B.1.1.10.
HỦY BÁNG TAM BẢO GIỚI
(giới
hủy báng Tam Bảo)
Kinh
văn:
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử tự báng Tam Bảo” cho đến câu “thị
Bồ Tát Ba La Di tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
Phật tử tự mình hủy báng Tam Bảo, xúi người hủy báng
Tam Bảo, nhân hủy báng, duyên hủy báng, cách thức hủy báng,
nghiệp hủy báng. Phật tử nghe một lời hủy báng Tam Bảo
của ngoại đạo và kẻ ác, lòng đau như ba trăm cây nhọn
đâm vào tim mình, huống là tự miệng mình hủy báng. Không
có đức tin và lòng hiếu thuận đối với Tam Bảo, lại còn
giúp sức cho kẻ ác, kẻ tà kiến hủy báng Tam Bảo, Phật
tử này phạm Bồ Tát Ba La Di tội.
Lời
giảng:
Ðây
là giới rốt sau của mười giới trọng. Trong Du Già Bồ Tát
Giới Bổn gọi là giới “báng loạn chánh pháp”, hay gọi
là “hủy báng Bồ Tát pháp”, cũng gọi là giới “tà kiến,
tà thuyết”.
Tam
Bảo tức là chiếc đò rộng lớn đưa người ra khỏi nẻo
tà:
-
Là yếu môn đi vào Phật đạo.
-
Là cảnh thù thắng cho người sơ phát tâm.
-
Là chỗ cùng tột của tất cả những ai muốn nương về.
-
Là chiếc thuyền từ đưa chúng sanh qua bể khổ.
-
Là ngọn minh đăng soi sáng trong đêm trường hắc ám.
-
Là trận mưa to lúc ngôi nhà lớn đang hỏa hoạn.
Vì
thế, tất cả mọi phương diện, tất cả chúng sanh đều
phải nhất tâm thừa sự, kính thuận và thân cận cúng dường,
mong cho ngôi Tam Bảo trong thế gian được mãi mãi hưng thạnh,
làm chỗ nương nhờ an ổn cho chúng sanh. Nếu đã không làm
được như vậy, lại còn cực lực hủy báng Tam Bảo, là
tự mình chuốc lấy tai họa thâm sâu và làm hại cho tất
cả mọi người, làm đoạn tuyệt tất cả hạt giống trong
ngôi Tam Bảo. Tội ác này lớn biết dường nào, vì vậy mà
kết thành căn bổn trọng tội!
Ðề
mục giới này gọi là hủy báng, chính là sự chống trái,
tự mình không minh bạch chút đạo lý nào, không có tri kiến
chính xác, rồi đối với Tam Bảo vọng sanh chê bai, bàn luận
hoàn toàn không đúng sự thật, nên gọi là hủy báng.
Tam
Bảo là phước điền mầu mỡ, đem lại lợi ích cho tất
cả chúng sanh, đáng lẽ không được hủy báng. Nhưng chúng
sanh sở dĩ hủy báng Tam Bảo là do tà kiến xúi giục.
Tà
kiến là sự sai lầm của tư tưởng. Khi một người có tư
tưởng sai lầm thì bất cứ điều gì họ cũng cực lực bài
bác, không thừa nhận. Phật pháp nhận định rằng những
tội lỗi do tư tưởng sai lầm sản sinh, so với tất cả những
tội khác thì nặng hơn hết. Tà kiến nói ra thì rất nhiều,
nhưng chư cổ đức quy nạp lại một cách đại khái gồm
có bốn loại sau đây:
1.
Thượng phẩm tà kiến: loại tà kiến này phủ nhận mọi
hành vi đạo đức. Căn bản là bài bác luật nhân quả của
thiện ác nghiệp. Không thừa nhận bất cứ thuyết thiện
nhân, thiện quả hay ác nhân, ác quả nào, như hạng nhất-xiển-đề
thuộc loại tà kiến thượng phẩm này.
(Nhất-xiển-đề,
Trung Hoa dịch là Bất Tín. Nghĩa là không tin Phật pháp. Kinh
Niết Bàn quyển năm nói: “Những người không có tín tâm
với Tam Bảo gọi là nhất-xiển-đề”).
2.
Trung phẩm tà kiến: thứ tà kiến này không thừa nhận Tam
Bảo có công đức thù thắng hơn ngoại đạo, thậm chí còn
nói Tam Bảo không bằng ngoại đạo là khác.
Nếu
loại chấp trước sai lầm này uẩn súc trong nội tâm đã
thành thục rồi hủy báng Tam Bảo thì phạm căn bổn trọng
tội, luôn cả giới thể cũng bị mất. Nếu nội tâm đã
thừa nhận Tam Bảo là thù thắng hơn ngoại đạo, nhưng chỉ
ở đầu lưỡi rao nói Tam Bảo không bằng ngoại đạo. Vì
chưa bỏ Chánh Ðế theo hẳn Tà Ðạo, dù là phạm căn bổn
trọng tội, nhưng giới thể không hoàn toàn bị mất. Nhưng
nếu một lần nói Tam Bảo không bằng ngoại đạo thì kết
trọng tội một lần. Nói nhiều lần thì kết trọng tội
nhiều lần. Vì thế, tội hủy báng Tam Bảo này không nên
tùy tiện nói càn.
3.
Hạ phẩm tà kiến: các Phật tử thọ Bồ Tát giới, tu học
pháp Ðại Thừa, phải thú hướng đến Ðại Thừa, là mục
đích duy nhất của mình. Về sau nếu bỗng nhiên biến cải
ý niệm của mình, buông bỏ bổn nghiệp Ðại Thừa cần phải
học tập của mình, để chuyên tâm nhứt ý học theo pháp
Tiểu Thừa.
Nếu
thứ pháp chấp trước này đã thành tựu trong nội tâm thì
phạm căn bổn trọng tội, và mất hẳn giới thể của Bồ
Tát.
Nếu
thứ chấp trước này chưa thành tựu trong nội tâm, thì chỉ
thuộc về giới có tâm trái bỏ Ðại Thừa, trong phần các
giới khinh.
4.
Tạp loại tà kiến (tà kiến tạp nhạp, gặp thứ nào cũng
tin): Chia làm nhiều trường hợp.
*
Chấp Ðại Thừa hủy Tiểu Thừa: cho rằng Bồ Tát học pháp
Ðại Thừa, chỉ cần thành thật học pháp Ðại Thừa là
đủ. Với giáo pháp tương ứng Thanh Văn thừa, Bồ Tát không
cần phải học tập, như trong Du Già Bồ Tát Giới Bổn nói:
“Bồ Tát cần chi học tập, cần gì phải nghe theo và bẩm
thọ, hành trì, tinh tấn tu học giáo pháp tương ứng Thanh
Văn thừa?” Như thế sẽ phạm tội khinh cấu “nhiễm ô
khởi”.
(Lưu
ý: Danh từ “nhiễm ô khởi” có rất nhiều ý nghĩa. Ở
đây có nghĩa là một thứ tội từ phiền não phát sanh).
Phải
biết Phật pháp bên Tiểu Thừa dù nói là không được rốt
ráo, nhưng đây là phần cơ bản rốt ráo của Phật pháp xuất
thế. Vả lại, chư Phật trong ba đời xuất hiện ở thế
gian, giáo hóa chúng sanh, không vị Phật nào chẳng tuyên thuyết
giáo pháp Tam Thừa.
Cho
nên Bồ Tát đã phát Bồ Ðề tâm, đối với pháp Ðại Thừa
cần phải tu học là lẽ đương nhiên, nhưng với pháp Thanh
Văn thừa cũng cần phải học tập, để làm phương tiện
độ sanh cho chính mình. Không được nói: “Tôi đây là người
Ðại Thừa, không cần học pháp Tiểu Thừa”. Nhưng nếu
chỉ chấp chặt một bên, theo pháp Tiểu Thừa không ra khỏi,
cố nhiên cũng không đúng; nhưng bài bác pháp Tiểu Thừa không
chịu học tập, cũng là điều tuyệt đối sai lầm.
Lại
có người khuynh hướng thiên về sự hủy báng một bộ kinh
nào đó. Như đối với các kinh điển Ðại Thừa, bộ nào
hợp với tư tưởng của mình thì thừa nhận là Phật nói.
Nếu bộ nào không hợp thì cho là không phải Phật nói, và
cho rằng bộ kinh ấy không phải của Phật giáo, mà thuộc
về tà thuyết của ngoại đạo. Chấp như vậy sẽ phạm tội
khinh cấu.
Trong
giới kinh nói: “Nếu Bồ Tát khi nghe nghĩa lý thậm thâm,
chân thật của Bồ Tát pháp tạng cùng với vô lượng thần
thông diệu dụng của chư Phật, Bồ Tát, mà bài báng, không
tiếp thọ, nói là không có lợi ích cho chúng sanh, không phải
pháp của Như Lai nói, không thể đem sự lợi ích an lạc lại
cho chúng sanh thì vị Bồ Tát này phạm tội nhiễm ô khởi”.
Lại
nữa, nếu có kẻ tín tâm không được thuần khiết, người
ấy đối với oai đức của Tam Bảo, với nghĩa lý của pháp
Ðại Thừa, luật nhân quả thiện ác, tuy có tâm thâm tín
không đối nghịch, nhận chân những lời trong kinh nói đều
đúng. Nhưng đồng thời cũng cho rằng ngoại đạo, quỷ thần
cũng có oai lực của quý vị ấy, nên bảo nhau tín phụng
theo ngoại đạo hoặc quỷ thần. Thậm chí còn dùng phù chú,
điệp sớ cúng tâu lên cho quỷ thần biết rõ. Chẳng những
tự mình tin hiểu, thực hành như vậy, lại còn khuyến hóa
mọi người cũng tin hiểu và thực hành như vậy.
Việc
này trong thời buổi hiện tại có thể nói là rất nhiều.
Y theo giới Bồ Tát mà nói, lối tin không thuần khiết này
không thể chấp nhận và sẽ phạm tội khinh cấu.
Chúng
ta nên biết, đối với tín ngưỡng, điều tối yếu là không
được phức tạp. Nếu bất cứ điều gì cũng cho là đúng,
tin một cách tạp nhạp, không phân biệt Phật, quỷ thần
hoặc Bồ Tát, là trái với chánh tín của người Phật tử,
thuộc về tri kiến điên đảo, không thể gọi là người
Phật tử chánh tín.
Lại
có hạng người vì sức trí huệ kém, đối với mọi vấn
đề không biết khéo léo phân biệt lựa chọn, chỉ nương
theo những lời giải thích bất đồng của người khác; cho
rằng lời giải thích này cũng đúng, lời giải thích kia cũng
đúng, nên không dám có ý kiến riêng để bài bác người.
Hạng người này không phạm tội gì. Nếu tự mình sức trí
huệ kém, hiểu biết không tới, đối với kiến giải của
người không tự thấu triệt lại theo trí huệ thiển cận
của mình mặc tình lấy, bỏ, người này phạm giới khinh
suất.
Lại
nữa, có kẻ biết lý thuyết của người khác là đúng, nhưng
vì muốn phô bày kiến giải của mình, tự cho là cao siêu,
cưỡng kiến, lập tư tưởng, lý luận của tự mình không
đồng với mọi người. Lại còn cực lực bài xích tư tưởng,
lý luận của người, cho rằng không đúng. Hạng người này
phạm tội kiêu mạn.
Lại
có hạng người thuyết pháp theo lối tương tự (mới nghe
thấy giống như chánh pháp), nghĩa là điên đảo giảng nói
cho người. Chẳng hạn nói rằng: Ðại phàm Bồ Tát hành Bồ
Tát đạo, phải ở trong sanh tử hóa độ chúng sanh, cho nên
không tích cực mong cầu lạc thú Niết Bàn. Nếu chỉ ưa thích
chứng đắc Niết Bàn thì bị sa vào lỗi trầm không trệ
tịch như những kẻ chấp Không bên Tiểu thừa, mãi ở trong
cảnh Niết Bàn, hưởng thụ sự khoái lạc của Niết Bàn,
nên không thể ở trong sanh tử hóa độ chúng sanh (“trầm
không trệ tịch” chỉ cho các thánh nhân phái Tiểu thừa,
ưa thích an trụ Niết Bàn, không nhập thế độ sanh). Vì muốn
gánh vác trách nhiệm hóa độ chúng sanh, vì muốn tích cực
với công tác độ sanh nên vị Bồ Tát bất luận thế nào
cũng không nên cầu ưa thích chứng đắc Niết Bàn, mà phải
cực lực nhàm chán lìa bỏ. Cần phải ở trong sanh tử cứu
độ chúng sanh, nên đối với các phiền não có công năng
tư nhuận cho sanh tử, không nên sanh tâm sợ sệt, không nên
suốt năm tháng lo đoạn trừ phiền não.
Tại
sao vậy? Vì phiền não một khi đã đoạn trừ, thì sẽ chứng
đắc Niết Bàn. Mà đã chứng đắc Niết Bàn thì không thể
ở trong sanh tử hóa độ chúng sanh. Thế là hoàn toàn không
tương ứng với tinh thần Bồ Tát đạo.
Vì
thế, Bồ Tát đối với các phiền não làm não loạn thân
tâm, không cần sanh tâm nhàm chán như các hành giả Thanh Văn
thừa.
Tại
sao vậy?
Vì
Bồ Tát phát Bồ Ðề tâm, hành Bồ Tát đạo, phải ở trong
thời gian lâu xa ba a tăng kỳ kiếp thọ sanh tử, để cầu
quả vô thượng Bồ Ðề. Ðiều minh chứng là trường hợp
đức Di Lặc Bồ Tát ở trong sanh tử độ sanh. Chính Ngài
không cần tu tập Thiền Ðịnh, cũng không cần đoạn phiền
não. Ngài là tấm gương rất tốt cho chúng sanh noi theo. Như
vậy, cần chi phải sanh tâm nhàm lìa sanh tử và đoạn diệt
phiền não, ưa thích Niết Bàn?
Lối
thuyết pháp trên hoàn toàn sai lầm, và trái hẳn với tinh
thần của Ðại Thừa Phật pháp, và đối với giới Bồ Tát
cũng có chỗ vi phạm. Tại sao vậy? Nên biết rằng: phiền
não nhiễu loạn thân tâm giới. Chẳng những hành giả Thanh
Văn trong thâm tâm cực lực nhàm lìa, mà chính ngay chư Bồ
Tát trong thâm tâm cũng chán lìa phiền não một cách nhiệt
thiết. Tâm chán lìa phiền não của Bồ Tát, nếu đem so với
hành giả Thanh Văn thì vượt xa đến trăm nghìn vạn ức lần.
Với
sự sợ hãi sanh tử, sự ưa thích mong cầu Niết Bàn, hành
giả Thanh Văn thừa đều không thể sánh kịp với Bồ Tát.
Tại sao vậy?
Vì
hành giả Thanh Văn chỉ mong giải thoát cho chính mình; còn
Bồ Tát mục đích là khắp vì tất cả chúng sanh mà cầu
chứng Niết Bàn, nên nỗ lực đoạn phiền não để giải
thoát cho chính mình, đồng thời làm lợi ích cho tất cả
chúng sanh, như thế không thể bảo là giống nhau được.
Ðặc
điểm lớn nhất của Bồ Tát là ở trong sanh tử mà không
bị sanh tử lay động và dần dần thoát ly sanh tử. Lăn lộn
trong phiền não mà có thể dần dần xa lìa phiền não.
Như
đức Di Lặc Bồ Tát không cần tu tập Thiền Ðịnh, không
cần đoạn trừ phiền não mà lại được đức Bổn Sư Thích
Ca thọ ký cho Ngài sẽ ở thế giới này thành Vô Thượng
Chánh Ðẳng Chánh Giác. Công phu tu hành đến mức này đâu
phải hành giả Thanh Văn có thể thực hành được.
Theo
những điều vừa phân tích, chúng ta thấy Bồ Tát không phải
không có tâm ưa thích cầu chứng Niết Bàn, không phải không
sợ sanh tử, không phải không lo đoạn trừ phiền não. Như
vậy thì những lời thuyết pháp trên thuộc về lối vọng
ngữ điên đảo và lầm lộn.
Giới
này thất chúng Phật tử dù không hoàn toàn vi phạm, nhưng
cũng không phải hoàn toàn không trái phạm. Vì phiền não chúng
sanh quá sâu nặng, đôi lúc phiền não xung động mà quên hẳn
mình là đệ tử của Tam Bảo. Ðối với Tam Bảo mà mình
đã phụng kính từ lâu, vô tình không ý thức, sanh ra hủy
báng mà tự tạo tội nghiệp rất sâu nặng cho chính mình.
Ðức Phật biết rõ Phật tử có thể vi phạm giới này nên
trong giới Ðại Thừa và Tiểu Thừa đều có chế định giới
điều này, để ngăn ngừa tội hủy báng phi lý. Nhưng lập
trường của Ðại Thừa và Tiểu Thừa bất đồng, nên việc
phạm giới có sự khinh, trọng sai khác.
Bồ
Tát lấy việc độ sanh làm trách nhiệm, nên đối với chúng
sanh phải giảng nói Phật pháp thuần chánh, không nên nói
Phật pháp tương tự. Với Tam Bảo, phải tìm nhiều phương
tiện xưng dương, tán thán, không nên có một niệm hủy báng,
bất kính.
Nếu
hủy báng Tam Bảo và tuyên thuyết chánh pháp tương tự làm
lầm loạn giáo pháp của Như Lai, tội này nặng vô cùng, nên
liệt vào căn bổn trọng tội. Hành giả Thanh Văn lấy việc
tự tu làm trách nhiệm, nếu giảng nói pháp tương tự, tuy
không đến nỗi đầu độc chúng sanh sâu nặng, nhưng hủy
báng Tam Bảo đương nhiên cũng là tội đại nghịch.
Những
bạn đồng đạo khi thấy xảy ra sự kiện này, phải cố
gắng khuyên ngăn, giảng giải cho họ rằng: hành động giảng
nói pháp tương tự hoàn toàn bất lợi với họ, và điều
ấy quyết không được làm.
Nếu
như một, hai lần đến ba lần khuyên gián mà họ vẫn không
từ bỏ, thì xem như họ đã bị tà độc ăn sâu vào tâm,
không phương thế cứu vãn. Lúc ấy, đành phải kết tội
họ, nhưng chỉ là phạm Ba Dật Ðề, thiên thứ ba trong số
năm thiên, và so với căn bổn trọng tội của Bồ Tát có
sự khác biệt thật sự:
Thể
của Tam Bảo như vầng nhật nguyệt không thể dùng một ngón
tay mà ngăn che được.
Ðức
của Tam Bảo không thể dùng một lời mà có thể hủy báng
được. Nếu hủy báng Tam Bảo chẳng khác nào người quăng
búa muốn chém chặt hư không. Hư không không thể chém chặt
được, trái lại tự thương hại cho bản thân mình. Hủy
báng Tam Bảo cũng thế, chỉ gia tăng tội ác cho mình mà thôi,
Ðức
Phật đối với đại chúng dạy rằng: “Nếu Phật tử là
một vị Bồ Tát đi lợi ích chúng sanh, bất luận tự mình
hủy báng Tam Bảo, hay bảo người hủy báng Tam Bảo, tội
lỗi ấy rất nặng và to lớn. Vì chẳng những đem hết thiện
căn công đức của mình thiêu đốt hết, lại còn phá hoại
tín tâm của chúng sanh đối với Tam Bảo, đồng thời còn
tiêu diệt pháp nhãn của chúng sanh. Ấy là một đại ác tri
thức của chúng sanh, làm cho cả mình lẫn người thành tựu
nghiệp nhân A Tỳ địa ngục”. Vì thế, để tăng trưởng
thiện căn cho mình hay cho người, đều không nên hủy báng
Tam Bảo.
Thế
nào là tự mình hủy báng Tam Bảo?
Có
một loại ngoại đạo nói như vầy: “Ðệ tử Phật thường
nói đức Giáo Chủ của họ là bậc Nhất Thiết Trí, nhưng
chúng ta xem ra trên thế gian này, không có một người nào
là Nhất Thiết Trí. Thế mà tín đồ Phật giáo nói bậc Nhất
Thiết Trí chính là Ðức Phật. Chúng ta không thể thừa nhận,
vì trong thực tế vẫn không có Phật...” Như thế là hủy
báng Phật Bảo.
Chánh
pháp của Như Lai tuyên thuyết có bốn thứ: Giáo, Lý, Hạnh,
Quả. Bất luận hủy báng thứ nào đều gọi là hủy báng
Pháp Bảo.
Như
có người bị ma làm mê hoặc, do đó, đối với Phật pháp
tín giải không chính xác, nên đối với kinh điển thậm thâm
của Như Lai cực lực hủy báng rằng: “Kinh điển này không
phải của Phật nói, Phật không bao giờ nói những lời như
vậy”. Người thốt ra những lời như thế là hủy báng Pháp
Bảo.
Vì
đối với giáo pháp của Phật dám cả gan phán đoán cho là
không phải pháp, không phải luật. Như trong kinh Ðại Bát
Nhã, quyển thứ năm trăm, cũng nói:
“Thiện
Huệ bạch Phật rằng:
-
Người ngu si kia do duyên cớ, nghiệp duyên chi mà hủy báng
pháp Bát Nhã Ba La Mật Ða thậm thâm như thế?
Ðức
Phật bảo Thiện Huệ vì bốn nhân duyên như sau:
-
Bị các tà ma dối gạt, mê hoặc.
-
Do nguyên nhân đối với pháp thậm thâm không tín giải.
-
Do nguyên nhân không chuyên cần tinh tấn tu tập, chỉ đắm
trước thân ngũ uẩn và bị các ác tri thức dẫn dắt.
-
Do nguyên nhân thường ôm ấp tâm niệm sâu hận, ưa làm ác
pháp, tự mình cống cao, khinh miệt người khác.
Hạng
người ngu si kia vì hội đủ bốn duyên nên hủy báng pháp
Ba La Mật thậm thâm của Như Lai.
Tăng
Bảo, theo Phật pháp nói có hai loại là Thanh Văn Tăng và Bồ
Tát Tăng. Thanh Văn tăng lấy tự lợi làm chủ; Bồ Tát Tăng
lấy lợi tha làm gốc, đều là phước điền của nhân gian,
người người cần phải cung kính, tôn trọng. Nhưng có người,
do tà kiến đã ăn sâu vào tâm, nói rằng: “A La Hán và Bồ
Tát quả thật là đáng tôn, đáng quý, vì các Ngài đều là
bậc thân tâm thanh tịnh mà được tự do giải thoát. Nhưng
hiện trên đời này tôi không tin có vị A La Hán và Bồ Tát
chân thật. Chẳng qua là Bồ Tát tương tự và Thanh Văn giả
mà thôi”. Người nào nói như vậy, chính là hủy báng Tam
Bảo.
Hủy
báng Tam Bảo như vậy tự mình mất hẳn mầm thiện căn, cùng
làm cho mầm thiện căn của chúng sanh cũng mất hẳn, tội
này rất nặng.
Thế
nào là người hủy báng Tam Bảo?
Là
có hạng người tà kiến, đã tự mình hủy báng Tam Bảo,
lại còn muốn nhiều người kết thành bè đảng hủy báng
Tam Bảo. Vì người ấy nghĩ rằng: nếu riêng một cá nhân
họ hủy báng thì chỉ gây một ảnh hưởng quá yếu, khó
làm cho người tin nhận, cũng không thể làm cho ngôi Tam Bảo
lay động. Bấy giờ đi đâu cũng cổ động người khác hủy
báng Tam Bảo, kéo người vào bè đảng của mình để cho thanh
thế của mình được lừng lẫy và Tam Bảo không thể ở
lâu trong thế gian. Làm cho tất cả chúng sanh sa vào trong lưới
tà kiến của mình, không cách nào tự cứu.
Sau
đó, không cần dùng miệng bảo người hủy báng Tam Bảo,
chỉ cần đem những tư tưởng, ngôn luận của mình muốn
hủy báng Tam Bảo, viết thành một thiên văn chương, hoặc
quyển sách nho nhỏ, truyền bá khắp nơi và lưu truyền mãi
đến đời vị lâu dài, khiến những người kiến giải cạn
cợt, đối với Phật pháp không có nhận thức, sau khi xem
quyển sách ấy, vì trong tâm đã có tri kiến nhất định,
nên phụ họa theo, đi đến đâu cũng hủy báng Tam Bảo. Như
thế là đã đầy đủ hai thứ tội: tự mình hủy báng và
bảo người hủy báng.
Sự
thật Tam Bảo không có gì hủy báng được. Một người sở
dĩ hủy báng Tam Bảo không phải do tri kiến của họ không
chính xác, mà vì họ chưa có sự nhận thức chính xác đối
với Tam Bảo. Hoặc vì xem những sách tà giáo hay nghe theo lời
bài bác, luận nghị của những người có thế lực, rồi
vô tình không hay biết, đâm ra hủy báng Tam Bảo.
Tội
hủy báng Tam Bảo làm cho tự mình trong tương lai không được
gặp Tam Bảo, vĩnh viễn đọa trong tam ác đạo, thọ các bệnh
khổ. Thật bất lợi hoàn toàn cho chính mình.
Giới
này ở đây gọi là giới “hủy báng Tam Bảo”. Trong Du Già
Bồ Tát giới bổn, gọi là giới “báng loạn chánh pháp”.
Nghĩa là đem tà kiến của mình báng loạn chánh pháp của
Như Lai.
Báng
loạn cùng hủy báng, hai từ này không giống nghĩa nhau. Tội
hủy báng nhẹ hơn tội báng loạn chánh pháp. Báng loạn chánh
pháp mắc tội rất nặng, vì báng loạn chánh pháp của Như
Lai, nói pháp tương tự khiến tà, chánh không phân biệt. Chẳng
những có hại chánh tri, chánh kiến của Như Lai, còn làm cho
chúng sanh đui mù, không có cặp mắt trí huệ.
Vì
thế, nếu chính mình đối với Bồ Tát Tạng thậm thâm chưa
hiểu rõ, thì nên thừa nhận trí huệ của mình chưa đủ,
cần phải học tập thêm cho được thông suốt. Tuyệt đối
không nên vì sự thiển cận của mình mà tùy tình mặc ý
hủy báng Tam Bảo. Hoặc không khéo phân biệt pháp tướng,
thấy người nói mình cũng nói theo, mà hủy báng pháp Ðại
Thừa, nói đây không phải là lời Phật. Vị Bồ Tát này
đã bị tà kiến, phiền não sai sử và chiết phục, nên phạm
pháp Tha Thắng Xứ.
Như
trong Du Già Bồ Tát Giới Bổn nói: “Nếu chư Bồ Tát hủy
báng Bồ Tát Tạng, ưa thích tuyên thuyết, khai thị, kiến
lập chánh pháp tương tự. Ðối với chánh pháp tương tự,
tự mình sanh tín giải, hoặc bị pháp tương tự ấy lay chuyển,
gọi là pháp Tha Thắng Xứ thứ tư”.
Kết
thành tội hủy báng Tam Bảo cũng có bốn điều kiện: Nhân,
duyên, pháp, nghiệp:
1.
Báng nhân (nhân hủy báng): từ vô thỉ chúng sanh đã sẵn
có tâm tà kiến ở trong Tạng Thức, do đó mà ưa theo những
thứ luận nghị tà đạo, nên hiện tại sanh khởi tâm niệm
tà kiến, muốn hủy báng Tam Bảo, đấy là nhân hủy báng.
2.
Báng duyên (duyên hủy báng): vì đã có nhân hủy báng, nhân
ấy tương tục mãi trong tâm, đến khi có một kẽ hở làm
phương tiện, giúp thành tựu cho tà thuyết, gọi là duyên
hủy báng.
3.
Báng pháp (cách thức hủy báng): dùng những lời khéo léo
hư ngụy để hủy báng hoặc theo lối lý luận tà thuyết
của mình, sáng tác, viết sách để mê hoặc nhân tâm, gọi
là cách thức hủy báng.
4.
Báng nghiệp (nghiệp hủy báng): do ba nghiệp trên hòa hợp
lại, tạo thành sự hủy báng. Nếu người trước mặt lãnh
hội những lời hủy báng thì sẽ thành tựu khổ quả của
nghiệp hủy báng, phải bị đọa trong tam ác đạo, gọi là
nghiệp hủy báng.
Tội
hủy báng Tam Bảo khiến những người tà kiến tin theo, tương
lai chẳng những không được gặp Tam Bảo, lại cũng không
nghe được danh từ Tam Bảo.
Ở
đây có điều cần nói rõ: nhân hủy báng dù lấy tà kiến
làm chủ, nhưng thật sự bao gồm cả tam độc.
-
Như vì cầu danh lợi mà hủy báng là do tham tâm làm nhân.
-
Nếu do ôm ấp niệm oán thù mà hủy báng là do sân tâm làm
nhân.
-
Nếu do mê muội không biết mà hủy báng là do si tâm làm nhân.
Vì
thế, với tội hủy báng Tam Bảo, cần phải xem phát xuất
từ động cơ nào, và dù là do động cơ nào, chỉ cần hủy
báng Tam Bảo thì phạm căn bổn trọng tội.
“Một
hành giả Bồ Tát chân chính, khi nghe một lời hủy báng Tam
Bảo của ngoại đạo và người ác, lòng cảm thấy đau như
bị ba trăm cây nhọn đâm vào tim mình, huống là tự miệng
mình hủy báng”.
Phàm
những người ngoài tâm cầu pháp, bất cứ ở Ấn Ðộ, Trung
Hoa hay những quốc gia khác, hoặc bất cứ là tín đồ của
tôn giáo nào... đều cùng gọi là ngoại đạo, chứ không
chỉ nhất định là kẻ cực tà. Phàm những người không
tin Ðại Thừa thường trụ Tam Bảo, xa lìa tâm địa đại
giới này, mà học tập theo tà giáo của những đạo khác,
cùng những người bác không nhân, không quả, không thiện,
không ác đều thuộc về hạng ác nhân, không riêng gì những
hạng người hung ác cùng cực mới tính kể.
Ngoại
đạo cùng với người ác đều không tránh khỏi tội hủy
báng Phật.
Là
Phật tử, hết lòng cung kính tôn trọng Phật là đấng Từ
Phụ của mình, không bao giờ có tâm muốn nghe người nào
hủy bángười Ðấng Cha Lành của mình. Khi nghe một lời hủy
báng Phật, nội tâm sẽ cảm thấy đau đớn không yên. Sự
đau đớn bất ổn này đến mức độ nào? Sự đau khổ này
dường như ba trăm cây nhọn đâm vào tim mình, như vậy làm
sao có thể chịu nổi?
Sự
đau đớn do ba trăm cây nhọn đâm vào tim thực không thể
nào tả xiết. Nhưng cùng tận của sự đau thân mạng nhục
thể này đến mức nó bị tiêu diệt là cùng, còn sự nguy
hại của hủy báng Tam Bảo, đoạn tuyệt Phật chủng của
chúng sanh, tán thất huệ mạng của chúng sanh, đương nhiên
khiến cho người không thể nào nhẫn thọ được. Chỉ thốt
một lời hủy báng còn như thế, huống chi dùng nhiều lời
để hủy báng? Tai nghe người hủy báng hãy còn như vậy,
huống chi chính miệng thốt lời hủy báng? Vì thế, một Phật
tử, đặc biệt là Phật tử thọ Bồ Tát giới thì không
thể nào chấp nhận hoặc hành động như vậy được.
Trong
Du Già, quyển bảy mươi chín, nói: “Bồ Tát lấy cái gì
làm khổ? Chúng sanh bị tổn não chính là nỗi khổ của Bồ
Tát. Như thế, Bồ Tát lấy cái gì làm vui? Chúng sanh được
sự lợi ích, chính là niềm vui của Bồ Tát. Những nỗi khổ
của chúng sanh thật rất nhiều, nhưng có nỗi khổ nào hơn
sự hủy báng chánh pháp”.
Tại
sao vậy?
Vì
chánh pháp của Như Lai là chỗ nương dựa của chúng sanh.
Chúng sanh nương theo đó mà tu trì để được giải thoát
và chứng quả. Nếu như hủy báng chánh pháp, khi chúng sanh
nghe những lời hủy báng này sẽ không còn dám nương theo
chánh pháp để tu trì. Ðây là sự não hại chúng sanh rất
lớn, không thể đo lường được. Cho nên Bồ Tát khi nghe
lời hủy báng Tam Bảo, tự mình cảm thấy khác nào như bị
cây nhọn đâm vào tim.
Theo
quan niệm của Phật pháp, một người Phật tử tu tập từ
tâm, đương nhiên lấy lợi ích của chúng sanh để làm sự
khoái lạc cho chính mình. Ngược lại, những người chưa từng
tu tập từ tâm, thì lấy sự đau khổ của chúng sanh để
làm sự khoái lạc cho chính bản thân họ. Bồ Tát lấy lòng
từ bi làm gốc, nên không thể nỡ lòng thấy chúng sanh quay
cuồng trong đau khổ.
Ở
đây có một điểm cần lưu ý là theo kinh văn thì giới này
chỉ đề cập sự báng Phật, như vậy, tại sao đề mục
của giới lại đề là “hủy báng Tam Bảo”?
Nên
biết Pháp Bảo là từ nơi kim khẩu của Ðức Phật tuyên
thuyết. Tăng bảo là những đệ tử xuất gia của Ðức Phật,
nên kinh văn chỉ nói Phật Bảo tức là đã bao trùm Pháp Bảo
và Tăng Bảo trong ấy. Báng Phật tự nhiên cũng là báng Pháp
và Tăng, cho nên nói là “hủy báng Tam Bảo”.
Lại
nữa, Phật là bậc đạo sư của nhân thiên, là cha lành của
bốn loài. Ngài vẹt tan mây mờ cho chúng sanh, dắt chúng sanh
ra khỏi luân hồi trong tam giới. Ðối với Phật, lẽ ra phải
hết lòng sanh tâm tin kính tột độ, sao lại đi ngược lại,
sanh tâm bất tín đối với ngài?
Phật
là đấng Ðại Từ Phụ bạt trừ thống khổ cho chúng sanh,
ban sự an vui cho chúng sanh, lẽ ra phải khởi tâm hiếu thuận,
chí thành; nếu ngược lại, đối với Phật không sanh tâm
hiếu thuận, chính là liệt vào hạng đồng với kẻ ác. Không
có lòng kính tin là đồng với ngoại đạo. Như thế, không
đúng với tư cách một người Phật tử, “lại còn giúp
sức cho kẻ ác, kẻ tà kiến hủy báng” để tự mình được
khoái ý, thì khác gì kẻ phản nghịch. Như vậy chính là rận
trong thân sư tử, ăn thịt sư tử, làm sao xứng đáng là một
vị Bồ Tát có đầy đủ tư cách để vâng giữ Ba La Ðề
Mộc Xoa? Cho nên cuối cùng trong kinh phán định: “Phật tử
này phạm Bồ Tát Ba La Di tội”.
Giới
này bao gồm đủ cả Tam Tụ Tịnh Giới của Bồ Tát:
-
Mình và người không hủy báng Tam Bảo, mỗi việc đều không
phạm tức là không ác pháp nào chẳng đoạn trừ, nên thuộc
về Nhiếp Luật Nghi Giới.
-
Khi nghe người ác và ngoại đạo hủy báng Tam Bảo, lòng cảm
thấy đau đớn như hàng trăm cây nhọn đâm vào tim nên thuộc
về Nhiếp Thiện Pháp Giới.
-
Giáo hóa chúng sanh nên có lòng kín tin, hiếu thuận, tức là
không một chúng sanh nào không độ, nên thuộc về Nhiếp Chúng
Sanh Giới.
Nếu
vi phạm giới này, tức là hủy báng Tam Tụ Tịnh Giới của
Bồ Tát thì tư cách của một vị Bồ Tát đã bị bại hoại
và mất hẳn.
Muốn
đừng hủy phá giới này, điều kiện duy nhất chỉ có trí
huệ hợp cùng với tâm thâm tín. Ðối với ngôi Tam Bảo phải
có tín tâm thanh tịnh sâu dày, giữ gìn kiên cố không để
bị phá hoại. Dầu ở hoàn cảnh nào, thà hy sinh tính mạng,
trải qua trăm ngàn vạn ức kiếp, đối với Tam Bảo quyết
không sanh một niệm nghi ngờ.
Nếu
chúng ta dùng trí huệ phân biệt, tìm xét khắp trong nhân gian
cũng như ở thiên giới sẽ thấy tất cả pháp trong thế gian
hay xuất thế gian, không có pháp nào đem so với ngôi Tam Bảo
thù thắng và kiết tường hơn; không có pháp nào công đức
rộng lớn hơn.
Tín
tâm đối với ngôi Tam Bảo phải luôn luôn có tinh thần quyết
định như vậy. Không được để bất cứ tư tưởng lầm
loạn nào làm lay động tín tâm thanh tịnh của mình đối
với ngôi Tam Bảo.
Tội
hủy báng Tam Bảo thật là rất nặng, trong đó tội hủy báng
Pháp Bảo thì trọng đại nhất. Sự trọng đại này, nếu
đem so sánh với sự tạo nghiệp ngũ vô gián lại còn nặng
hơn nữa.
Nên
kinh Ðại Bát Nhã, quyển thứ năm trăm, nói:
“Tôn
giả Xá Lợi Phất bạch Phật rằng: “Kính bạch Thế Tôn!
Chúng sanh tạo tác ác nghiệp có thể chiêu cảm quả báo không
được nghe chánh pháp, đem so sánh với nghiệp ngũ vô gián
có bằng nhau hay không?”
Ðức
Phật bảo rằng: - Chiêu cảm nghiệp không được nghe chánh
pháp hết sức thô trọng, không thể đem so sánh với nghiệp
ngũ vô gián. Chúng sanh nghe pháp Bát Nhã Ba La Mật Ða thậm
thâm, liền chống lại, hủy báng rằng những lời như thế
không phải là Phật nói, đó là những lời phi pháp, phi luật.
Xá Lợi Tử! Người nào hủy báng chánh pháp, Ta quyết định
không cho người ấy an trụ Bồ Tát thừa”.
Tội
hủy báng Tam Bảo hay hủy báng Ðại Thừa rất thô trọng
và quả báo người ấy phải lãnh thọ như thế nào?
Tội
này đồng với tội Ngũ Nghịch, sau khi xả báo thân quyết
định đọa vào địa ngục A Tỳ, phải trường kỳ chịu
bao nhiêu kịch khổ, nên trong kinh Chư Pháp Vô Hành có nói:
“Thời
quá khứ có một pháp sư hiệu Oai Nghi, chuyên học tập pháp
Tiểu Thừa, không tin pháp Ðại Thừa, lại còn sanh tâm hủy
báng, cho pháp Ðại Thừa không phải do Phật thuyết. Do ác
nghiệp ấy, sau khi xả thân, đọa vào đại địa ngục, trải
qua bao nhiêu số kiếp phải thọ quả khổ. Khi từ trong địa
ngục ra, chuyển sanh lên nhân gian được làm người nhưng
lại bị đui mù. Nếu không đui mù thì sanh vào nhà tà kiến,
không có nhân duyên gần gũi Tam Bảo để nghe chánh pháp”.
Trong
tất cả các thứ tà kiến, tà kiến hủy báng là nặng nhất.
Như trong Du Già, quyển thứ 59 có hỏi rằng:
“Tất
cả kiến giải điên đảo đều gọi là tà kiến. Vì sao Thế
Tôn ở trong nghiệp nhân chỉ giảng nói kiến giải hủy báng
gọi là tà kiến?
Bởi
vì tà kiến này đối với trong tất cả các tà kiến khác
nặng hơn hết. Vì tà kiến này làm chỗ nương tựa cho các
tà kiến khác. Nên có những Sa Môn hay Bà La Môn đoạn diệt
tất cả các thiện căn, cũng do thứ tà kiến hủy báng này
mà ra! Vì tà kiến hủy báng tạo tội ác quá nặng, nên bị
đọa trong tam ác đạo, cảm thọ quả khổ cũng rất nặng!”
Giới
này cũng có đủ hai loại Tánh và Giá Tội. Vì dù hủy báng
Tam Bảo hay hủy báng chánh pháp đều do tà kiến làm cơ bản
phát sanh, mà căn nguyên của tà kiến là ở tự nơi tâm, cho
nên thuộc về tánh tội. Ðức Phật ngăn cấm không được
vi phạm giới này. Nếu vi phạm tức phạm về Giá tội.
Phạm
giới này cũng phải hội đủ năm duyên mới kết thành tội
cực trọng như sau:
1.
Thị chúng sanh (đúng là chúng sanh): với chúng sanh hai phẩm
thượng và trung, nếu hủy báng thì phạm căn bổn trọng tội.
Với chúng sanh hạ phẩm nếu hủy báng thì chỉ phạm tội
khinh cấu.
2.
Tướng chúng sanh: duyên này cũng chia làm 6 trường hợp khác
nhau, tương tự như các giới bên trên đã phân biệt rõ.
3.
Tâm dùng những tà kiến không chánh đáng, có sự tính toán
sai lầm, rồi vọng nhận những việc ấy là chân thật, đúng
đắn, cho tất cả điều còn lại là hư vọng. Do nội tâm
có những quan niệm sai lầm này, nên đối với người khác
luôn thích nói những lời phỉ báng.
4.
Lúc thốt lời hủy báng: duyên thứ ba bên trên chỉ là trong
tâm muốn nói, nên còn thuộc về trong nội tâm, nhưng chưa
chánh thức thể hiện ra lời mình muốn nói.
Trung
Hoa có câu: “Cốt ngạnh tại hầu, bất thổ bất khoái”
(trong cổ mắc xương, không khạc ra được thì rất khó chịu).
Nên cuối cùng phải đem những điều nghĩ tưởng trong tâm
nói ra. Hoặc tự mình rao nói với người, hay bảo người
triển chuyển rao nói để cho sự hủy báng lan rộng, hoặc
trước tác sách vở để lưu truyền mãi mãi ở hậu lai.
5.
Người trước mặt lãnh hội và hiểu rõ: nghĩa là lời bạn
nói ra, người đối diện có lãnh hội được và hiểu rõ.
Dù là lời nói hay những sách vở bạn trước thuật, nếu
mang ý tưởng tà kiến thì cứ một lời, hay một câu, sẽ
kết thành một trọng tội. Tùy theo bạn nói lời hủy báng
nhiều hay ít mà kết thành trọng tội ít hay nhiều, không
có sự dung thứ mảy may nào.
B.1.2.
TỔNG KẾT THẬP TRỌNG (chung kết luận mười giới trọng):
Kinh
văn:
1.
Phiên âm:
Từ
câu “thiện học chư nhân giả!...” cho đến câu “...bát
vạn oai nghi phẩm đương quảng minh”.
2.
Dịch nghĩa:
Ðức
Phật kết luận và răn dạy: “Này các Phật tử! Trên đây
là mười giới trọng của Bồ Tát, các Phật tử cần nên
học. Trong mười giới đó, không nên trái phạm một giới
nào cả, dẫu một mảy nhỏ như vi trần, huống chi phạm đủ
cả mười giới ư! Nếu có người nào trái phạm, thời người
ấy hiện đời không được phát Bồ Ðề tâm, rồi cũng mất
ngôi quốc vương, ngôi Chuyển Luân Vương, ngôi tỳ kheo, tỳ
kheo ni, cũng mất những quả Thập Phát Thú, Thập Trưởng
Dưỡng, Thập Kim Cương, Thập Ðịa... tất cả diệu quả
Phật tánh thường trụ đều mất, lại bị đọa vào tam ác
đạo trong hai kiếp, ba kiếp. Chẳng được nghe danh tự của
cha mẹ và Tam Bảo. Vì thế nên không được phạm một giới
nào cả. Tất cả Bồ Tát các Ngài đã học, sẽ học và hiện
nay đang học. Mười giới như thế cần nên học, hết lòng
kính trọng phụng trì”.
Lời
giảng:
Ðã
giảng xong phần mười giới, đến đây xin giảng phần Tổng
Kết:
“Thiện
học chư nhân giả” chỉ những người học giới pháp Bồ
Tát.
Vì
sao gọi là “thiện học chư nhân giả”? Những vị Phật
tử học giới Bồ Tát vì sao gọi là “thiện học”?
Nghĩa
là cần phải đúng pháp, đúng luật, vâng lời Phật dạy,
không trái với bổn nguyên tâm địa, thuận theo lý mà tu học
mới được gọi là “thiện học”. “Chư nhân giả” tức
là chư đại đức như trong giới kinh thường gọi.
Vì
hành giả tu học Bồ Tát hạnh, lẽ tất nhiên phải có đủ
tâm từ bi lợi tế, tâm nhân ái hiếu thuận nên gọi là “nhân
giả”. Danh từ này là tiếng gọi tốt đẹp của Ðức Phật,
hàm ý khen ngợi những Phật tử học giới Bồ Tát, không
phải những người thường mà được gọi bằng danh từ ấy.
“Thị
Bồ Tát Ba La Ðề Mộc Xoa”: câu kinh văn thứ hai nêu pháp
sở học. Câu “thiện học chư nhân giả” chỉ những người
luôn học hỏi. Nghĩa là, mười pháp Ba La Ðề Mộc Xoa đã
giảng ở trên, là thuộc về Quang Minh Kim Cương Bửu Giới
của bổn nguyên tâm địa, chỉ có Bồ Tát mới có thể hết
lòng kính trọng phụng trì, không phải hành giả Thanh Văn
thừa có thể tu học được.
Tu
học Quang Minh Kim Cương Bửu Giới này hiện tại tuy chưa được
giải thoát, nhưng nếu chân thành nghiêm trì không vi phạm,
thì Ðức Phật bảo chứng cho chúng ta trong tương lai nhất
định sẽ được giải thoát. Phải biết rằng pháp Ba La Ðề
Mộc Xoa sở học này là Nhân và trong tương lai được giải
thoát gọi là Quả; tức là ở trong Nhân mà nói Quả.
Ba
La Ðề Mộc Xoa đối với hành giả Bồ Tát quan hệ lớn lao
như vậy, nên các Phật tử cần phải học cho kỹ lưỡng,
ở trong mười giới ấy, không nên trái phạm giới nào cả,
dù một mảy nhỏ vi trần. Vi phạm rất nhỏ còn không được
gọi là Bồ Tát, huống chi phạm đủ cả mười giới ư? Như
vậy, tư cách của Bồ Tát do đó sẽ bị mất. Nhân mầu và
cực quả đã mất, lại thêm phạm tội ác cực trọng và
bị thọ khổ quả rất lớn.
Thêm
nữa, nếu có người nào trái phạm thì khổ quả đời vị
lai khỏi cần nói, ngay trong hiện tại, người ấy trong hiện
đời không được phát Bồ Ðề tâm.
Nên
biết, sự trì giới ví như bình địa, Phật tánh ví như hạt
giống tốt; tâm Bồ Ðề ví như mầm. Tâm Ðịa Ðại Giới
đã hư tổn thì dù Phật chủng sẵn có cũng không thể mầm
mọc được. Cho nên dù sẵn có Phật tánh, nhưng trong hiện
thời, mầm Bồ Ðề quyết không thể phát sanh. Vì chẳng những
mất tư cách của Bồ Tát, đồng thời cũng mất ngôi quốc
vương và ngôi chuyển luân vương.
Nói
theo thế gian, vào thời quân chủ trước kia, dù là tiểu quốc
vương hay Chuyển Luân Vương đều được tôn quý như nhau.
Nhưng vương vị tôn quý ấy do đâu mà có được?
Theo
Phật pháp là do nơi Tâm Ðịa Ðại Giới này mà chiêu cảm
địa vị tôn quý đoan nghiêm. Nay nếu bạn vi phạm giới pháp,
dĩ nhiên vương vị bị mất hẳn. Ngôi tỳ kheo, tỳ kheo ni
cũng mất. Tỳ kheo, tỳ kheo ni là hai chúng xuất thế, bậc
sư phạm của nhân thiên, cũng thuộc về hạng tôn quý. Sở
dĩ thành một vị tỳ kheo, tỳ kheo ni là do bẩm thọ đại
giới và nghiêm trì giới pháp thanh tịnh mà được.
Nếu
vi phạm Tâm Ðịa tịnh giới này thì tư cách của tỳ kheo,
tỳ kheo ni cũng tự nhiên mất hẳn. Lại như ba mươi tâm của
Bồ Tát cũng do trì giới mà được. Nếu đối với Tâm Ðịa
đại giới này có chỗ vi phạm, thì giai cấp, địa vị của
Bồ Tát là Thập Phát Thú, Thập Trưởng Dưỡng, Thập Kim
Cương cũng bị mất. Bồ Tát trong các địa vị Tam Hiền,
Thập Thánh, Thập Ðịa cũng đều bị mất.
“Phật
tánh diệu quả thường trụ” là chỉ cho vô thượng Phật
quả tối cao, dù nói tâm địa vốn là Phật, nhưng ở đây
là nói về Phật quả viên mãn.
Nên
trong kinh Hoa Nghiêm nói: “Giới vi vô thượng Bồ Ðề bổn”
(Giới là cội gốc của quả vô thượng Bồ Ðề). Do đây,
có thể thấy Phật quả cũng do nơi tịnh giới mà có được.
Nếu vi phạm tịnh giới thì Phật tánh diệu quả thường
trụ tự nhiên cũng bị mất hẳn.
Tóm
lại:
Phạm
mười giới Trọng trên thì những lợi ích to lớn vừa đề
cập tất cả đều bị mất; nghĩa là những sự lợi ích
thù thắng của thế gian và xuất thế gian; Ðại Thừa cùng
Tiểu Thừa đều bị mất, không có phần được thọ hưởng.
Hơn
nữa, không bàn việc được lợi ích hay không được lợi
ích, nếu vi phạm giới pháp sẽ bị đọa trong tam ác đạo,
thọ thống khổ rất lớn. Thời gian thọ khổ không phải
ngắn mà thật dài lâu, những hai kiếp, ba kiếp. Sau đó, lại
phải trải qua những kiếp sống rất đau khổ. Chẳng những
không được nghe danh tự của cha mẹ lại cũng không được
nghe danh tự của Tam Bảo.
Vì
nhân duyên ấy, nên hành giả tu học Phật pháp, đối với
mười giới trọng này không được phạm một giới nào cả.
Cuối
cùng, đối với đại chúng, Ðức Phật đã khổ khẩu bà
tâm khuyên dạy rằng: “Tất cả các Bồ Tát, các ngài hiện
đang học Bồ Tát hạnh cũng quý, sẽ học Bồ Tát hạnh cũng
quý, đã học Bồ Tát hạnh cũng quý. Ðối với mười giới
như thế cần phải khéo léo tu học. Lại cần phải hết hết
lòng kính trọng, phụng trì, không được phạm một giới
nào cả, dù một mảy may như vi trần. Vì tất cả chư Phật,
Bồ Tát đều do mười trọng trên đây mà chứng đắc quả
vị hiền thánh, cho nên đức Như Lai hai, ba phen đinh ninh khuyên
dạy phải nghiêm trì”.
Ðây
chỉ là lược giảng, nếu muốn biết rõ ràng thì xem trong
phẩm Bát Vạn Oai Nghi có giảng sâu rộng hơn.
