, những hạng người tham không biết đủ thật rất
nhiều. Người bỏn xẻn không xả thí cũng nhiều như vậy
và nơi nào cũng vậy. Con người chính là như vậy nên khi
được người đem tài lợi đến thì rất hoan hỷ, còn khi
phải đưa ra thì lại không vui lòng.
Ðúng
theo lẽ phải, nhân loại sanh tồn trên thế gian phải giúp
đỡ lẫn nhau. Ðem chỗ hữu dư bổ vào phần bất túc. Không
nên chỉ biết có sự giàu sang cho mình mà không nghĩ gì đến
sự chết sống của người.
Làm
một đại sĩ, đã phát Bồ Ðề tâm, trong khi nhiếp hóa chúng
sanh, phải y nơi tâm từ bi của mình, bố thí những nhu dụng
cho tất cả chúng sanh, vì bố thí là cơ bản của muôn hạnh.
Hiện tại nếu người đến chỗ của bạn cầu xin hay khất
cầu chánh pháp hoặc tài vật; nếu bạn không đem hết khả
năng của mình cấp cho người vật ấy thì đã là một việc
không nên làm, huống chi lại tỏ thái độ phẫn nộ, hủy
nhục một cách vô tình đối với họ, như vậy làm thế nào
gọi là Bồ Tát?
Vì
vậy, đối với Bồ Tát sự bỏn xẻn và hủy nhục là tội
rất nặng. Nếu chỉ bỏn xẻn mà không hủy nhục hay chỉ
hủy nhục mà không bỏn xẻn thì chỉ kết tội khinh cấu
chứ không phải là căn bổn trọng tội.
Ðối
với người đến cầu xin, mà bỏn xẻn không cho là tham phiền
não; đối với người đến van xin mãi không chịu đi mà nổi
giận hủy nhục họ là lỗi của sân phiền não.
Tham
hoặc Sân đều là do vô tri sai sử. Ðó chính là si phiền
não. Do đó, nếu hủy phạm giới này tức là gồm đủ ba
độc. Nên chẳng những Bồ Tát có thể vi phạm mà cả thất
chúng Phật tử cũng đều khó tránh khỏi. Luận giải về
vấn đề này giữa Ðại Thừa và Tiểu Thừa có chỗ bất
đồng:
-
Theo quan điểm của Ðại Thừa, trách nhiệm của Bồ Tát là
lợi tha. Dù mình với người có quan hệ hay không thì bổn
phận của mình vẫn phải giáo hóa. Nên khi có người đến
cầu xin phải bình đẳng bố thí. Nếu không bố thí lại
còn hủy nhục thì trái với Tam Tụ Tịnh Giới của Bồ Tát
nên phải phạm trọng tội.
-
Còn hành giả Thanh Văn bên Tiểu thừa vì chỉ trọng nơi tư
lợi, nên chỉ có trách nhiệm giáo hóa, khai thị đối với
đệ tử xuất gia của mình. Nếu không đem chánh pháp truyền
dạy đệ tử mới vi phạm giới, nhưng không phạm căn bổn
trọng tội, mà chỉ phạm tội Ðột-kiết-la trong Thất Tụ.
Còn
trường hợp thầy không cấp tiền tài cho đệ tử, chưa thấy
trong giới luật quy định vào tội gì. Vì chúng xuất gia lấy
việc trì bình khất thực nuôi sống nên bổn phận của Thầy
không cần phải cấp tiền tài cho đệ tử.
Riêng
bên Tăng chúng được tín đồ cúng dường, không cần phải
nhờ nơi thầy. Chỉ trong trường hợp của Ni chúng, trong khoảng
thời gian mới xuất gia 2 năm đầu, vì tự mình chưa thể
tự lập, cũng không dễ dàng đi khất cầu được tài pháp,
nên phải nhờ sự cung cấp của sư trưởng. Vì thế, bổn
phận làm thầy, nếu không dạy bảo chánh pháp và cấp cho
tiền tài để ni chúng an tâm tu học thì phạm Ba Dật Ðề,
thiên thứ ba trong năm thiên. Sau hai năm xuất gia, ni chúng có
thể tự mình dần dần tự lập. Dù thầy không bố thí tài
pháp, nhưng cũng không quan hệ lắm.
Sở
dĩ Phật chế ra giới điều này vì Bồ Tát phát Bồ Ðề
tâm phải lấy việc nhiếp hóa chúng sanh làm cơ bổn. Mà bố
thí tài pháp cho chúng sanh là phương tiện tối thắng cho việc
nhiếp hóa chúng sanh.
Nếu
Bồ Tát thật không có tài pháp để bố thí cho chúng sanh
thì phải nhã nhặn nói với chúng sanh rằng: “Tôi rất lấy
làm hổ thẹn vì phước đức của tôi quá kém, không thể
làm mãn nguyện cho quý vị. Lỗi này không phải là lỗi của
quý vị, mà thật là lỗi của tôi. Tôi nguyện cố gắng tu
trì, tương lai sẽ làm mãn nguyện cho quý vị”.
An
ủi chúng sanh và biểu lộ ý khiêm nhường của mình như vậy
rồi, nếu không bố thí cho chúng sanh cũng không phạm tội.
Nếu Bồ Tát hiểu biết chánh pháp và thật sẵn có tiền
tài, nhưng vì tánh bỏn xẻn, không lấy tâm từ bi của mình
mà thực hành huệ thí, là trái với đại đạo Bồ Ðề của
Bồ Tát, nên Phật đặc biệt chế thành trọng tội. Một
vị Bồ Tát nếu bỏn xẻn, không thực hành hạnh bố thí
thì tổn thương cho đại hạnh của Bồ Tát. Cho nên bất cứ
trường hợp nào, Bồ Tát đều phải tìm cách bố thí mới
hợp với pháp khí của Ðại Thừa.
Nhưng
phải tu tập bố thí cách nào mới là đúng pháp?
Trước
tiên phải nghĩ đến những việc sau đây:
-
Sanh mạng nhục thể này cũng như tiền tài, bảo vật của
mình đều như bọt nước, không lâu dài. Thân này theo thời
gian sẽ băng hoại. Tiền tài, bảo vật cũng tùy thời bỏ
chúng ta ra đi. Ngày nay, tài bảo là sở hữu của ta, nhưng
biết đâu ngày mai kia sẽ trở thành của kẻ khác. Và những
kim ngân tài bảo đó, không phải vì sự bỏn xẻn yêu tiếc
của ta mà có thể giữ gìn được bên ta vĩnh viễn. Ðó là
một sự thật muôn đời, bất cứ nơi nào và bất cứ người
nào, không ai có thể phủ nhận điều đó, thì thử hỏi,
bạn bỏn xẻn yêu tiếc kim ngân tài bảo, rốt lại tự mình
có lợi ích gì?
Hành
giả Bồ Tát nếu từng giờ phút tưởng đến điều ấy,
tự nhiên thường ưa thích việc bố thí, không lẫn tiếc
chút mảy may.
Suy
tư rằng tài bảo ở thế gian, nhất định không phải là
vật sở hữu của riêng ai, mà là vật của năm nhà:
1.
Những đứa con bất hiếu, xài phí, phá sản.
2.
Giặc nhà vua hung bạo.
3.
Giặc giặc cướp vét sạch đem đi.
4.
Khi gặp tai nạn hỏa hoạn, của cải, tài bảo gia đình thành
đống tro tàn.
5.
Tai nạn bão lụt: chỉ trong khoảnh khắc, tài sản bị trôi
ra bể cả.
Như
thế tại sao trước khi năm nhà thay thế mình phân tán tài
sản, tự tay mình trước không lo đem của ra bố thí, thực
hành việc công đức? Của ấy mới thật là tài bảo vĩnh
cửu, cất kỹ trong kho tàng kiên cố. Khi suy nghĩ như thế,
tự nhiên hành giả sẽ rất ưa thích thực hành công đức
bố thí.
Bồ
Tát vì lợi ích chúng sanh, phải thường bố thí cho chúng
sanh. Nhưng trên thực tế, nếu không đủ khả năng bố thí,
vì trong thời quá khứ không tu nhân bố thí, nên đời đời
kiếp kiếp bị khổ nghèo cùng không thể tự cứu. Hiện tại
nay may mắn sinh ra trong nhà có sẵn tài bảo, có thể đem ra
bố thí mà không bố thí thì chẳng phải là hành động làm
tăng trưởng tâm bỏn xẻn, tham tiếc của cải của bạn hay
sao?
Nếu
tập quán bỏn xẻn tăng trưởng mãi không thôi, do nhân ấy
sẽ bị quả nghèo cùng, không thể tiến hành công đức bố
thí rộng lớn. Như vậy làm thế nào thú hướng đến quả
đại Bồ Ðề? Huống chi do nghiệp lực bỏn xẻn không xả
thí của nhiều kiếp quá khứ, chúng ta bị khổ quả bần
cùng, đói khát. Chính mình ở trong cảnh khổ thì làm sao có
thể đúng như pháp làm lợi ích cho chúng sanh một cách rộng
lớn.
Vì
thế hiện tại, chúng ta phải tận lực hành bố thí lợi
ích cho chúng sanh. Dù cho mình phải bị hết sức nghèo cùng,
thậm chí vì bố thí mà phải hy sinh cả sinh mạng cũng quyết
lòng không để chúng sanh đến chỗ mình cầu xin phải trở
về với hai tay không. Huống chi chúng ta dù có bố thí cho
chúng sanh cũng vẫn còn những tài vật dư thừa để duy trì
sự sống của mình.
Cho
nên dù bố thí mà phải bị nghèo cùng đến thế nào chăng
nữa, chúng ta cũng phải nhẫn thọ cảnh nghèo khổ, mà thực
hành những hạnh bố thí cần phải thực hành.
Lại
nữa, chúng ta đã đối trước Ðức Phật, đầu tiên phát
đại Bồ Ðề tâm, lập thệ từ đây về sau sẽ đem cả
thân tâm trong ngoài xả thí. Giờ đây, sao lại có thể vi
bội bổn thệ ấy?
Nếu
chúng ta trái nghịch với bổn thệ, tức đã phụ lòng kỳ
vọng của chúng sanh đối với chúng ta, và cũng là khinh dối
mười phương chư Phật, tội lỗi này nặng biết dường nào?!
Vì
thế, bất cứ phương diện nào, vạn vạn lần chúng ta đều
phải giữ gìn lời thệ nguyện chính mình đã phát. Chẳng
những xả thí tài bảo bên ngoài, mà nếu phải hy sinh cả
tính mạng bên trong, cũng không luyến tiếc mảy may.
Tại
sao vậy?
Vì
nhục thân này cùng tài bảo đều là vật mong manh, không bền
chắc, như vậy chúng ta luyến tiếc bỏn xẻn để làm gì?
Thế nên cần phải đem vật mong manh, không bền chắc đổi
lấy Pháp Thân thanh tịnh, kiên cố mới hợp đạo. Bồ Tát
nếu thường tư duy như thế thì không một tài vật nào không
dám xả thí, cũng không bao giờ chính mình hiểu biết chánh
pháp, lại không vì người giảng nói.
Bồ
Tát thực hành bố thí là việc thiên kinh địa nghĩa, không
còn giá trị nào hơn. Nhưng vào những trường hợp nào, Bồ
Tát không bố thí mà vẫn không phạm tội?
Phải
biết bố thí chẳng những làm cho chúng sanh được an vui mà
còn phải khiến cho chúng sanh được đại lợi ích.
Nếu
Bồ Tát thấy rõ xả thí chỉ có thể khiến chúng sanh được
an lạc, nhưng không giúp cho chúng sanh được đại lợi ích,
hoặc thậm chí an lạc và lợi ích cả hai đều không thì
không nên bố thí.
Hoặc
nếu chúng sanh yêu cầu một cách vô lý như họ khẩn thiết
cầu xin bố thí các thứ thuốc độc để giải quyết mạng
sống của chính bản thân họ, hoặc xin gươm dao, súng ống
để hại mạng chúng sanh khác, hoặc đòi rượu thịt để
ăn nhậu.... Bồ Tát dù sẵn có những thứ ấy cũng không
nên bố thí chho những kẻ đó. Nếu bố thí cho họ những
thứ trên, thì chẳng những không có công đức, lại còn trái
nghịch với bi nguyện độ sanh của Bồ Tát.
Lại
như trường hợp chúng sanh bị bệnh, đến Bồ Tát cầu xin
thuốc để trị bệnh. Bồ Tát tùy theo khả năng của mình
mà bố thí thuốc cho chúng sanh. Nhưng nếu bệnh nhân xin những
vật thực không thích hợp cho sự ăn uống hoặc sử dụng,
hoặc nếu họ yêu cầu những nhu dụng quá mức, thì Bồ Tát
không thể cấp thí cho.
Lại
có những hạng chúng sanh đã ăn uống quá no đủ, nhưng vì
sự tham lam, thèm muốn mà cầu xin bạn những thức ăn ngon
quý. Bạn dù có sẵn, nhưng nên giữ lại để cấp cho những
chúng sanh khác đang cần hơn. Không nên ban phát cho những hạng
chúng sanh đã no đủ.
Lại
nữa, là vị Bồ Tát mới phát tâm, bạn chưa thể xả thí
đầu, mắt, tủy, não, nếu có người đến xin các thứ ấy,
bạn cứ thản nhiên trả lời rằng: “Hiện tôi không thể
làm những việc khó làm ấy, trong tương lai, khi tôi đã thành
thục các thiện căn ấy, tôi sẽ bố thí không luyến tiếc
mảy may nào”.
Ðức
Phật đối với đại chúng dạy rằng: “Nếu Phật tử là
một vị Bồ Tát phải đem tài pháp bố thí để nhiếp hóa
chúng sanh. Ðấy là nhiệm vụ đầu tiên và duy nhất của
Bồ Tát. Làm Bồ Tát mà không thực hành bố thí là không
phù hợp với tư cách của Bồ Tát. Cho nên, bất luận tự
xan hay giáo nhân xan đều trái với bản thệ của Bồ Tát,
và làm bại hoại Bồ Tát hạnh”.
-
Tự xan: tự mình bỏn xẻn, không đem tài pháp bố thí cho
người.
-
Giáo nhân xan: dạy bảo, khuyên người bỏn xẻn, không bố
thí tài pháp cho kẻ khác.
Bỏn
xẻn không bố thí là hành động không đúng với tư cách
của Bồ Tát, huống chi lại thêm hủy nhục chúng sanh?
Tục
ngữ nói: “Giúp người khi bận rộn đấy là bổn phận đồng
tình, không giúp được người khác lúc bận rộn đấy cũng
là bổn phận”.
Giúp
người trong cơn bận rộn, người sẽ cảm ơn mình. Không
giúp được người lúc bận rộn, người cũng không buồn
trách gì mình, nhưng tuyệt đối không nên nói với người
những lời khiếm nhã, khiến họ đau khổ, thậm chí đi đến
chỗ tuyệt tình giao hảo. Người thế gian thông thường còn
phải như vậy, huống chi vị Bồ Tát có đủ tâm lượng từ
bi?
Bồ
Tát đầu tiên lúc phát đại tâm là vì muốn cứu hộ chúng
sanh, phải giải quyết sự đau khổ khó khăn cho chúng sanh.
Nên nếu trường hợp bạn không đủ khả năng để thực
hiện hạnh nguyện, thì phải tự hổ thẹn, tại sao lại còn
có thể chửi bới, mạ nhục những người đến cầu xin?
Chính mình hủy nhục người đến cầu xin đã là một việc
không thể chấp nhận, lại còn xúi bảo người hủy nhục
chúng sanh thì còn gì là tư cách của một vị Bồ Tát?
Bỏn
xẻn thêm hủy nhục người: cả hai trường hợp này tội
trạng đồng nhau.
1.
Có người đến bạn để yêu cầu sự giúp đỡ. Bạn không
muốn cho họ gì cả, nhưng kẻ ấy vẫn cứ van nài, và bạn
lúc ấy không chút kiêng dè, vị tình, trước mặt kẻ ấy
mạ nhục họ một trận để họ không còn van xin nữa.
2.
Hoặc bạn viết thư bảo người khác bỏn xẻn, mạ nhục
những người đến cầu xin, khiến kẻ ấy có thái độ không
tử tế, đôi khi thốt ra những lời lẽ khiếm nhã đối với
những người đến xin giúp đỡ.
Giới
này bao gồm bốn điều kiện: nhân, duyên, pháp, nghiệp, lược
giải như sau:
1.
Xan nhân (nhân bỏn xẻn): chúng sanh từ vô thỉ đã sẵn có
tâm bỏn xẻn trong tạng thức. Hiện tại khởi tâm niệm bỏn
xẻn, đó chính là nhân, nên gọi là nhân bỏn xẻn.
2.
Xan duyên (duyên bỏn xẻn): tâm niệm bỏn xẻn tiếp nối không
gián đoạn, nên khi có ai đến khất cầu tài pháp, tâm liền
không vui thích, đem che giấu tài vật không cho, hay không hoan
hỷ nói pháp cho người. Ðấy là duyên bỏn xẻn.
3.
Xan pháp (cách thức bỏn xẻn): nếu như có người đến, quyết
tâm cầu xin. Bạn liền tìm những phương cách khéo léo để
khỏi bố thí tài pháp cho người, ấy là xan pháp.
4.
Xan nghiệp (nghiệp bỏn xẻn): do ba thứ trên hòa hiệp lại
tạo thành nghiệp bỏn xẻn.
Nói
một cách đúng lý là một vị Bồ Tát, đối với tất cả
những người bần cùng đến cầu xin, đều phải theo chỗ
cần dùng của họ mà cung cấp một cách vô điều kiện. Tuyệt
đối không nên có hành động làm lưu nạn.
Tất
cả những kẻ bần cùng, nói chung là những người dù có
quan hệ thân thiết với mình hay không có mối liên quan nào
cả. Cũng không phân biệt là những người gần gũi bên cạnh
hay những người ở cách xa v.v... chỉ cần những người ấy
thật sự có nhu cầu, thì bổn phận của Bồ Tát là phải
đem hết khả năng của mình bố thí cho họ khiến họ được
thỏa mãn theo đúng chỗ mong cầu.
Theo
Phật pháp, người bần cùng có hai loại:
1
Thân bần cùng: những người nghèo nàn, thiếu thốn, sự sinh
sống rất khó khăn, đến nỗi ảnh hưởng nguy hại đến
sự sanh tồn của sanh mạng. Chúng ta nên biết rằng: bất
cứ hạng người nào khi đến người năn nỉ, cầu xin, đều
là vạn bất đắc dĩ mới mở miệng. Vì nếu có thể sống
cho qua kiếp sống, quyết không bao giờ họ đến người cầu
cạnh, van xin. Ðây là nói những người biết liêm sỉ.
Nhưng
cũng có những hạng người vô lương tâm, không liêm sỉ.
Thật sự không ở trong hoàn cảnh thiếu thốn mà vẫn giả
dối cầu xin cho thật nhiều. Do đó, nếu có người đến
bạn cầu xin: Họ cần y phục, bạn nên cấp cho y phục, cần
thức uống ăn nên cấp cho thức uống ăn. Cần chỗ ở nên
cấp cho chỗ ở. Cần những nhu yếu phẩm để sinh sống nên
cấp cho họ những nhu yếu phẩm để cho sinh mạng của họ
được tiếp tục sinh tồn.
2.
Tâm bần cùng: những hạng người thiếu thốn về tri thức
nội tâm, tinh thần trống rỗng. Chẳng hạn đối với lịch
sử, họ mờ mịt không biết gì, là bị thiếu thốn về kiến
thức lịch sử, bị chứng bần huyết về lịch sử rất nghiêm
trọng.
Trường
hợp đối với Phật pháp mà mù mờ, không hiểu biết gì,
là thiếu tri thức về Phật pháp, mắc phải chứng bần huyết
về Phật pháp rất nghiêm trọng. Nếu những người này tự
biết Phật pháp vô cùng trọng yếu đối với nhân sanh, nên
tìm đến Bồ Tát cầu thỉnh Phật pháp. Bồ Tát phải đem
sự hiểu biết về Phật pháp của mình, giảng dạy cho người
ấy vô điều kiện.
Nếu
là người có căn tánh nhân thiên thừa, Bồ Tát phải đem
Phật pháp nhân thiên thừa giảng cho họ nghe.
Nếu
là người có căn tánh Thanh Văn thừa đến khất cầu giáo
lý Phật pháp, Bồ Tát phải đem Phật pháp Thanh Văn thừa
giảng nói cho họ nghe.
Nếu
là căn tánh Duyên Giác thừa, phải đem Phật pháp Duyên Giác
thừa giảng nói.
Nếu
là căn tánh Bồ Tát thừa, phải đem Phật pháp Bồ Tát thừa
giảng nói.
Tóm
lại:
Bất
cứ chúng sanh nào đến cầu tài vật hoặc chánh pháp, Bồ
Tát phải theo khả năng của mình cấp cho họ không một niệm
bỏn xẻn, luyến tiếc. Ðấy là hạnh từ bi lợi tế của
Bồ Tát.
Ðem
tài vật cấp cho chúng sanh là tài thí; đem chánh pháp giảng
cho chúng sanh là pháp thí. Thông thường, Phật tử tại gia
trọng nơi tài thí, hàng xuất gia trọng nơi pháp thí.
Nhưng
đối với Bồ Tát đạo, thì Bồ Tát tại gia chẳng những
đem tài vật bố thí mà còn phải bố thí chánh pháp. Còn
Bồ Tát xuất gia chỉ đem chánh pháp bố thí, như cấp giấy
mực, viết bố thí cho chúng sanh để biên chép kinh điển.
Bên ngoài mới xem qua thì cho là tài thí, nhưng thực ra là
pháp thí.
Trong
kinh Quyết Ðịnh Tỳ Ni nói: “Bồ Tát tại gia nên thực hành
tài thí và pháp thí; Bồ Tát xuất gia nên thực hành bốn
thứ bố thí: giấy, mực, bút, pháp”.
Bồ
Tát xuất gia sở dĩ không bố thí tài vật không phải Bồ
Tát xuất gia bỏn xẻn tiền tài. Nhưng sự thật vì người
xuất gia không có tiền tài. Tuy nói như vậy, nhưng căn cứ
vào thực tế, chúng xuất gia theo Ðại Thừa Phật giáo ở
các nơi thì nhiều vị xuất gia có tiền tài đến số vạn
lượng. Có tiền tài mà không xả thí thì không phù hợp với
tinh thần của Ðại Thừa Phật pháp. Vậy hy vọng quý Bồ
Tát xuất gia có sẵn tiền tài nên phát tâm bố thí cho nhiều.
Bồ
Tát phàm phu sơ phát tâm dĩ nhiên không thể làm thỏa mãn
chỗ mong cầu của chúng sanh, vì khả năng tài vật có giới
hạn. Nhưng không thể mượn cớ này mà không bố thí cho chúng
sanh.
Xưa
nay Phật pháp không bao giờ bắt buộc người đi vào cảnh
khó khăn, tùy theo năng lực và bổn phận nhiều ít mà bố
thí cho chúng sanh theo đúng khả năng của mình, chớ không
bao giờ có quy luật nhứt định. Với những người không
có nhiều tài vật, mà bảo phải xuất ra số tiền bao nhiêu
đấy để bố thí thì không thể được. Nhưng nếu để cho
chúng sanh đến rồi về tay không một đồng xu không xả thí
thì trái với tinh thần nên xả thí của tất cả Bồ Tát.
Cho
nên kinh Ưu Bà Tắc có dạy: “Khi có người đến cầu xin,
tùy theo năng lực của mình mà bố thí nhiều hay ít. Nếu
để người ra về tay không thế là phạm tội”.
Trong
Ðại Thừa Khởi Tín Luận cũng nói:
“Nếu
thấy tất cả người đến cầu xin, tùy theo tài vật của
mình sẵn có đem ra bố thí theo khả năng của mình, để xa
lìa tâm bỏn xẻn tham lam và khiến người cầu xin hoan hỷ.
Nếu
thấy chúng sanh bị tai nạn khổ ách, bị khủng bố bức bách,
tùy theo khả năng của mình mà bố thí vô úy cho chúng sanh.
Nếu
có chúng sanh khất cầu chánh pháp, tùy theo chỗ hiểu biết
của mình mà phương tiện vì người giảng nói”.
Theo
lời dạy của kinh luận trên, chúng ta thấy dù là tài thí,
pháp thí hay vô úy thí, đều cần phải tùy theo năng lực
của mình mà gắng làm. Tuyệt đối không nên có tâm niệm
keo kiết, bỏn xẻn.
Hành
giả Bồ Tát cần phải thực hành bố thí, điều này các
kinh điển Ðại Thừa đều nói như vậy. Chỉ có huệ thí
một cách chân chánh mới là phong cách của Ðại Thừa Bồ
Tát.
Nhưng
một vị Bồ Tát đã phát Bồ Ðề tâm, thấy rõ chúng sanh
nghèo cùng không nơi nương tựa, đến mình yêu cầu trợ giúp
tiền tài, vật dụng. Nhưng cá tính đối với tiền tài, vật
dụng bỏn xẻn vô cùng, nên chẳng những không đem hết khả
năng mình mà bố thí, và đối với người cầu xin khởi niệm
đồng tình lân mẫn; trái lại, đem lòng giận ghét, ngược
đãi chúng sanh, cho đến một đồng hay vật tối thiểu như
cây kim, ngọn cỏ cũng không bố thí. Hành giả Bồ Tát bỏn
xẻn đến độ ấy thì đối với vị Bồ Tát này còn gì
để nói?! Cho đến trường hợp có người đến Bồ Tát khất
cầu giáo pháp, vị Bồ Tát đáng lẽ phải đem hết sức hiểu
biết Phật pháp của mình giảng nói cho chúng sanh nghe, không
giữ lại một điều gì. Nhưng vì tâm tánh của mình đối
với chánh pháp cũng vô cùng bỏn xẻn, nên chẳng những không
chịu đem hết chỗ hiểu biết của mình khai thị cho chúng
sanh, không sanh tâm hoan hỷ vô hạn đối với người đến
cầu pháp, mà trái lại sanh tâm sân ác, cho đến “không vì
người nói một kệ, một câu” nhỏ như vi trần. Bồ Tát
không vì chúng sanh giảng nói chánh pháp như thế, chúng ta
đối với vị Bồ Tát này còn hy vọng chi?!
Không
bố thí một đồng, không giảng nói một câu giáo pháp đã
là việc quá đáng rồi. Trái lại, còn tiến thêm một mức
nữa, đối với người đến khất cầu tài pháp, cực lực
mắng nhiếc, hạ nhục, khiến cho chúng sanh khổ tâm vô hạn.
Hành động như thế chẳng những mất hẳn tư cách của một
vị Bồ Tát, lại còn trở thành người phạm tội ác rất
lớn.
Vì
thế, cuối cùng Ðức Phật phán định: “Phật tử này phạm
Bồ Tát Ba La Di tội”. Giới này trong Du Già Giới Bổn gọi
là pháp Tha Thắng Xứ thứ hai.
Bồ
Tát mới phát tâm dĩ nhiên dùng tiền tài, vật dụng bên ngoài
để bố thí làm mục tiêu chánh yếu, nhưng những vị Bồ
Tát đã chứng đắc vô sanh pháp nhẫn, ngoài việc dùng tiền
tài bố thí cho chúng sanh, còn đem quốc thành, thê tử bố
thí. Nếu cần phải xả thí đầu, mắt, tủy, não của mình
vẫn không luyến tiếc mảy may.
Như
xưa kia, khi đức Bổn Sư Thích Ca lúc hành Bồ Tát đạo, làm
Chuyển Luân Vương, nhằm trong năm nước mất mùa, nhân dân
bị nạn đại cơ cẩn (mất mùa lúa gọi là Cơ, mất mùa
rau gọi là Cẩn), không có cơm ăn. Bồ Tát lập nguyện biến
thân mình to lớn như một tòa núi thịt, cấp cho chúng sanh
ăn để khỏi nạn đói khổ. Tinh thần hy sinh cá nhân mình
để lợi ích cho chúng sanh này hành giả Bồ Tát chúng ta phải
bắt chước noi gương. Ðức Bổn Sư Thích Ca lúc ở nhân địa,
hành Bồ Tát đạo, đã quên mình vì lợi íchh chúng sanh rất
nhiều, không sao kể hết được.
Nhưng
căn cứ theo Luật dạy, có hai trường hợp người đến cầu
xin, không bố thí mà không vi phạm giới này:
1.
Người đến khất cầu tài vật, thật sự không phải vì
thiếu thốn mà chủ ý muốn xin tiền tài để làm việc tội
ác, làm thương hại chúng sanh. Như vậy, đối với cả mình
lẫn người đều không lợi ích. Bồ Tát xét như vậy nên
không bố thí. Việc này đương nhiên không có lỗi chi, ngay
đến nếu có cực lực quở trách nghiêm khắc, cũng không
có gì là không đúng.
2.
Những người đến khất cầu chánh pháp, sự thật không phải
có tâm chân thành vì pháp mà chính là kẻ ngoại đạo muốn
trộm pháp của Phật đem về trang nghiêm cho pháp ngoại đạo,
và đem pháp ngoại đạo phá hoại Phật pháp. Như thế không
lợi ích cho ngoại đạo lẫn cả Phật pháp. Bồ Tát biết
rõ như thế, nên không vì chúng sanh ấy giảng nói chánh pháp,
lại còn lột mặt nạ và kế ma quỷ của kẻ ấy, chỉ rõ
chỗ không đúng của họ. Trường hợp này không phạm giới
Bồ Tát.
Trong
trường hợp chính bản thân không hiểu tí gì về Phật lý,
thật sự không có Phật pháp để giáo hóa dẫn dắt cho người
cầu pháp, thì như thế nào?
Trường
hợp này chỉ có thành thật nói với người cầu pháp rằng:
“Tôi đối với Phật pháp hoàn toàn không hiểu chi hết,
không dám tùy tiện vọng nói là hiểu Phật pháp, để rồi
giảng nói sai lạc, khiến bạn sanh hiểu lầm đối với Phật
pháp thì tôi phải mang tội rất lớn”.
Trong
Du Già Bồ Tát Giới Bổn cũng có nói trường hợp không xả
thí tài pháp mà không phạm tội như sau:
1.
Ðối với người đến khất cầu tài vật:
-
Nếu bản thân quả thật hiện không có tài vật mà người
đến xin, nên bạn không thể bố thí cho họ. Như vậy, trong
trường hợp này bạn không phạm tội.
-
Nếu người đến cầu xin những vật không hợp pháp như súng
đạn, gươm đao, cung tên, lưới bẫy v.v... có thể gây thương
hại cho chúng sanh. Vì vậy, bạn không cung cấp cho họ và
bạn không bị phạm tội.
Nếu
người đến cầu xin những thứ hoàn toàn không thích hợp
như rượu thịt, nam nữ, cầm kỳ, khí cụ, bài bạc... bạn
không bố thí. Trong trường hợp này, bạn không phạm tội.
-
Nếu người đến cầu xin không phải là hạng người lương
thiện, mà là loại nguy hiểm. Nếu bạn cung cấp đồ cần
dùng cho họ thì không phải là giúp cho họ khỏi khó khăn,
túng thiếu mà là giúp cho họ tạo thêm tội ác. Vì thế,
không bố thí trong trường hợp này, bạn không phạm tội.
-
Nếu người đến cầu xin là một tội nhân phạm pháp luật
của quốc gia và sẽ bị trừng trị, bạn vì muốn ủng hộ
pháp luật của quốc gia cũng như uy tín của chánh phủ. Trường
hợp này, bạn không bố thí sẽ không phạm tội.
Tóm
lại:
Nên
hay không nên bố thí cần phải xét kỹ tình hình thực tế
đương thời.
2.
Người đến khất cầu chánh pháp:
-
Như người ấy là ngoại đạo, ôm ấp tâm niệm bất lương.
Họ vào trong Phật pháp vì muốn tò mò, dò xét những chỗ
sở đoản cũng như tội lỗi của Phật tử. Không giảng nói
chánh pháp cho họ, bạn không bị phạm tội.
-
Hoặc người ấy đối với chánh pháp của Như Lai không có
tâm cung kính, tôn trọng, hoặc không có tâm tàm quý, không
phù hợp với thái độ oai nghi của người nghe pháp, nên không
giảng nói Phật pháp cho hạng người này, bạn sẽ không phạm
tội.
-
Hoặc người cầu pháp thuộc về hạng độn căn, nhưng lại
muốn thỉnh vấn pháp Ðại Thừa vô thượng thậm thâm. Nếu
bạn giảng nói pháp Ðại Thừa, chẳng những họ không tiếp
thọ nổi, lại còn sanh tâm thối chuyển, ăn năn vì đã đến
với Phật pháp, nên bạn không giảng nói chánh pháp và không
bị phạm tội.
Hoặc
người cầu pháp thuộc căn cơ hạ liệt, nếu bạn giảng
nói Phật pháp cao thâm, chẳng những họ không thể lãnh thọ.
Trái lại, còn sanh khởi tà kiến, cho rằng Phật pháp của
bạn nói không phải là chánh pháp của Phật. Sanh khởi niệm
này tức là tội phỉ báng Ðại Thừa, tương lai nhất định
sẽ bị đọa lạc vào trong ác đạo thọ khổ quả. Do đó,
bạn không giảng nói chánh pháp và không phạm tội.
-
Hoặc người ấy thật sự vì cầu pháp mà đến, nhưng Bồ
Tát xét người ấy sau khi được Phật pháp rồi sẽ đi giảng
nói chánh pháp cho những người tà ác, không đáng nghe. Vì
thế, bạn không giảng nói chánh pháp và không bị phạm tội.
Giới
này cũng có đủ Tam Tụ Tịnh Giới:
-
Tự mình không bỏn xẻn, không bảo người bỏn xẻn, không
ác pháp nào chẳng đoạn trừ, thuộc về Nhiếp Luật Nghi
Giới.
-
Tất cả tài vật cũng như chánh pháp đều cấp cho, không
thiện pháp nào chẳng tu, thuộc về Nhiếp Thiện Pháp Giới.
-
Ðã đoạn ác, tu thiện như thế, tùy theo sự cần dùng của
chúng sanh, tài pháp đều xả thí, tức là không chúng sanh
nào không độ, thuộc về Nhiêu Ích Hữu Tình Giới.
Nếu
tự mình bỏn xẻn, bảo người bỏn xẻn, lại còn thêm mạ
nhục chúng sanh tức là vi phạm Tam Tụ Tịnh Giới, mất hẳn
tư cách Bồ Tát.
Giới
này đầy đủ cả hại tội Tánh và Giá.
-
Bỏn xẻn không xả thí, chứng tỏ Bồ Tát không có tâm từ
bi, cũng là trái với bản hoài phát Bồ Ðề tâm lúc đầu
tiên của Bồ Tát, cho nên thuộc về Tánh tội.
-
Ðức Phật ngăn cấm Phật tử không được vi phạm giới
này, nếu trái phạm tức thuộc về Giá tội.
Phạm
giới này phải hội đủ năm nhân duyên mới thành căn bổn
trọng tội.
1.
Thị chúng sanh (chính là chúng sanh):
-
Chúng sanh có ba phẩm thượng, trung, hạ. Trường hợp hủy
nhục chúng sanh không căn cứ vào phẩm cấp cao hay hạ của
chúng sanh mà phải căn cứ vào chúng sanh có giới phẩm hay
không để luận tội.
-
Nếu đối với chúng sanh có đủ giới phẩm, mà bỏn xẻn,
hủy nhục thì phạm căn bổn trọng tội. Còn đối với chúng
sanh không đủ giới phẩm mà bỏn xẻn hủy nhục thì chỉ
phạm tội khinh cấu.
2.
Chúng sanh tướng (tướng là chúng sanh)
*
Hai trường hợp này nếu bỏn xẻn, hủy nhục phạm căn bổn
trọng tội:
-
Thật là chúng sanh mà tưởng thật là chúng sanh.
-
Thật là chúng sanh nghi là chúng sanh.
*
Hai trường hợp này nếu bỏn xẻn, hủy nhục phạm căn bổn
trọng tội:
-
Thật là chúng sanh tưởng chẳng phải là chúng sanh.
-
Thật chẳng phải là chúng sanh tưởng là chúng sanh.
* Hai trường hợp này nếu bỏn xẻn, hủy nhục phạm tội
khinh cấu:
-
Thật chẳng phải chúng sanh tưởng chẳng phải chúng sanh.
-
Thật chẳng phải chúng sanh nghi chẳng phải chúng sanh.
Như
trên là phân biệt tội khinh, tội trọng. Ý ở ba phần Ðương,
Nghi, Tịch, mỗi phần đều có hai trường hợp, tổng cộng
thành sáu trường hợp (Ðương, Nghi, Tịch đã giảng ở giới
phần thứ nhất, xin xem lại).
3.
Xan hủy tâm (tâm bỏn xẻn, hủy nhục):
-
Là đối với tài pháp của mình sẵn có, nhưng vì tâm bỏn
xẻn xúi giục sai sử nên chẳng những không xả thí vô điều
kiện, lại còn khởi ác tâm, sân tâm, đánh mắng cự tuyệt
những người đến cầu xin, như thế là đã phạm căn bổn
trọng tội.
-
Nếu những người đến cầu xin tài vật thuộc về hạng
không nên cho, hoặc người đến cầu chánh pháp thuộc về
hạng không nên giảng nói. Vì thế, không bố thí tài pháp
cho họ, bạn không phạm tội. Nếu cần, bạn nên cực lực
quở trách cũng vẫn không phạm tội.
Với
những hạng người nào cần quở trách, hủy nhục?
-
Những chúng sanh có tâm tánh ngu si, đần độn, bạn nói lời
nhã nhặn, hòa hảo, họ không muốn tiếp thọ. Ðối với
chúng sanh này, bạn trừng trị một cách nghiêm khắc, thì
đôi khi trái lại, họ chịu phục tùng cải hối.
-
Hoặc những chúng sanh tự cho mình là hào kiệt, bạn càng
đối xử tử tế, họ càng sanh tâm tự cao tự đại. Ðối
với những hạng chúng sanh này, bạn cần phải dùng những
phương pháp chiết phục mạnh, thì họ mới trở lại sanh
khởi chánh niệm.
-
Bỏn xẻn, hủy nhục trong những trường hợp trên, không phải
là gây thương tổn cho chúng sanh, mà là muốn thành tựu việc
tốt cho chúng sanh, nên không phạm tội.
4.
Xan hủy tướng (tướng bỏn xẻn, hủy nhục)
Như
thế nào gọi là tướng bỏn xẻn, hủy nhục của Bồ Tát?
-
Như sẵn có tài vật mà khi người đến xin lại đem cất
giấu không bố thí cho, hoặc tự mình hiểu biết chánh pháp,
có người đến cầu pháp lại lẩn tránh, không chịu giảng
nói. Tự mình có tài vật, hiểu biết chánh pháp, nhưng đối
với người đến cầu xin, nói là không có, không hiểu biết.
Ðấy là tướng bỏn xẻn, hủy nhục.
-
Thêm một mức nữa, đối với chúng sanh đến cầu tài, cầu
pháp, chẳng những không sanh khởi niệm đồng tình, đồng
loại, thương xót mà trái lại dùng những lời thô ác, mạ
nhục, thậm chí còn dùng tay chân đấm đá, xua đuổi người
đến cầu tài pháp. Dù tự mình làm hay bảo người làm, đều
phạm căn bổn trọng tội.
-
Lại còn có những người đến cầu tài, cầu pháp một lần,
hai lần, ba lần không được, và tâm bạn hoàn toàn không
xúc động đến mức không bố thí cho một xu, một đồng,
cũng không giảng nói cho một câu giáo pháp thì đều là phạm
căn bổn trọng tội.
5.
Tiền nhân lãnh giải (người trước mặt hiểu rõ những lời
giảng giải)
Là
trường hợp người đến cầu tài pháp biết rõ thái độ
bỏn xẻn của bạn và cũng lãnh thọ sự nhục nhã, đánh
mắng của bạn. Tùy theo lời nói việc làm của bạn mà kết
thành trọng tội.
Nếu
kẻ cầu xin sai bảo người đến chỗ ở của Bồ Tát cầu
tài pháp, Bồ Tát đối với sứ giả tỏ cử chỉ không chịu
thí cho, lại còn mạ nhục, quở trách, nói rằng người ấy
không nên sai người đến chỗ ta cầu xin. Kẻ sứ giả nghe
những lời quở trách, mạ nhục ấy, vì tự tâm người này
không có chỗ yêu cầu chi nên không cảm thấy khó chịu lắm.
Còn người sai sứ giả đến, không trực tiếp nghe những
lời mạ nhục, dù sứ giả có thuật lại, nhưng sự tổn
não cũng không lớn lắm. Cho nên hành giả chỉ bị kết tội
khinh cấu, hoặc có nơi cho là phạm trọng tội, nhưng không
mất hẳn giới thể Bồ Tát.
Dù
là tài hay pháp, cốt yếu là tự mình sẵn có. Khi có chúng
sanh đến khất cầu, phải hoan hỷ bố thí cho. Nếu không
như vậy, tương lai sẽ bị đọa lạc trong tam đồ.
-
Khi thọ khổ trong tam đồ đã mãn, sanh trong nhân gian, nếu
bạn là người keo kiết của tiền, thì đời đời kiếp kiếp
phải chịu dư báo nghèo cùng, thiếu thốn.
-
Nếu bạn xan lẫn chánh pháp thì đời đời kiếp kiếp cảm
thọ dư báo đần độn, ngu si. Nên kinh Thiện Sanh dạy: “Nếu
có chúng sanh nào đối với của tiền, chánh pháp, thức uống
ăn, sanh tâm bỏn xẻn, nên biết chúng sanh ấy ở trong vô
lượng đời, phải bị quả báo bần cùng, ngu si”.
Vì
thế, tất cả Phật tử, đặc biệt là những vị thọ Ðại
Thừa Bồ Tát giới, dù ở hoàn cảnh nào, có tài phải bố
thí tài, có pháp phải bố thí pháp, không nên có tâm bỏn
xẻn và hủy nhục.
