B.2.2.2.
ẨM TỬU GIỚI
(giới
uống rượu)
Kinh
văn:
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử cố ẩm tửu..” cho đến câu “nhược
cố tự ẩm, giáo nhơn ẩm giả, phạm khinh cấu tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
Phật tử cố ý uống rượu, mà rượu là thứ làm người
uống thường phát sanh ra vô lượng tội lỗi. Nếu tự tay
mình trao chén rượu cho người uống, sẽ mang ác báo năm trăm
đời không có tay, huống chi là tự mình uống. Cũng không
được bảo người và tất cả chúng sanh uống rượu, huống
chi là tự mình uống! Tất cả các thứ rượu, Phật tử không
được uống. Nếu mình cố uống hoặc bảo người uống,
Phật tử này phạm khinh cấu tội.
Lời
giảng:
Vấn
đề quy định mức độ và hình thức tội lỗi của việc
uống rượu, đặt rượu và bán rượu cho người, trong kinh
Phạm Võng này có sự bất đồng.
Uống
rượu đối với bản thân chính mình là một tập quán không
tốt hoàn toàn. Nhưng mức độ tai hại không lớn lắm, chỉ
làm thương tổn cho bản thân cá nhân một người. Vì thế,
việc uống rượu này chỉ kết thành tội khinh cấu.
Ðặt
rượu và bán rượu thì sự lưu hành rất rộng lớn. Vì bất
cứ người nào mua rượu về để uống đều bị tổn hại,
sự tổn hại ấy thật to lớn cho nên kết thành căn bổn
trọng tội.
Rượu
được chế tạo bằng những loại cao lương, gạo hoặc trái
cây, thế nhưng tại sao Phật lại cấm không cho uống?
Theo
Phật pháp, nguyên nhân chính yếu là vì uống rượu vào làm
cho tâm tánh mê loạn. Còn nói theo khoa học, tất cả các loại
rượu đều có chứa chất tửu tinh (là thứ dịch thể trong
suốt, không màu sắc, dễ lưu động, thường phát ra mùi vị
đặc biệt hơi nồng, có thể đốt cháy dễ dàng. Khi cháy,
chất này phát ra tia lửa màu lam).
Chất
này có tác dụng làm tiêu hao sinh lực, khiến cho sự hấp
thụ chất đản bạch, các sinh tố cùng các chất khoáng bị
giảm thiểu. Kết quả là mức độ dinh dưỡng trong cơ thể
bị suy tổn trầm trọng, can tạng (gan) bị tổn thương rất
lớn. Bất cứ loại rượu nào, dù là hàm lượng tửu tinh
rất ít, cũng gây tổn thương cho cơ thể.
Vì
tửu tinh là chất kích thích, khi đã xâm nhập vào não và
các tạng: tâm, phế, vị, can, thận thì mắt, tai, mũi, miệng
và sự tuần hoàn của huyết dịch đều bị tổn thương không
nhỏ.
Vì
thế, muốn giữ cho tâm ý được thanh thản, bình tĩnh, ngũ
tạng và sự tuần hoàn huyết dịch không bị thương tổn,
tinh thần không bị sự kích thích của tửu tinh làm hại,
chúng ta nên nhận thức một cách thực tế là cần phải triệt
để ngăn cấm việc uống rượu.
Thế
giới hiện nay mắc nhiều chứng bịnh thần kinh, điên cuồng,
khủng hoảng. Dù tình trạng ấy có nhiều nguyên nhân, nhưng
uống rượu quá độ cũng là một trong những nguyên nhân gây
ra chứng bệnh ấy.
Ðức
Phật đối với đại chúng dạy rằng: “Nếu là một Phật
tử đã thọ giới Bồ Tát, mà lại có tâm cố ý uống rượu
là điều tuyệt đối không thể chấp nhận được. Vì như
vậy là trái với tư cách của một vị Bồ Tát. Vì rượu
là vực sâu của tội ác, là cửa ngõ sanh tử họa hại. Khi
đã uống rượu vào thì dễ tạo các tội lỗi”.
Phật
dạy tiếp theo: “Rượu là thứ làm cho người uống hay sanh
ra vô lượng tội lỗi”.
Như
trong Ðại Trí Ðộ Luận đã thuyết minh: “Uống rượu sanh
ra 36 thứ tội lỗi, nên gọi là vô lượng tội lỗi”.
Ngoài
ra, các kinh khác như kinh Phân Biệt Thiện Ác Sơ Khởi, kinh
Phân Biệt Thiện Ác Báo Ứng, cũng đều nói uống rượu sanh
ra ba mươi sáu thứ tội lỗi. Kinh Phân Biệt Thiện Ác Sơ
Khởi nói: “Ðức Phật dạy người sanh trên thế gian này
đa số đều thích uống rượu cho say. Khi đã say rồi thì
dễ sanh ba mươi sáu thứ tội lỗi”.
Những
gì là ba mươi sáu thứ tội lỗi?
1)
Người uống rượu say rồi thì làm con đối với cha mẹ không
biết kính thờ; làm tôi đối với vua không biết tôn trọng.
Do đó mà cha con, vua tôi không có trên dưới.
2)
Nói năng lộn lạo và hay sanh lỗi lầm.
3)
Phạm tội lưỡng thiệt và ưa nói nhiều.
4)
Nếu có việc gì cần giấu kín, nhưng khi đã say rồi thì
đem nói tất cả.
5)
Mắng chửi trời đất không hề sợ tội.
6)
Nằm giữa đường sá không thể về nhà, mọi thứ đồ đạc
mang theo đều bỏ mất hết.
7)
Không thể tự sửa mình cho chính đáng.
8)
Ði đứng ngả qua, ngả lại, lúc thì ngửa mặt lên trời,
lúc lại gầm đầu xuống đất, có khi bị sa hầm, sa hố,
thân thể bị tổn thương.
9)
Không thể đi đứng vững vàng nên phải bò lết như người
què, đến khi đứng dậy được thì thân thể, mặt mày đều
bị xây xát, trầy trụa.
10)
Lúc bán buôn hay bị lầm lộn và thường vọng động xúc
phạm mọi người.
11)
Phế bỏ công việc không lo làm ăn.
12)
Tài vật bị tổn hao.
13)
Vợ con đói khát mặc kệ không nghĩ đến.
14)
Kêu la, chửi mắng không biết nể sợ pháp luật quốc gia.
15)
Thoát bỏ hết y phục để thân thể lõa lồ mà đi trên đường
sá.
16)
Chui bậy vào nhà người, gặp đàn bà, con gái thì lôi kéo,
nói năng xằng bậy, xúc phạm đến họ, tạo vô lượng tội
lỗi.
17)
Thấy bất cứ ai đến gần đều muốn gây gổ với họ.
18)
Dộng đất kêu la làm kinh động xóm làng.
19)
Giết bừa súc vật không biết tội phước.
20)
Ðồ đạc trong nhà đập bể tan nát.
21)
Vợ con coi như kẻ tù tội, say sưa nói bậy bạ không ra gì.
22)
Thân cận với bè đảng ác.
23)
Xa lánh không chịu gần gũi với bậc hiền thiện.
24)
Ngủ như chết, đến khi tỉnh dậy thân thể đau nhức như
người bị bệnh.
25)
Những thứ uống ăn đều nôn mửa ra trông thật ghê tởm,
khiến vợ con đều phải chán ghét.
26)
Khi đi đâu, nếu gặp voi, ngựa, chó sói, vì tâm ý tán loạn
nên không biết sợ sệt, xa tránh.
27)
Không kính kinh pháp, không tôn trọng bậc hiền thiện, không
cung kính sa môn.
28)
Hoang dâm vô độ không biết e sợ.
29)
Hình thể như kẻ điên cuồng khiến ai nấy đều tránh xa.
30)
Giống như người chết, không biết gì cả.
31)
Mang bệnh nghiện rượu, thân thể màu vàng, úa ứa giống
như trái cây chín. Có khi mặt mày sanh ghẻ lác.
32)
Thiên long, thiện thần đều tránh xa vì các ngài rất ghét
uống rượu.
33)
Thiện hữu tri thức ngày một lánh xa.
34)
Khi say thì ngồi chồm hổm, gặp các quan cao cấp cứ lấy
mắt nhòm ngó không biết sợ sệt, nếu bị đánh đập thì
nhắm nghiền mắt lại.
35)
Sau khi xả thân bị đọa vào địa ngục Thái Sơn, thường
bị ngục tốt dùng nước đồng sôi rót vào miệng. Lục phủ,
ngũ tạng đều bị cháy nát, cầu sống không được, cầu
chết cũng khó. Thọ khổ như vậy trải qua ngày muôn năm.
36)
Khi thọ tội ở địa ngục đã mãn, sanh lên làm nhân gian
làm người tâm trí ám độn không biết gì.
Hiện
nay những người tâm trí ngu độn, không biết gì cả, đều
do đời trước ưa uống rượu mà bị dư báo ấy. Như thế,
ta đã nói phân minh, các ngươi đối với rượu cần phải
thận trọng, vì uống rượu có 36 thứ lỗi. Người nào uống
rượu đều phạm đủ cả”.
Tự
mình uống rượu tạo gây những tội lỗi trên, nếu tự tay
trao chén rượu cho người uống thì chiêu cảm quả báo năm
trăm đời không có tay, huống chi tự uống mà không bị chiêu
cảm khổ báo rất nặng hay sao?
Kinh
văn nói: “Trao đồ đựng rượu cho người”, có hai trường
hợp:
1.
Nâng chén rượu lên nói với người cùng uống rượu với
mình rằng: “Này anh! Chỉ thêm một chén nữa thôi mà!”
2.
Trao bình đã hết rượu mà bảo người đem thêm và nói rằng:
“Châm thêm một bình nữa coi!”
Những
cử chỉ ấy đều không được, vì không khác gì khích lệ
người ấy uống rượu. Thậm chí còn rót rượu vào miệng
người khác bảo họ uống cho thật say. Hành động như thế
thì đâu phải là tư cách làm người?
Trong
kinh văn Phật dạy: “Bị quả báo năm trăm đời không có
tay”, không phải là sanh làm người mà không có tay, mà là
khi bỏ thân này, bị đọa vào trong loài súc sanh, làm những
loài vật không tay như côn trùng, đỉa, giun, lươn, lịch...
là những loài thuộc về loại chúng sanh không có tay.
Trong
kinh Quỷ Vấn Mục Liên nói: “Một hôm tôn giả Mục Liên
du hành trong cảnh giới ngạ quỷ. Có một con quỷ thấy Tôn
Giả đến nên thỉnh vấn rằng: - Kính bạch Tôn Giả! Một
đời của con từ sanh đến nay, tâm tánh ngu si đần độn
không biết gì, chẳng biết do tội nghiệp chi mà mà chiêu
cảm khổ báo ấy?
Tôn
Giả đáp rằng: - Ðấy chính là do trong lúc làm người ở
thời quá khứ, người thường đem rượu cho người uống,
lại cưỡng ép, khuyên người khác uống rượu, muốn cho người
say sưa, mê loạn để tự lấy làm thú vui. Khổ báo ngu si,
đần độn này chỉ mới là hoa báo, quả báo sau khi bỏ thân
quỷ này phải đọa vào địa ngục”.
Rượu
là cửa sanh các họa hoạn. Vì nếu đem cho bất cứ người
nào uống, nhất là những người tu học Phật pháp. Ðiều
này kinh Chánh Pháp Thiện Xứ nói: “Người nào đem rượu
cho chúng tăng trong pháp hội uống, hoặc cho người thọ giả
uống, cho người tâm đã được tịch tịnh uống, cho người
đắc thiền định uống khiến tâm chí của các vị ấy mê
loạn thì tội lỗi ấy rất lớn, tương lai sẽ bị đọa
vào địa ngục Khiếu Oán (1)”
Ðưa
chén rượu cho người uống mà còn bị quả báo như vậy,
huống chi bảo người uống rượu. Cho nên, Phật dạy tiếp:
“Cũng không được bảo tất cả người cũng như tất cả
chúng sanh uống rượu”.
Ở
đây nói: “Tất cả người” là nói một cách bao quát tất
cả hạng người như: Phật tử xuất gia, tại gia, nam, nữ,
già, trẻ, và tất cả những người ở các địa phương khác,
quốc gia khác v.v...
“Tất
cả chúng sanh” là chỉ cho quỷ thần, súc sanh cùng với phi
nhơn v.v... Bảo người khác uống rượu còn không được,
huống chi là tự chính mình uống rượu thì lại càng không
được.
Nguyên
liệu để làm rượu có nhiều thứ, như vậy nói rốt ráo
lại thì thứ rượu nào không được uống?
Phật
dạy: “Tất cả các thứ rượu đều không được uống”.
Tức là dù cho dùng bất cứ thứ nguyên liệu nào để làm
thành rượu, cũng đều không được uống.
Tự
mình không uống rượu là công đức tự lợi. Không bảo người
uống rượu thuộc về lợi tha. Tự tha lưỡng lợi đều thực
hành thì tất cả tội ác tự nhiên đình chỉ. Trái lại,
nếu tự mình cố uống và bảo người uống, Phật tử này
phạm khinh cấu tội.
Trong
Luật có dạy rõ: “Nếu ăn hèm rượu, men rượu, có thể
làm cho người say. Tùy theo ăn mỗi miếng mà phạm tội”.
Giới
uống rượu này thuộc về Giá tội, do Ðức Phật cấm chế.
Tại sao phải cấm như vậy?
Vì
rượu làm cho tâm tánh người bị hôn mê, tán loạn. Tội
ấy rất lớn phải cực lực ngăn cấm. Nơi đây, xin trích
dẫn một vài truyện ngắn nói về tội uống rượu như sau:
Khi
Phật còn tại thế, một hôm Ngài đi đến ấp Bạt Ðà La
Bà Ðề của nước Chi Ðề để giáo hóa. Nơi ấy, có một
con độc long gọi là Am Ba La Ðề Ðà hung dữ, bạo ác phi
thường. Con người không ai dám bén mảng đến chỗ ấy đã
đành, ngay cả loài thú to như voi, trâu, bò, ngựa... cũng không
dám léo hánh đến gần chỗ của nó. Thậm chí loài phi điểu
bay trên không trung cũng không dám bay ngang chỗ nó ở. Hoa mầu,
lúa thóc đã chín đều bị độc long phá hoại sạch.
Trưởng
lão Sa Dà Ðà là người thường cúng dường Phật, nên khi
nghe Ðức Phật Thế Tôn đến nơi này giáo hóa, trưởng lão
cũng đi theo. Nghe nơi ấy có độc long, trưởng lão xin phép
Ðức Phật đến chỗ độc long để bắt nó hàng phục cho
dân chúng và muôn thú được yên ổn.
Khi
trưởng lão vừa đến, độc long ngửi thấy khí vị y phục
của Ngài liền sanh tâm sân hận, vì xưa nay không bao giờ
có ai dám léo hánh đến chỗ của nó. Lập tức từ trong thân
của nó phóng ra những khói độc khiến không khí cả một
vùng đều bị ô nhiễm.
Thấy
khói độc bay đến mình, trưởng lão bèn nhập tam muội, dùng
thần thông từ trong thân phóng ra những luồng khói trắng
ngăn cản khói độc của độc long, không cho nhập vào mình.
Ðộc
long thấy thất bại càng nổi sân hận, từ trên thân phóng
ra lửa khiến toàn vùng ấy biến thành một biển lửa lớn.
Trưởng lão bèn nhập Hỏa Quang tam muội, từ trên thân phóng
ra lửa ngăn chặn độc quanh mình.
Thấy
sự việc bất thành, độc long liền hóa trận mưa đá và
sấm sét vang trời để giết trưởng lão. Nhưng trưởng lão
không chút sợ sệt, ngài biến những hạt mưa đá thành những
hoàn thuốc hoan hỷ hoặc những bánh rất thơm ngon.
Cuối
cùng độc long dùng tất cả sức lực, bản lãnh hóa ra một
trận mưa tên và rắn độc. Trưởng lão dùng thần thông rất
nhiệm mầu, biến tất cả các thứ ấy thành Ưu Bát La Hoa
và thân thể của ngài hoàn toàn không bị tổn thương. Ðộc
long đem hết sức thần thông mà không khuất phục được
trưởng lão. Tự biết mình không phải là đối thủ của
trưởng lão, độc long bèn đến trước trưởng lão tự nguyện
quy y Tam Bảo, làm đệ tử Phật, không còn làm những việc
hung ác như trước nữa. Trưởng lão hàng phục được độc
long, đem lại yên vui an ổn cho nhân và cầm thú chốn ấy.
Từ đó, thanh danh của Ngài lan truyền khắp nơi, từ quốc
vương chí đến nhân dân đua nhau đến cúng dường.
Khi
ấy, có một nữ Phật tử bần cùng nhưng vô cùng kính tin
trưởng lão, nàng thành kính thỉnh trưởng lão đến nhà để
cúng dường một bữa cháo, sữa và tô lạc, ngoài ra còn có
thêm một thứ rượu màu trắng như nước.
Trưởng
lão vì không để ý nên uống thứ rượu đó. Sau khi uống
xong, trưởng lão vì nữ Phật tử thuyết pháp. Xong việc,
nữ Phật tử lễ tạ và Ngài từ biệt trở về tịnh xá.
Lúc về gần đến nơi, vì ảnh hưởng của men rượu tác
động làm trưởng lão té nhào gần tịnh xá, thân nằm một
nơi, tăng-già-lê, bình bát v.v... văng tản mác. Trưởng lão
bị say nhừ không hay biết gì.
Ðức
Phật thấy việc này liền bảo ngài A Nan tập hợp đại chúng
lại và dạy về việc trưởng lão hàng phục được độc
long. Ngài hỏi đại chúng: “Trong lúc hàng phục độc long
oai lực biết bao, giờ đây ông Sa Dà Ðà này có thể hàng
phục được một con rắn nhỏ hay một con tôm hay không?”
Ðại
chúng đồng đáp lại rằng: “Không thể hàng phục được”.
Phật
dạy: “Ông Sa Dà Ðà là một vị thánh nhân mà sau khi uống
rượu say còn như vậy, huống chi người thế tục thông thường.
Thế nên từ đây về sau, nếu là đệ tử của Phật thì
quyết định không được uống rượu. Không nói là uống
nhiều, chỉ cần một chén nhỏ cho đến một giọt trên đầu
ngọn cỏ, cũng không được uống. Nếu uống tức là phạm
tội”.
Lại
nữa, Tỳ Bà Sa Luận kể lại một câu chuyện như sau:
Vào
thời quá khứ có một vị ưu bà tắc giữ ngũ giới cấm
của Như Lai rất thanh tịnh. Một hôm, vị ấy có việc phải
đi xa. Khi trở về nhà, nhằm lúc tất cả mọi người trong
nhà đều đi vắng. Vì đường xa nhọc mệt lại thêm khát
nước cực điểm, vị Phật tử ấy đi tìm nước uống. Lúc
ấy có một chai rượu lớn giống như nước để trên bàn,
đương cơn khát, Phật tử này tưởng là nước, liền uống
một hơi. Uống xong, đầu óc choáng váng, tâm thần hôn mê
bấn loạn.
Vừa
lúc đó, một con gà hàng xóm chạy vào nhà, sẵn bụng đang
đói, Phật tử liền nghĩ chi bằng bắt gà làm thịt để
ăn một bữa cho ngon.
Sau
khi Phật tử này ăn xong, cô gái hàng xóm vào nhà tìm gà,
hỏi Phật tử có thấy gà chạy vào nhà không. Phật tử trả
lời: “Tôi không thấy gà của cô đến đây”. Chẳng những
thế, lại còn làm hành vi phi lễ với cô gái ấy. Thế là
một phen uống rượu, năm giới đều hủy phạm, chúng ta thử
nghĩ tội lỗi uống rượu lớn biết chừng nào! Cho nên là
Phật tử tuyệt đối không được uống rượu!
Tội
lỗi của việc uống rượu rất nhiều, giờ đây xin kể thêm
một chuyện nữa để làm gương cảnh tỉnh cho tất cả chúng
ta:
Vào
thời vua Chân Tông - Bắc Tống. Một lần nọ, vua Chân Tông
bị bệnh rất nặng, bèn đem mọi việc lớn nhỏ trong nước
giao cho Hoàng Hậu giải quyết.
Khấu
Chuẩn là một quan đại thần trong triều thấy vậy, lấy
làm lo sợ cho tiền đồ quốc gia, nhất là e sợ tương lai
hoàng tử sẽ bị họ hàng bên ngoại soán đoạt vương vị.
Một
ngày nọ, vị đại thần tâu với Chân Tông hoàng đế rằng:
-
Muôn tâu thánh thượng, hoàng thái tử là người hy vọng của
toàn dân, xin bệ hạ tưởng đến việc trọng yếu của tôn
triều. Theo ý hạ thần, bệ hạ bị bệnh nguy kịch thì nên
đem việc triều chánh giao cho Thái Tử, đồng thời nên chọn
một viên đại thần có lòng vì nước, vì dân để phụ giúp
Thái Tử. Hạ thần tin rằng quốc gia sẽ có người cầm quyền
và được yên ổn.
Hoàng
đế nhận thấy lời quan đại thần rất đúng, bèn chấp
thuận kiến nghị của quan đại thần. Ngài lập tức bí mật
bảo Dương Ức thảo chiếu chỉ lập Hoàng Thái Tử lên coi
việc cai trị quốc gia, lại muốn đại thần Dương Ức phụ
việc triều chánh với Hoàng Thái Tử. Việc này là một phương
thức hoàn hảo vô cùng. Nhưng về sau, trong một lần uống
rượu say, vị đại thần Khấu Chuẩn vô tình đem sự việc
trên tiết lộ cho người biết, thế là mọi việc vốn có
thể thành đại công lại trở lại bị đại bại!
Những
việc tương tự như trên ở thế gian thường xảy ra rất
nhiều. Những việc vốn không nên tùy tiện nói ra với người,
nhưng vì quá say, không còn hay biết, nên đem ra thố lộ với
người. Như thế, chẳng những tự mình không đầy đủ nhân
cách, lại còn khiến cho việc đáng lẽ thành công lại trở
nên thất bại!
Những
người có lý trí ít nhiều, biết rõ tội lỗi của việc
uống rượu, quyết định không bao giờ uống rượu. Trong
trường hợp, người bề trên đưa rượu ép uống, cũng cần
phải tìm mọi cách từ chối không uống!
Như
trường hợp trong câu chuyện sau đây:
Vua
Hoàn Công nước Tề đem rượu cho Quản Trọng uống. Quản
Trọng sau khi nhận bèn đem đổ bớt đi phân nửa. Cử chỉ
này bình thường đương nhiên bị ghép tội vô lễ và phạm
thượng, nên Hoàn Công quở trách Quản Trọng rằng: “Chính
tay trẫm ban rượu, khanh lại có thể tùy tiện đổ bỏ hay
sao?”
Quản
Trọng khôn khéo tâu rằng: “Muôn tâu Thánh Thượng! Hạ thần
từng nghe nói: uống rượu sẽ nói những lời lầm lỗi. Nếu
nói lời lầm lỗi có thể bị nguy hiểm đến tánh mạng.
Hạ thần vì nghĩ như thế nên thà bỏ rượu chớ không muốn
bỏ thân. Cúi xin hoàng thượng xét mà thứ lỗi cho!”
Chúng
ta hãy suy nghĩ: nếu vì uống rượu mà nói những lời lầm
lỗi, do đó có thể làm tán thất sanh mạng của mình thì
thật là một điều không hợp lý biết bao! Rượu là thứ
triệt để không được uống. Nếu uống nhiều chắc chắn
sẽ nói nhiều. Nói nhiều thì nhất định sẽ có những lời
bất tam, bất tứ (là những lời nói không nghĩa lý gì cả),
không nên nói mà cứ nói, cần nói thì lại không nói.
Rượu
đã sanh vô lượng tội lỗi như thế, tại sao trong kinh lại
có chỗ nói nếu uống rượu không có tội lỗi thì vẫn được
uống như thường?
Lời
nói này quả đúng không sai. Vì nếu uống rượu có thể tránh
được tội lỗi thì không lý do nào mà không cho uống.
Bằng
chứng thực tế là khi đức Thế Tôn còn tại thế, Mạt Lợi
phu nhân là một Phật tử đã thọ Ngũ Giới. Ðối với Tam
Bảo, phu nhân là một Phật tử thuần thành, thông đạt kinh
luật, nên không bao giờ uống rượu.
Nhưng
một hôm vua Ba Tư Nặc đi săn về, bị mệt và đói bụng.
Chẳng may, quan Trù Giám lo cơm hơi chậm trễ, khiến Ba Tư
Nặc vương nổi giận. Ngài liền hạ lệnh giết quan Trù Giám.
Phu nhân hay tin liền nghĩ rằng quan Trù Giám là người có
khả năng nấu nướng rất thích hợp với khẩu vị nhà vua.
Nếu giết quan Trù Giám thì không còn ai có thể làm thức
ăn cho nhà vua được như thế. Vả lại, giết một người
vô tội không hợp với tôn chỉ Từ Bi của đạo Phật.
Do
đó, phu nhân liền ra lệnh bảo người đem giấu quan Trù Giám
ở một nơi. Hai ba hôm sau, phu nhân thiết một tiệc rượu
hết sức linh đình, rồi tự thân phu nhân trang điểm hết
sức lộng lẫy (trong kinh nói phu nhân thọ Bát Quan Trai hằng
tháng, cho nên chỉ phục sức bằng vải thô. Những ngày thường
không thọ Bát Quan Trai cũng thế. Phu nhân lại thường ở
riêng tại tư cung tu tập, ít kề cận Ba Tư Nặc vương). Sau
đó, bà cùng với vua nhập tiệc và hầu rượu cho vua.
Vua
Ba Tư Nặc ít khi trông thấy phu nhân trang điểm lộng lẫy
như thế, hôm đó lại cùng dự yến và tiệc rượu đó lại
vô cùng thịnh soạn nên lòng vua hoan hỷ vô cùng. Nhất là
được chính phu nhân ân cần khuyên uống rượu là việc càng
làm cho đại vương hân hoan tột đỉnh.
Ðến
khi thấy nhà vua đã hết cơn phẫn nộ, phu nhân mới hỏi
rằng: “Thức ăn hôm nay đại vương dùng có ngon miệng hay
không?”
Nhà
vua đáp rằng: “Thức ăn hôm nay rất ngon, lại thêm được
phu nhân giúp trẫm uống rượu, thật trẫm hoan hỷ vô cùng”.
Phu
nhân hỏi tiếp: “Ðại vương có biết thức ăn hôm nay do
ai làm không? Mấy ngày qua đại vương ăn không được ngon
miệng phải không?” Rồi phu nhân đem việc vua hạ lệnh giết
quan Trù Giám vừa rồi thưa lại. Nhà vua tỉnh ngộ, tự biết
lỗi lầm, liền tha cho quan Trù Giám được toàn mạng.
Mạt
Lợi phu nhân vì cứu quan Trù Giám mà uống rượu, bà biết
mình đã phạm giới, trong lòng sinh hổ thẹn không an tâm,
liền đến trước Phật cầu xin sám hối. Ðức Phật hỏi:
“Phu nhân vì sao uống rượu?”
Phu
nhân bèn đem nhân duyên uống rượu bạch lên Phật. Ngài chẳng
những không quở trách, trái lại còn cực lực tán thán việc
làm ấy cho là có công đức rất lớn...
Uống
rượu trong trường hợp như th thì có gì là không được!
Vấn đề là ở chỗ sợ rằng chúng ta không có thiện quyền
phương tiện như Phật tử Mạt Lợi phu nhân mà chỉ khư khư
bảo rằng: “Mạt Lợi phu nhân có thể uống rượu, thì tôi
đây cũng có thể uống rượu”. Nói như vậy thì sanh tội
nghiệp vô biên, mà ác báo cũng khó lòng tránh khỏi.
Lại
còn một chuyện nữa thuật lại việc vua Thái Tông nhà Ðường.
Vào năm đầu của niên hiệu Trinh Quán, ở chùa Viên Hưng
tại Tây An, có Phạm Luật Sư là bậc tu hành rất trọng giới
luật.
Một
hôm, ngài có việc phải đi ra ngoài. Tối đến về chùa không
kịp, nên phải nghỉ tạm ở nhà một Phật tử. Sau khi Luật
Sư đã an nghỉ, trong nhà lại có một tăng nhân khác đến.
Chủ nhân bèn mời vị tăng ấy đến một phòng riêng khác
mà nghỉ. Vị Tăng này bảo chủ nhân dọn cơm và rượu thịt
ra dùng. Phật tử ấy chẳng những không buồn trách, lại
còn vui vẻ vâng lời. Phạm Luật Sư nghe tăng nhân ấy ăn
uống một cách khoái ý, trong tâm ngài không tránh khỏi khởi
niệm tưởng không tốt đối với tăng nhân đó và cho rằng
tăng nhân này không thể hiện đúng tư cách của một người
xuất gia.
Nhưng
vị tăng nhân đó sau khi đã ăn uống no đủ xong, lại bảo
chủ nhà đem nước tro cho mình súc miệng, đoạn vào phòng
đóng cửa, tụng kinh Hoa Nghiêm. Chỉ trong chốc lát vị ấy
đã tụng xong hết một quyển. Bấy giờ, Phạm Luật Sư biết
vị Tăng này không phải là người tầm thường, tự mình
sanh lòng rất hổ thẹn. Vì vậy nên đang nằm, Ngài liền
ngồi dậy, sửa thân mình nghiêm chỉnh, cung kính lắng nghe
tăng nhân tụng kinh.
Từ
lúc bắt đầu cho đến chưa tới canh năm, vị tăng nhân đã
tụng xong bộ kinh Hoa Nghiêm sáu mươi quyển (kinh Hoa Nghiêm
có hai bản dịch: một bản gồm sáu mươi quyển, bản kia
gồm tám mươi quyển). Việc này không phải người tầm thường
có thể làm được, nên càng làm cho Phạm Luật Sư ăn năn,
biết vừa rồi mình đã khởi tâm niệm xem thường vị tăng
kia là một đại tội ác không sao tránh khỏi. Ngài liền đến
phòng tăng nhân, đặc biệt xin sám hối tạ tội. Vị tăng
ấy không chút biểu lộ là mình kẻ có tài đức, còn khuyên
Luật Sư hãy an tâm, không có gì là đại tội. Sau khi chia
tay, vị tăng ấy đi nơi nào không ai biết...
Uống
rượu ăn thịt trong trường hợp như thế, lẽ tự nhiên,
hàng phàm tăng không nên bắt chước.
Câu
chuyện thuật lại rằng:
Vào
triều nhà Tùy, tại chùa Ðẳng Hành ở Lư Châu, có vị tăng
nhân hiệu Ðồng Tấn, xuất gia vào thời triều Bắc Châu
(trước nhà Tùy rất lâu). Vị tăng này xưa nay bất chấp
giới luật, lễ nghi, suốt ngày chỉ uống rượu. Bất cứ
đi đến đâu cũng đều say mèm. Ðã vậy còn có thêm chứng
bịnh thường tiểu tiện bừa bãi, hôi thối tràn lan mọi
chỗ, cho nên mọi người thông thường đều chê bai, dị nghị
việc làm này.
Nhưng
cũng có người biết nhận xét, khuyên những kẻ dị nghị
này: “Quý vị không nên nhàm đàn tạp thoại, quý vị có
biết vị tăng ấy rốt ráo là người như thế nào không?
Chúng ta không nên đem nhãn quan của phàm nhân mà xem xét việc
làm của tăng nhân ấy”.
Thời
gian sau, vua Võ Ðế nhà Châu đông chinh, cần phải dùng một
thứ thuốc độc, nên hạ lệnh cho vị quan tại Lô Châu chế
tạo độc dược. Viên quan cho người lên rừng tìm các loại
độc dược như: Phúc Ðầu, Thuyết Tinh, Tàm Căn, Ðại Phong,
Giả Cát, Trấm Vũ... tất cả gần vài chục thứ, đem về
bỏ vào cái lu thật lớn, rồi đổ rượu ngâm cho đến khi
thành độc tửu. Bất cứ người hay súc vật khi đụng đến,
tức khắc da thịt bị nát rã mà chết.
Tăng
nhân Ðồng Tấn nghe nói có thứ rượu kịch độc và nguy
hiểm như thế, lòng vô cùng bất mãn việc làm tà ác của
Võ Ðế, ngài liền đến nhà vị quan chế tạo rượu độc.
Vị quan thấy tăng nhân thường uống rượu sau sưa như vậy,
nên có ý trêu ghẹo, nói rằng: “Tôi có một thứ rượu
rất ngon, Hòa Thượng thử dùng một chén có được không?”
Ðồng
Tấn đáp rằng: “Quan lớn có lòng tưởng đến, nhưng bần
đạo uống một chén thì không đã ghiền, bần đạo muốn
uống một thăng để giải khuây và bớt nhức mỏi trong thân
thể”.
Quan
giám chế thưa rằng: “Không thành vấn đề, tùy Hòa Thượng
muốn uống bao nhiêu cũng được”.
Ðồng
Tấn liền đến lu rượu, lấy gáo sắt múc rượu độc, và
uống một gáo to, và cười nói tự nhiên, hoàn toàn không
bị rượu độc làm hại. Lúc ấy, các đạo sĩ theo Ðạo
giáo nghe tin ấy rủ nhau xem vị Hòa Thượng như thế nào,
thực hay giả. Họ dùng gáo múc rượu độc mời Ðồng Tấn
uống. Nhưng vừa đưa gáo vào rượu độc đã vội vàng chạy
lánh xa vì sợ bị rượu độc văng trúng thân rất nguy hiểm.
Ðồng
Tấn dường như vô sự, cứ tiếp tục uống và nói rằng:
“Tốt lắm! Hôm nay được một bữa say sưa thật là đại
khoái lạc!” Rồi ngài lên tảng đá lớn nằm ngủ. Chốc
lát lại tiểu tiện trên tảng đá, làm tảng đá nát vụn
vì rượu độc, trong lúc thân thể của Ðồng Tấn bị lăn
đi nơi khác, ngài vẫn cứ ngủ như thường. Khi ngủ đã thẳng
giấc, ngài thức dậy, thân thể chẳng những không bị hại
mà tinh thần lại càng sảng khoái.
Bạn
có thể làm được như thế không?
Nếu
làm được thì không ngại gì, cứ việc uống rượu độc.
Còn làm không được thì chẳng những rượu độc không nên
nếm thửa mà rượu thông thường cũng không được để một
giọt dính vào môi.
Câu
chuyện thứ nữa:
Vào
thời vua Cao Tổ Văn Ðế nước Tề, có tăng nhân hiệu là
Ðàm Hiển, tức là Phật Huệ. Không rõ ngài là người gốc
tích tại đâu, nhưng thường đi đây đó, không trụ nơi nào
nhất định. Ngài lại ăn uống như người thế tục.
Bấy
giờ cũng có người cho Ðàm Hiển là bậc tu hành đạo hạnh
cao siêu, chỗ chứng ngộ khôn lường.
Vào
mùa Thu tháng Chín, niên hiệu Thiên Bảo thứ sáu, Cao Tổ Văn
Ðế hạ lệnh triệu tập tất cả sa môn Phật giáo để đấu
phép với học trò của đạo sĩ Lục Tu Tịnh, cả thảy một
ngàn người cho rõ thấp cao.
Vì
đạo sĩ kích bác việc vua Cao Văn Ðế phụng thờ Phật giáo,
và cho đó là điều không đúng. Vua cho lập một hội trường
và xây một cái đài cao một trăm mét. Khi đạo sĩ vừa đến
hội trường, liền dùng chú thuật khiến tất cả y bát của
Sa Môn bay lên hư không hoặc lăn cù dưới đất. Lại còn
đọc chú khiến tất cả cột kèo trong hội trường xiêu ngã
ngổn ngang.
Các
sa môn Phật giáo vì không học pháp thuật đành phải ngồi
yên lặng, không có pháp thuật gì đối lại. Tín đồ của
đạo sĩ thấy vật liền hoan hô vang dậy, cho đạo sĩ Lục
Tu Tịnh là thắng và khinh dễ các sa môn. Các đạo sĩ được
thế càng nhảy nhót, vui mừng, kiêu ngạo, khoe khoang. Họ đồng
thinh xướng lên rằng: “Chúng tôi dùng thần thông pháp thuật
dẹp trừ Phật giáo. Các sa môn nếu hiện một, chúng tôi
sẽ hiện hai. Sa môn hiện hai, chúng tôi sẽ hiện bốn. Hôm
nay, chúng tôi chỉ dùng pháp thuật nhỏ mọn mà các sa môn
Phật giáo đều thất bại, việc này muôn ngàn khán giả tại
hội trường đều chứng kiến rõ ràng...”
Nhà
vua thấy các đạo sĩ quá ngạo mạn nên chán ghét, bèn ra
lệnh cho Thượng Thông Pháp Sư đấu phép với đạo sĩ.
Pháp
Sư đáp: - Tâu Thánh Thượng! Pháp thuật là thứ nhỏ mọn,
Nho sĩ ở thế tục có tâm hổ thẹn còn không làm, huống
gì chúng tôi là Phật tử xuất gia. Tuy nhiên theo lệnh của
thiên tử, chúng tôi không dám bất tuân và không lẽ chúng
tôi không còn cách gì để đối trị các đạo sĩ hay sao?
Tôi xin cử một tăng sĩ tối hạ tọa trong quý sa môn nói
chuyện và đấu phép với đạo sĩ.
Nói
xong cho người đi tìm Ðàm Hiển, lúc đó đang ngồi ở tòa
sau cùng, chễm chệ trên một chiếc ghế rất cao và đang uống
rượu say mèm. Quan Hữu Ty thấy thế không dám mời, bèn bạch
lại với Pháp Sư Thượng Thông. Pháp Sư đáp rằng: “Không
hề gì đâu, quan Hữu Ty cứ mời tăng nhân ấy. Vì hàng sa
môn chúng tôi không ai uống rượu, còn đạo sĩ là đạo cúng
tế rượu. Tăng nhân Ðàm Hiển cũng là người thích uống
rượu. Vậy để cho thuận tiện, nên mời tăng nhân nói chuyện
và đấu phép với đạo sĩ”.
Quan
Hữu Ty vâng lời đến dìu đỡ Ðàm Hiển đến đài trăm
thước. Bấy giờ, toàn thể chúng tăng đều lo sợ vì đạo
sĩ pháp thuật cao cường, quý sa môn không người nào đối
chọi lại được, huống chi Ðàm Hiển say sưa chỉ chuyên
môn uống rượu, có biết phép thuật chi mà đấu với đạo
sĩ.
Khi
Ðàm Hiển đến đài cao, quan Hữu Ty cho hai người dìu lên
đài. Ðàm Hiển đứng trên đài cao, mỉm cười nói rằng:
“Khi nãy bần đạo uống rượu quá say, nghe văng vẳng ai
đó nói rằng: Sa-môn hiện một, chúng tôi sẽ hiện hai, sa
môn hiện hai, chúng tôi sẽ hiện bốn. Không biết lời ấy
là thật hay hư?”
Các
đạo sĩ đáp: Thực!
Ðàm
Hiển bèn co một chân đứng trên đài cao một trăm thước
nói rằng: “Tôi đã hiện một rồi đấy, các Ngài hiện
hai đi!”
Cả
ngàn đạo sĩ không người nào hiện được. Ðàm Hiển lại
nói: “Bần đạo nghe các ngài đọc chú khiến y bát của
sa môn cái thì bay, cái thì lăn, có hay không?”
Ðáp:
Có!
Ðàm
Hiển lấy bình bát và chiếc y để trước mặt đạo sĩ,
bảo đọc chú thử xem. Các đạo sĩ đồng một lúc, đem hết
tinh thần mà đọc chú, nhưng y bát vẫn không lay động. Thấy
thế, nhà vua bảo: “Y bát không lay động, trẫm cho phép các
đạo sĩ đích thân nhấc lên thử xem!” Một người, hai người,
cho đến mười người vẫn không sao nhấc lên nổi. Ðàm Hiển
bảo đem y bát đặt lên cột kèo cho các đạo sĩ đọc chú,
cũng vô hiệu nghiệm.
Bấy
giờ, bọn họ thất sắc ngó nhau, nhưng vẫn cố gắng, gượng
nói: “Ðạo Phật tự xưng là nội, nội thì thuộc về nhỏ
mọn. Ðạo gia chúng tôi xưng là ngoại, ngoại thì rộng lớn”.
Ðàm
Hiển đáp rằng: “Các ngài nói quái lạ! Nếu thế thì thiên
tử ở trong cửu trùng chắc là nhỏ hơn các quan hay sao?”
Ðạo
sĩ Lục Tu Tịnh cứng miệng, không thể đáp lại một lời.
Cao Tổ Văn Ðế mục kích rõ ràng, phân biệt chánh tà phải
quấy. Chính tự tay Ngài viết chiếu chỉ ban hành: “Theo trẫm
xét, pháp môn không hai thứ, chơn tông chỉ có một. Thế nên
Trẫm nhất định cần theo con đường chánh. Tu hành phải
lấy sự tịch tịch, đạm bạc làm cơ bản. Các đạo sĩ
chuyên cúng tế rượu, ấy gọi là đạo tế rượu, dối gạt
người đời. Nhân gian vì không hiểu được chỗ đúng, sai
nên đua nhau tin theo. Sự tu hành đâu có lẽ nào chỉ sùng
trọng men hèm làm đạo vị thì thanh hư đâu còn. Chỉ thích
chả nem là món ăn ngon thì tâm từ bi bị đoạn tuyệt. Trên
đã trái với nhân tự (sự cúng tế hợp với lòng nhân),
dưới lại trái với tế điển (sách dạy về nghi thức cúng
tế). Vậy bắt đầu từ ngày hôm nay, trẫm ban hành sắc lệnh
này phổ biến trong toàn quốc: từ trên xuống dưới, bá quan
cũng như nhân đều biết rõ. Trẫm cấm tuyệt không ai được
tín phụng theo đạo cúng rượu ấy nữa!”
Nhờ
đó, một số đông đạo sĩ quy hướng về Phật giáo. Nhà
vua hạ lệnh cho Pháp Sư Thượng Thống độ những đạo sĩ
ấy xuất gia. Còn ai không phát tâm theo Phật thì phải nhuộm
râu tóc để phân biệt. Có một số ngoan cố, tự cho đạo
mình là thần tiên, không khuất phục. Vua hạ lệnh: Nếu là
thần tiên thì phải lên đài, dùng thần thông bay qua cho trẫm
xem. Các đạo sĩ phải tuân hành, nhưng bay không được nên
đều bị sa xuống đất, thân thể nát tan.
Từ
đó, đạo cúng rượu không còn, mọi người đều hướng
về Phật giáo. Trong nước không còn hai thứ tín ngưỡng,
và cũng từ đấy, Cao Tổ Văn Ðế một mặt kính phụng Phật
pháp, một mặt đem giáo lý Phật Ðà dẫn dắt nhân dân...
Do
sự tu hành từ trên quốc vương xuống tới dân chúng, nên
trong nước cảm được điềm lành: gió thuận mưa hòa, nhân
dân an lạc...
Giới
ẩm tửu này phải hội đủ bốn duyên mới kết thành tội:
1.
Là rượu: đích xác là rượu, sau khi uống làm cho người
tâm tánh hôn mê.
2.
Tưởng là rượu: gồm có sáu trường hợp khác nhau, trong
đó có hai trường hợp trọng, hai trường hợp khinh và hai
trường hợp không phạm.
3.
Cố tâm cố uống rượu: tự mình có ý tưởng muốn uống
rượu.
4.
Uống vào miệng: thấy rượu muốn uống và hớp vào trong
miệng, cứ tính mỗi hớp mà đắc tội. Nếu bảo người
uống, cũng cứ tùy theo mỗi hớp mà cả hai đều phạm tội.
Giới
này bất luận tại gia hay xuất gia, Ðại Thừa hoặc Tiểu
Thừa, đều phải đồng tuân giữ, không cho ngoại lệ một
người nào.
Nếu
trường hợp thân có trọng bệnh, ngoài rượu ra, không thuốc
nào có thể trị liệu và có sự xác nhận của y sĩ thì được
khai miễn cho.
Trong
Phân Biệt Công Ðức Luận có nói: Khi Phật còn tại thế,
tại Kỳ Hoàn tịnh xá có một vị tỳ kheo bị bệnh suốt
sáu năm trường, trị cách nào cũng không hết. Ưu Ba Ly tôn
giả trì luật đệ nhứt đến thăm vị tỳ kheo ấy.
Tôn
giả hỏi: - Thầy có cần dùng gì không?
Tỳ
kheo ấy đáp rằng: - Tôi chỉ cần dùng rượu thôi. Vì chỉ
có rượu mới có thể trị lành được căn bệnh của tôi.
Tôn
Giả nghe qua, tự mình không dám quyết định, bèn đáp rằng:
- Ðiều ấy phải cầu xin Ðức Thế Tôn chỉ dạy.
Rồi
Tôn Giả đến trước Phật, đầu mặt đảnh lễ và đem việc
trên bạch lên Phật. Ngài dạy Ưu Ba Ly tôn giả rằng: “Giới
luật Ta đã chế định là trường hợp thông thường, nếu
mắc phải chứng bịnh mà ngoài rượu ra, không gì có thể
trị liệu được thì có thể đặc biệt khai miễn cho”.
Tôn
giả được Phật chỉ dạy, liền cho tỳ kheo bị bệnh uống
rượu. Nhờ vậy, bệnh được lành hẳn. Thầy tỳ kheo được
lành bệnh, thân không đau khổ, tinh thần sáng suốt. Tôn Giả
bèn vì thầy mà thuyết pháp. Sau khi nghe pháp, tỳ kheo ấy
chứng quả A La Hán.
Ðức
Phật tán thán tôn giả Ưu Ba Ly rằng: “Việc làm của ông
rất tốt, vì chẳng những giúp cho tỳ kheo kia lành bệnh,
lại còn làm cho vị ấy chứng đắc đạo quả”.
Theo
truyện trên, trong những trường hợp đặc biệt, chúng ta
thấy Ðức Phật vẫn đại từ, đại bi khai giới cho phép
uống rượu. Nhưng không được lạm dụng tinh thần đó, khi
không có bệnh nói là bệnh, để mượn cớ uống rượu, quên
hẳn tinh thần chế lập giới luật của Ðức Phật là tuyệt
đối không nên uống rượu, vì đó là việc làm tạo tội
lỗi vô biên.
Cho
nên là Phật tử dù ở vào hoàn cảnh nào, thời gian nào,
cùng bất luận bị sự cám dỗ, mê hoặc nào, cũng đều không
được uống rượu, vì uống rượu chẳng những trái với
giới luật, mà ngay đối với bản thân mình chỉ bị tổn
hại và hoàn toàn không có lợi ích.
Chú
thích:
(1)
Khiếu Oán địa ngục: địa ngục thứ tư trong tám đại địa
ngục. Ở đây, lược giải như sau:
Tội
nhân bị đọa vào địa ngục này do lúc làm người tạo ác
nghiệp sát sanh, trộm cướp, dâm dục, uống rượu, mua rượu
cung cấp cho người xuất gia uống, làm mê loạn tâm Thiền
Ðịnh, không thể chứng đắc cảnh Tịch Diệt.
Do
nghiệp nhân này, sau khi xả thân bị đọa vào đại địa
ngục Khiếu Oán, bị ngục tốt dùng kềm sắt vạch miệng
rót nước đồng đỏ đang sôi sùng sục vào.
Khi
nước đồng sôi vào miệng thì lưỡi, gan ruột, các tạng
phủ đều bị thiêu đốt. Nước chảy từ trên xuống dưới
mà ra ngoài. Tội nhân bị hình phạt đau đớn tột cùng, cất
tiếng kêu lớn mà chết.
Ba
chữ “Ðại Kiếu Oán” chỉ âm thanh kêu la thống thiết
của tội nhân khi bị hành hình mà chết. Nhưng khi chết rồi
lại sống lại, bị ngục tốt quở trách, mắng nhiếc, tiếp
theo bị hai núi sắt rực lửa từ xa hiệp lại, nghiền nát
thân hình tội nhân thành tro bụi.
Tội
nhân sau khi chết rồi bị hoàn hồn cho sống lại để tiếp
tục thọ khổ hình như vậy vô lượng vô biên, không sao tả
xiết. Nếu thoát được nỗi khổ nơi này, chạy đến nơi
khác, bị ngục tốt bắt lộn đầu mặt xuống đất, hai chân
trở lên, rồi bị đem nhúng vào vạc nước sắt sôi nung nấu
trải qua trăm ngàn muôn năm.
Nếu
thoát được chỗ này, chạy đến chỗ khác, gặp con chim toàn
thân bằng sắt cực kỳ to lớn, lại có lửa cháy hực hỡ
trên thân, bay đến kẹp tội nhân vào trong chân. Cả toàn
thân tội nhân, xương thịt cho đến các lóng đốt đều bị
phân tán ra trăm nghìn mảnh vụn và bị chim mổ ăn thịt.
Chết
rồi sống lại, tiếp tục thọ khổ. Nếu thoát khỏi nơi
này, đến nơi khác thì bị đói khát bức ngặt, xa xa nhìn
thấy ao nước mát trong, tội nhân vội vàng chạy đến toan
tắm cho mát mẻ, thì trong ao xuất hiện con cá trạnh (ba ba)
thân hình rất lớn, bắt tội nhân rồi lặn xuống đáy ao.
Nước trong ao là nước bạch lạp sôi. Tội nhân trong ao bị
nỗi khổ nung nấu trải qua vô lượng trăm ngàn năm.
Chết
rồi sống lại, chạy đến nơi khác bị ngục tốt dùng dùi
sắt đâm vào mình tội nhân tan nát, máu chảy lênh láng, lại
bị ngục tốt dùng búa chém, chặt đến chết.
Chết
rồi sống lại, chạy đến nơi khác, lọt vào trong một cái
thôn toàn lửa. Tội nhân vào trong đó rồi bốn phía cửa
đều đóng bít. Ở trong ấy, họ bị khổ thiêu đốt. Lại
có thứ trùng đen, miệng bằng chất kim cương, răng rất bén
nhọn, cắn rúc thân hình tội nhân mà ăn. Họ phải chịu
khổ vô lượng như thế trải qua trăm ngàn muôn năm.
Khi
thoát khổ địa ngục, chuyển sanh làm người phải bị cảnh
nghèo cùng khốn khổ, ở những nơi chật hẹp dơ bẩn, bị
trẻ con chọc ghẹo, đùa giỡn. Răng miệng hết sức xấu
xa, tay chân nứt nẻ, què, vẹo, bị đói khát bức ngặt, cô
độc, không quyến thuộc bạn bè. Ðây là dư báo của tội
Sát, Ðạo, Dâm, Rượu.
Trên
đây là lược giải thích sự thọ khổ của tội nhân trong
Khiếu Oán địa ngục. Ðịa ngục này còn có mười sáu địa
ngục phụ thuộc xung quang. Sự thọ khổ trong có mười sáu
địa ngục này cứ xoay chuyển và tăng cấp gấp mười lần
theo thứ tự. Tức là sự thống khổ ở địa ngục thứ nhất
thì sự thống khổ ở địa ngục thứ nhì tăng lên mười
lần. Ðịa ngục thứ ba là một trăm lần so với địa ngục
thứ nhất và mười lần so với địa ngục thứ nhì. Cứ
thế mà tính đếm đến địa ngục thứ mười sáu. Ở đây
xin thuật sơ lược ba cảnh trong mười sáu cảnh ở địa
ngục này:
1.
Ðại hẩu xử địa ngục: Do sự thống khổ của tội nhân
mà đặt tên. Tội nhân trong địa ngục này khi bị hành hình
đau đớn quá phải la hét lớn lên, nên gọi là “đại hẩu”.
Tội
nhân bị đọa vào địa ngục này do vì lúc còn làm người,
đem rượu cho người trì trai giữ giới uống, phá trai giới
của người. Tội nhân bị uống nước bạch lạp sôi trong
một bát bằng sắt nóng. Khi uống vào rồi, miệng, lưỡi,
tạng phủ đều bị cháy phỏng, nên quá đau đớn phải cất
tiếng kêu gào. Ngục tốt nghe tiếng kêu càng nổi giận, bắt
buộc tội nhân phải uống tiếp đến chết.
Chết
rồi, sống lại, tiếp tục thọ khổ trải qua vô lượng ức
năm. Nếu thoát khỏi địa ngục này, sanh làm người phải
bị ngu si, ám độn. Tâm tánh hay quên lãng, ở vào giai cấp
bần cùng, hạ tiện, luôn mong cầu tiền của, nhưng không
bao giờ toại nguyện, bị bệnh hoạn, đói khát mà chết.
2.
Phổ thích xử địa ngục: Lấy sự thống khổ của tội nhân
mà đặt tên. Kẻ nào đem rượu cho người thọ giới uống,
sau khi chết phải đọa vào địa ngục này. Ngục tốt dùng
chày đánh đập, tội nhân đau đớn cất tiếng kêu la lan
khắp cả địa ngục.
Tội
nhân bị đánh chết rồi cho sống lại, tiếp tục thọ khổ.
Ðến khi giai đoạn thọ khổ đã mãn, sanh lên làm người
nơi hoang dã, không có nước uống, hoặc nơi quốc độ thiếu
nước, luôn bị đói khát, thiếu nghèo.
3.
Hỏa phát lưu xứ địa ngục: Cũng lấy sự thọ khổ của
tội nhân mà đặt tên. Tội nhân bị thiêu đốt từ đầu
đến chân. Do vì tội ở trước người thọ giới mà tán
dương sự khoái lạc của rượu và ép những người này uống.
Khi
chết, phải đọa vào địa ngục này và bị mưa lửa thiêu
đốt, cháy suốt từ đầu đến chân. Lại có chó bằng sắt
nóng cắn xé ăn thịt. Chim thứu bằng sắt miệng tuôn lửa
đỏ, mổ đầu tội nhân để hút nước tủy não. Dã can bằng
sắt ăn thịt tội nhân. Những nỗi thống khổ như vậy, tội
nhân phải chịu cho đến chết. Chết rồi sống lại, tiếp
tục nhận chịu trải qua vô lượng trăm ngàn năm. Khi mãn
kiếp ở địa ngục, đầu thai làm người, bị sanh vào những
chỗ không có rượu. Tất cả đồ dùng không màu sắc, mùi
vị. Khi ăn uống vật thực gì cũng không biết mùi vị....
