B.2.3.
THỰC NHỤC GIỚI
(Giới
ăn thịt)
Kinh
văn:
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử cố thực nhục...” cho đến câu “nhược
cố thực giả, phạm khinh cấu tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
Phật tử cố ăn thịt, tất cả thịt của mọi loài chúng
sanh đều không được ăn. Luận về người ăn thịt thì mất
lòng đại từ bi, dứt giống Phật tánh. Tất cả chúng sanh
khi trông thấy đều muốn tránh xa người này. Người ăn thịt
mắc vô lượng tội lỗi. Vì thế nên tất cả Phật tử không
được ăn tất cả các thứ thịt của mọi loài chúng sanh.
Nếu cố ý ăn thịt, Phật tử này phạm khinh cấu tội.
Lời
giảng:
Sát
sanh với ăn thịt thông thường cho là hai sự kiện; nhưng
kỳ thật có quan hệ mật thiết với nhau. Chúng ta có thể
nói như vầy: Sát sanh là sát hại sanh mạng một cách trực
tiếp; ăn thịt là sát hại sanh mạng một cách gián tiếp.
Dù trực tiếp hay gián tiếp, nhưng sự sát hại sanh mạng
vẫn là một. Vì thế, nói một cách nghiêm khắc, là Phật
tử chẳng những không nên sát sanh mà cũng không nên ăn thịt.
Trên
đời này, một số người đã quy y Tam Bảo nhưng không thể
ăn chay được. Họ cho rằng sát hại sanh mạng là không được,
nhưng lấy tiền mua thịt chúng sanh đã giết sẵn về ăn thì
không sao. Họ không biết rằng quan niệm ấy hết sức sai
lầm.
Tại
sao vậy?
Phải
biết rằng: Sở dĩ những kẻ đồ tể sát hại sanh mạng
động vật đem bán là vì có người mua ăn. Nếu không có
người mua ăn, thử hỏi họ giết động vật để làm gì?
Cho
nên trong kinh Lăng Già, Ðức Phật dạy Ðại Huệ Bồ Tát
rằng: “Phàm người sát hại sanh mạng chúng sanh, đa số
vì có người ăn thịt. Nếu không có người ăn thịt thì
không có việc sát sanh. Thế nên, ăn thịt cùng sát sanh hai
tội ấy tương đồng”.
Là
một Phật tử chân chánh, đặc biệt là hàng Ðại Thừa Bồ
Tát tuyệt đối không nên ăn thịt. Nếu có người nào cho
rằng ăn thịt không trái với giới luật, thì người ấy
không phải là Phật tử. Không đúng với tư cách của vị
Bồ Tát có đầy đủ tâm Từ Bi.
Từ
Bi là điều tối trọng yếu trong Phật pháp. Có thể nói:
Từ Bi là cốt tủy của Phật pháp. Chẳng những mỗi Phật
giáo đồ cần phải trưởng dưỡng tâm Từ Bi, lại còn cần
phải giúp cho mọi người đều dưỡng thành tâm Từ Bi. Nếu
muốn thực hành điều này một cách chân chánh, thì trước
tiên nên thực hiện ngay từ trên mâm ăn, đừng để có sự
lưu huyết. Bằng không thì nói dưỡng thành tâm Từ Bi chỉ
là nói suông, không đi đôi với sự thật.
Ðức
Phật đối với đại chúng dạy rằng: “Nếu làm một vị
Phật tử, đã phát Bồ Ðề tâm, đã thọ Bồ Tát giới, thì
tuyệt đối không được cố ý ăn thịt”.
Cố
ý ăn thịt nghĩa là sự ăn thịt ấy không phải là trường
hợp do lầm lẫn, không biết là thịt. Nếu ăn lầm thì không
kết thành lỗi chi. Nhưng đại đa số người đời ăn thịt
đều là hữu ý, vì muốn ăn cho ngon miệng, no bụng. Trường
hợp này, đạo Phật không cho phép và chấp thuận.
Việc
không ăn thịt của Phật giáo không giống với các tôn giáo
khác là chỉ không được ăn một loại thịt nào đó như
Hồi giáo không được ăn thịt heo; Ấn Ðộ giáo cấm ăn
thịt bò, ngoài ra các thứ thịt khác đều được ăn. Phật
giáo hoàn toàn không phải vậy, mà tất cả thịt của mọi
loài chúng sanh đều không được ăn.
Tại
sao Phật giáo lại nghiêm cấm việc ăn thịt nghiêm khắc như
thế? Vì phàm chúng sanh, khi có thân huyết nhục, vật chất
bên ngoài, đều có tánh linh giác bên trong, đồng có tâm ý
ham sống sợ chết, giống như nhân loại chúng ta, không một
chút gì sai khác.
Nên
trong kinh nói: “Những loài có khí huyết nhất định có giác
tri. Hễ có giác tri, nhất định phải đồng một thể. Mình
không muốn người khác ăn thịt mình, tất nhiên người khác
cũng không bao giờ muốn mình ăn thịt họ. Chúng ta không xét
nghĩ đến phương diện tự tha đồng thể, lại đi ăn thịt
chúng sanh. Thử hỏi thế gian này còn có việc nào tàn ác
hơn nữa?”
Phật
giáo cấm sát sanh và ăn thịt, hoàn toàn không phải như chỗ
hiểu của những kẻ tầm thường cho là mê tín, nhận lầm
là u mê. Mà chính là phát xuất từ tâm bất nhẫn tự tha
đồng thể, tâm đại Từ Bi của Ðức Phật. Cho nên trong
các kinh Ðại Thừa, chỗ nào cũng nói đến tội lỗi của
sự ăn thịt, ngăn cấm hàng Phật tử tu học Phật pháp không
được ăn thịt.
Quý
vị đừng nên cho rằng ăn thịt là việc nhỏ nhặt, đối
với người tu học Phật pháp tựa hồ không có gì chướng
ngại cho lắm. Thật ra, một người ăn thịt thì bên trong
đoạn tuyệt tâm đại từ bi, dứt hạt giống Phật tánh,
bên ngoài thì tất cả chúng sanh trông thấy đều muốn tránh
xa.
Theo
trên nói thì có thể chia làm hai phần:
1.
Phần trước như trong kinh Niết Bàn, Ca Diếp Bồ Tát thỉnh
vấn Ðức Phật rằng: - Vì sao đức Như Lai không cho ăn thịt?
Ðức
Phật dạy rằng: “Này Ca Diếp! Vì người ăn thịt là đoạn
tuyệt hạt giống đại Từ Bi. Tâm Ðại Từ Bi chính là tâm
vô thượng Bồ Ðề. Tâm Ðại Từ Bi đã bị đoạn tuyệt
rồi thì còn lấy pháp gì làm cội gốc để thành tựu quả
Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác?”
Căn
cứ vào lời Phật dạy trên, chúng ta chẳng những không nên
ăn thịt mà ngay cả lông thú, miệng tằm cũng là vật không
đành lòng nhẫn tâm thọ dụng.
Trong
kinh Ương Quật nói: “Nếu hàng lụa tơ tằm từ tay kẻ sát
sanh đem cúng dường bố thí thì quý tỳ kheo cũng không nên
nhận lãnh. Nếu nhận lãnh thì không có tâm Từ Bi”.
Trong
kinh Phạm Võng này, vì sao chỉ nói đến cấm ăn thịt mà
không nói cấm mặc đồ tơ lụa?
Nên
biết minh văn trong kinh dù không thấy nói, nhưng sự thật
vẫn bao hàm ý ấy. Cho nên người xuất gia còn được gọi
là Nạp Tử. Các sĩ phu thông thường gọi là mặc áo vải
thô, chính là ở nơi ý này. Vì thế, hàng Phật tử tu học
Phật pháp chân chánh, chẳng những không ăn thịt, mà những
hàng bằng tơ lụa cũng không được phép mặc.
2.
Phần sau như trong kinh Lăng Già nói: “Những người làm nghề
ác luật nghi, nói rõ ra là những người ác như thợ săn,
đồ tể, lưới cá, bắt chim v.v.. khi chó trông thấy thì sợ
hãi sủa la, thú thấy thì bỏ chạy, những loài bay trên không,
chạy trên đất, lội dưới nước v.v... khi trông thấy đều
cho rằng: “Người này như các quỷ La Sát, hôm nay đến chỗ
chúng ta chắc sẽ giết hại chúng ta”.
Vì
muốn bảo vệ thân mạng nên chúng đều chạy lánh xa. Nên
trong kinh dạy: “Tất cả chúng sanh khi thấy đều lánh xa”.
Trong
kinh Niết Bàn cũng nói: “Tất cả chúng sanh khi thấy người
ăn thịt thảy đều sợ sệt, chạy trốn”.
Lại
nói: “Chúng sanh thấy trên đầu người ăn thịt có huyết
quang, chúng nó nghĩ rằng: người này ăn thịt, nếu bắt được
ta chắc chắn sẽ ăn thịt ta, nên chúng ta phải mau mau chạy
đi”.
Ðây
là một bằng chứng như trong kinh dạy: “Tất cả chúng sanh
trông thấy đều lánh xa”.
Lại
nữa, khi Ðức Phật còn tại thế, lúc Ngài đang kinh hành
trong tịnh xá Kỳ Hoàn, bỗng có một con bồ câu bị chim bù
cắt săn đuổi. Nó bay núp vào trong bóng thân của tôn giả
Xá Lợi Phất để cầu Ngài bảo hộ, nhưng nó vẫn cảm thấy
sợ hãi vô cùng. Nó lại bay đến núp trong bóng thân của
đức Thế Tôn để cầu Phật che chở. Lúc đó, nó cảm thấy
an ổn, không còn sợ sệt.
Tôn
giả Xá Lợi Phất thấy thế liền thỉnh vấn Phật rằng:
“Kính bạch Thế Tôn! Con hoàn toàn không có tâm sát hại,
tại sao khi chim ở trong bóng thân của con vẫn còn sợ hãi
như vậy?”
Ðức
Phật dạy rằng: “Sát tâm của ông dù không có, nhưng tập
khí sát nghiệp của ông chưa đoạn trừ nên bồ câu ấy vẫn
còn sợ sệt”.
Chúng
ta hãy suy nghĩ: Tập khí sát nghiệp của tôn giả Xá Lợi
Phất chưa đoạn trừ, hãy còn làm cho chúng sanh sợ sệt,
huống chi chúng ta là phàm phu chưa đoạn được sát tâm?
Ðoạn
tuyệt hạt giống Từ Bi là mất phần tư lợi.
Tất
cả chúng sanh trông thấy đều tránh xa là mất phần lợi
tha.
Tư
lợi, lợi tha đều mất thì đâu còn là một vị Bồ Tát?
Cho
nên Phật dạy tiếp theo: “Vì thế, tất cả Bồ Tát không
được ăn tất cả các loại thịt của mọi loài chúng sanh”.
Vì
nếu là một hành giả Bồ Tát chân chính, theo đúng luật
phải hy sinh sanh mạng của mình để cứu hộ những chúng
sanh đáng cứu hộ. Như đức Bổn Sư trong thời gian còn tu
Bồ Tát hạnh, Ngài đã xả thí vô số đầu, mắt, tủy não
để cứu độ chúng sanh. Ðó là một tấm gương rất tốt
cho chúng ta noi theo, vậy chúng ta làm sao có thể quay lại đi
ăn thịt chúng sanh?
Nếu
không dùng tâm Từ Bi cứu độ chúng sanh, mà trái lại ăn
thịt chúng sanh thì mắc vô lượng tội lỗi.
Trong
Ðại Trí Ðộ Luận của Tổ Long Thọ nói: “Nếu ăn thịt
tức phạm tội sát sanh. Tại sao vậy? Vì một khi đã ăn thịt,
lúc thấy người sát sanh, tất nhiên sẽ có tâm nhẫn khả”
(ý nói vì tập quán ăn thịt đã quen, nên khi thấy người
tạo sát nghiệp, tâm vẫn an nhiên, không động mối từ tâm).
Trong
kinh có hai bài kệ như sau:
Các
thứ thịt chẳng phải tự nhiên sinh,
Ðều
do đoạn mạng mới có thịt.
Tức
là kẻ giặc cướp sinh mạng,
Không
thể thoát khỏi giòng sanh tử.
Bài
kệ 2:
Vì
cầu tài lợi mà giết chúng sanh
Dùng
tiền làm lưới, mua lấy thịt.
Hai
hạng người ấy đều tạo ác nghiệp,
Chết
rồi liền đọa địa ngục Khiếu Oán.
Theo
lời kinh dạy trên, chúng ta thấy tội lỗi ăn thịt rất lớn,
không thể nói cho hết được.
Trong
kinh Lăng Nghiêm, Ðức Phật dạy ngài A Nan rằng: “Những
người ăn thịt, dù tâm được khai ngộ, tựa hồ như đắc
Tam Ma Ðịa, nhưng thực ra là quỷ La Sát. Sau khi xả thân,
quyết định phải bị trầm luân trong bể khổ sanh tử. Người
ấy không thể nào thoát ly tam giới”.
Và
lúc Ðức Phật giảng kinh Ðại Thừa Nhập Lăng Già cho bốn
bộ đệ tử, nghe đến đây, tức đoạn kinh văn: “Ðức
Ðại Huệ Bồ Tát thỉnh vấn...”, Ðại Huệ Bồ Tát liền
từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước Phật đảnh lễ, đoạn
quỳ chắp tay, bạch lên Ðức Phật rằng: “Kính bạch Thế
Tôn! Xin thương xót vì chúng con giảng dạy công đức không
ăn thịt và tội lỗi của ăn thịt để cho con cùng chư Bồ
Tát Ma Ha Tát biết rõ nghĩa ấy và vì chúng sanh đời hiện
tại và vị lai đã huân tập quen theo tánh ăn thịt mà giảng
nói, khiến chúng sanh sanh tâm nhàm chán, xa lìa nhục vị mà
nhất tâm cần cầu pháp vị của Như Lai, đối với toàn thể
chúng sanh khởi tâm đại từ, đối xử với nhau thân ái,
xem nhau như con một nhà, an trụ địa vị Bồ Tát, đắc quả
A Nậu Ða La Tam Miệu Tam Bồ Ðề’.
Ðức
Phật bảo Ðại Huệ Bồ Tát rằng: “Này Ðại Huệ! Tất
cả các thứ thịt đều có vô lượng nhân duyên. Chư Bồ
Tát vì lẽ ấy nên sanh tâm Từ Bi, không nên ăn thịt. Ta hôm
nay theo lời cầu thỉnh của ông mà lược giảng ít phần
như sau:
Này
Ðại Huệ! Tất cả chúng sanh từ vô thỉ trở lại, mãi luân
hồi trong sanh tử, từng làm cha mẹ, anh em, con trai, con gái,
quyến thuộc cho đến bằng hữu thân ái cũng như thị tùng
giúp đỡ v.v... Nhưng sau khi xả thân, sanh qua đời khác, phải
theo ác nghiệp mà thọ thân phi cầm, tẩu thú. Như thế, chúng
sanh chính thực là quyến thuộc của mình, tại sao mình lại
giết để ăn thịt?
Này
Ðại Huệ! Vị Bồ Tát Ma Ha Tát quan sát chúng sanh đồng với
thân mình, đoạn suy nghĩ tất cả thịt đều từ nơi sanh
mạng chúng sanh!
Này
Ðại Huệ! Các quỷ La Sát là thứ hung dữ, nhưng khi chúng
nghe Ta giảng nói những lời trên còn phát nguyện đoạn tuyệt
không ăn thịt. Huống chi hàng Phật tử là người ưa thích,
cần cầu chánh pháp của Như Lai?
Này
Ðại Huệ! Chư Bồ Tát Ma Ha Tát quán sát tất cả chúng sanh
đều là quyến thuộc của mình, đến nỗi sanh từ niệm xem
như con một của mình, nên đối với tất cả thịt của chúng
sanh đều không nên ăn.
Này
Ðại Huệ! Chúng sanh khi trông thấy người ăn thịt đều
sanh tâm sợ hãi. Thế thì người Phật tử tu tâm Từ, sao
nỡ nhẫn tâm ăn thịt chúng sanh?
Này
Ðại Huệ! người ăn thịt thì thân thể hôi thối, dơ bẩn,
tất cả thánh hiền, thiên nhân đều không gần gũi. Thế
nên Bồ Tát không nên ăn thịt.
Này
Ðại Huệ! Huyết nhục là thứ ô uế, nên chư thiên, chư
tiên đều lánh xa. Các hiền thánh cũng không ăn. Thế nên
Bồ Tát không nên ăn thịt.
Này
Ðại Huệ! Nếu đệ tử của ta ưa ăn thịt, khiến thế nhân
sanh lòng hủy báng rằng: “Sa môn là người tu tịnh hạnh
mà giống như loài thú dữ, ăn thịt no bụng rồi rảo đi
trong nhân gian, khiến tất cả chúng sanh đều sanh tâm sợ
hãi, phá hoại hạnh thanh tịnh, mất đạo sa môn”. Bồ Tát
phải có tâm từ mẫn, ái hộ chúng sanh đừng để chúng sanh
sanh khởi tâm niệm như vậy. Muốn thế, Bồ Tát không nên
ăn thịt.
Này
Ðại Huệ! Các thiện nam tử, thiện nữ nhân, những người
tu hạnh thanh tịnh, hoặc trụ từ tâm, hoặc trì thần chú,
hoặc thú hướng pháp Ðại Thừa, hoặc mong cầu được giải
thoát, nhưng do vì ăn thịt nên tất cả đều bị chướng
ngại, không được thành tựu. Thế nên, Bồ Tát muốn được
lợi mình, lợi người thì không nên ăn thịt.
Này
Ðại Huệ! Bồ Tát đối với tất cả chúng sanh phải có
từ niệm, xem như chính thân mình, sao lại nỡ khởi niệm
tưởng ăn thịt chúng sanh? Vì lý do ấy nên Bồ Tát không
ăn thịt.
Này
Ðại Huệ! Người ăn thịt thì chư thiên, thiên thần đều
lánh xa, vì hơi trong miệng thường hôi thối, bản thân họ
lại dễ sanh trưởng các bệnh tật, ghẻ chốc.
Này
Ðại Huệ! Thịt không phải là một thứ ngon quý, mà là một
vật bất tịnh, lại sanh ra các tội ác, phá hoại các công
đức. Nên chư thiên, chư tiên và các bậc thánh nhân thảy
đều xa lánh. Vì thế, có lý nào ta lại cho đệ tử của
ta ăn thịt? Nếu người nào nói ta cho đệ tử ăn thịt thì
người ấy chính là kẻ hủy báng Ta.
Này
Ðại Huệ! Người ăn thịt có vô lượng tội lỗi như thế.
Vì thế nếu người nào đoạn tuyệt sự ăn thịt thì được
vô lượng công đức”.
Hai
câu kinh văn trên là huấn từ của đức Như Lai đáp lại
lời thỉnh vấn của Ðại Huệ Bồ Tát cầu xin Ðức Phật
chỉ dạy về tội lỗi cũng như công đức của việc ăn thịt
và không ăn thịt.
Ðức
Phật lại phán tiếp: “Phàm phu ngu si, không biết sự tổn
hại và lợi ích như vậy. Thế nên hôm nay ta vì ông chỉ
lược giảng nói. Nếu nói ra đủ cả thì không thể nào cùng
tận được. Tóm lại, ngoài rau cải là vật vô tình, tất
cả những thứ nào thuộc về thịt đều không được ăn”.
Theo
lời Phật dạy trong kinh Lăng Già trên, chúng ta thấy một
Phật tử, bất luận tại gia hay xuất gia, Ðại Thừa hoặc
Tiểu Thừa, nhìn dưới bất cứ khía cạnh nào cũng đều
không được ăn thịt.
Trong
kinh A Hàm có kể câu chuyện một nữ quỷ đến thỉnh vấn
tôn giả Mục Liên rằng: “Bạch tôn giả! Suốt đời con
đã sinh được rất nhiều đứa con rất đoan nghiêm đẹp
đẽ. Con rất thương yêu, cưng quý chúng. Nhưng chúng đều
bất hạnh chết yểu. Vì thế khiến cho con mỗi khi nghĩ đến,
tưởng chừng can trường đứt đoạn, buồn đau không muốn
sống. Ðây chẳng biết do tội nghiệp chi, kính xin tôn giả
mở lòng từ bi chỉ giáo!”
Mục
Liên đáp rằng: “Vì thời quá khứ, lúc ngươi làm người,
khi thấy các con của người giết hại sanh mạng của chúng
sanh, ngươi chẳng những không sanh tâm thương xót ngăn cản,
lại còn hoan hỷ trợ giúp và lại cùng ăn thịt các chúng
sanh mà các con ngươi đã giết. Vì con của ngươi tạo nghiệp
sát sanh, nên đời này bị quả báo đoản mạng. Còn ngươi
trông thất sát sanh lại sanh tâm tùy hỷ nên đời này bị
khổ đau như vậy. Ðây chỉ mới là hoa báo, quả báo tương
lai ngươi sẽ bị đọa vào địa ngục”.
Thấy
người làm việc sát sanh có tâm tùy hỷ còn bị khổ báo
như vậy, huống chi chính mình sát sanh, chính miệng mình ăn
thịt chúng sanh. Vì thế, Phật tử tu học Phật pháp “nếu
cố ăn thịt chúng sanh thì Phật tử này phạm khinh cấu tội”.
Có
người cho rằng: “Ăn thịt đúng là không được, nhưng nếu
ăn rau ở bên thịt thì không có vấn đề gì!” Nghiêm túc
mà nói, điều ấy không thể được!
Như
trong kinh Niết Bàn, Ca Diếp Bồ Tát thỉnh vấn Ðức Phật:
“Kính bạch Thế Tôn! Nếu quý tỳ kheo lúc khất thực được
những thức ăn có lộn thịt thì làm sao ăn được? Và có
đúng với pháp thanh tịnh chăng?”
Phật
dạy: “Nếu gặp như vậy, phải dùng nước rửa cho thịt
lộn trong đồ ăn tách riêng ra thì mới được ăn”.
Theo
lời Phật dạy trên, thì khi rau cải và thịt chung một chỗ,
chính là trường hợp rau cải ở bên thịt đã được hỏi
bên trên. Nếu không dùng nước rửa sạch thì không ăn. Rau
cải ở bên thịt còn không được ăn, huống chi là thịt
trên thân của chúng sanh, không được ăn là lẽ tự nhiên!
Có
người lại hỏi:
Trong
kinh Phạm Võng này nói tất cả thịt của mọi loài chúng
sanh không được ăn. Tại sao trong kinh giáo Tiểu Thừa, Ðức
Phật lại cho ăn ba thứ tịnh nhục: thịt của chúng sanh chính
mình không thấy người giết, không nghe giết, không vì mình
mà giết?
Nên
biết ba thứ tịnh nhục ấy là phương tiện tạm thời của
Ðức Phật, dần dần rồi Ngài sẽ cấm hẳn. Không phải
thật sự cho hàng Phật tử tu học Phật pháp được thọ
dụng thức ăn bằng thịt như vậy vĩnh viễn.
Cho
nên trong kinh Niết Bàn, Ðức Phật bảo Bồ Tát Ca Diếp rằng:
“Ba thứ tịnh nhục là nhân nơi sự và dần dần sẽ cấm
tuyệt. Thế nên hiện tại ta cấm tuyệt việc ăn ba thứ tịnh
nhục ấy”.
Theo
Thanh Văn thừa, trước thời gian thuyết giảng kinh Niết Bàn,
Phật có cho phép ăn ba thứ tịnh nhục. Nhưng từ sau khi giảng
kinh Niết Bàn, chẳng những Phật không cho ăn các thứ thịt
khác mà cả ba thứ tịnh nhục Ngài cũng cấm hẳn.
Theo
Bồ Tát thừa thì trước hay sau thời thuyết giảng kinh Niết
Bàn, Phật đều cấm không cho ăn tất cả thịt. Chính kim
khẩu Ðức Phật dạy: “Này Ca Diếp! Bắt đầu từ hôm nay
trở đi, Ta cấm hẳn các đệ tử không còn được phép ăn
tất cả các loại thịt nữa!”
Tóm
lại theo tinh thần từ bi của Ðại Thừa, bất luận thứ
thịt nào, nếu là Phật tử đều không được ăn. Nếu là
một Phật tử mà lại cho rằng có thể ăn thịt thì không
phù hợp với chân nghĩa của Phật giáo.
Nên
trong kinh Niết Bàn, Ðức Phật từng dạy chúng ta rằng: “Sau
khi ta nhập Niết Bàn, trải qua trăm ngàn năm, sẽ có những
tỳ kheo hình tướng giống như người trì giới, nhưng trong
tâm thì thèm thuồng uống ăn. Thực là chẳng phải sa môn
mà hiện tướng là sa môn. Do tà kiến trong nội tâm lừng
lẫy mà tuyên bố: ‘Ðức Như Lai cho chúng ta ăn thịt’.
Lời nói trên chỉ là tự nói, tự bịa ra mà thôi, tuyệt
đối không bao giờ Ðức Phật lại nói như vậy. Tức là
bổn ý của Ðức Phật không bao giờ cho Phật tử ăn thịt”.
Trong
kinh Lăng Già, Ðức Phật có khai thị như vầy: “Ở đời
vị lai có những người ngu si, vọng nói giới luật, phá hoại
chánh pháp, hủy báng ta, nói rằng ta cho ăn thịt.
Này
Ðại Huệ! Ta ở trong các kinh, có nói cấm ăn mười thứ
thịt, cho ăn ba thứ. Ðó là phương tiện dần dà sẽ cấm
hẳn cho các ông tu học. Hôm nay, trong kinh Lăng Già này, phàm
là thịt lấy từ những con vật tự chết hay do người giết
v.v... tất cả đều phải đoạn tuyệt, không được ăn nữa.
Nếu có người ngu si, hủy báng ta, nói Như Lai cho ăn thịt,
nên biết người ấy bị ác nghiệp buộc ràng, sẽ vĩnh viễn
đọa vào trong cảnh khổ đau của tam đồ ác đạo”.
Những
lời Phật dạy trên là một bằng chứng hùng hồn cho thấy
Ngài không cho đệ tử ăn thịt.
Người
thế gian thường nói như vầy: “Làm người cốt yếu là
giữ tâm cho tốt là được rồi, tâm tốt còn hơn ăn chay,
không cần phải chấp theo giới luật mà ăn chay!”
Ðáp
rằng: “Làm người phải giữ tâm cho tốt”, lời ấy rất
đúng! Còn nói “tâm tốt còn hơn ăn chay”, lời ấy hoàn
toàn sai!
Tại
sao vậy? Vì ăn thịt chúng sanh là một việc làm rất trái
với tâm Từ Bi, làm sao có thể nói là tâm tốt được?
Liên
Tông Bát Tổ Liên Trì Ðại Sư từng dạy rằng: “Giết hại
sinh mạng chúng sanh để ăn thịt, thiên hạ gọi là tâm hung
ác, tâm thảm độc, không có ác tâm nào hơn”. Vậy thì tâm
tốt ở chỗ nào?
Vì
thế nói rằng: “Giữ tâm tốt còn hơn ăn chay”, lời ấy
làm cho bá tánh trong nhân gian lầm nghe theo mà đi vào con đường
tội lỗi, sẽ chiêu cảm khổ quả không thể nói. Vậy, chúng
ta là Phật tử, quyết đừng nghe và tin theo lời ấy!
Trong
giới tu hành của Phật giáo, cũng có người do tà kiến che
đậy tâm tánh, vì muốn cho ngon miệng, no bụng, không nghĩ
rằng ăn thịt chúng sanh là việc làm hoàn toàn trái phạm
giới luật của Phật, trở lại không tự biết hổ thẹn,
lại nói càn bướng rằng: “Tôi đã minh bạch đại sự nhân
duyên (1) nên ăn thịt đâu có quan hệ gì!”
Ðúng!
Nếu bạn chân thực “đại sự” đã minh bạch, tự mình
đã thoát hẳn ảnh hưởng của thiệt căn, đối với vị
trần vô ngại, thì đương nhiên có thể nói rằng: ăn thịt
không quan hệ chi! Nhưng nếu đại sự hoàn toàn chưa minh bạch
mà chỉ là do sự ham muốn thèm khát vị ngon của thức ăn
thịt cá, thì không thể nói bướng là ăn thịt vô ngại không
quan hệ chi. Một vị ăn thịt vô ngại, đại sự đã minh
bạch thì chẳng những ăn thịt vô ngại mà cả sự uống
nước đồng sôi, nuốt hoàn sắt nóng cũng đều phải vô
ngại. Nếu tự biết mình uống nước đồng sôi, nuốt hoàn
sắt nóng không thể làm được, thì không nên tự tiện nói
là ăn thịt vô ngại và không quan hệ gì!
“Ăn
thịt vô ngại” thực sự là trường hợp của Tế Ðiên
Hòa Thượng, tức Tế Công Phật Sống mà giới Phật tử rất
nhiều người biết đến. Ngài là người triều nhà Tống.
Một lần nọ, muốn cần vàng để sơn phết tượng Phật,
Hòa Thượng đi lạc quyên trong giới tín đồ. Khi khuyến hóa
tín đồ đóng góp được một số tiền thật lớn để mua
vàng, Hòa Thượng không mua vàng phết tượng Phật, lại đem
mua rượu thịt ăn uống.
Làm
như vậy, những người thông thường cho là một hành động
không thể chấp nhận được và là một đại tội. Nhưng
Tế Ðiên Hòa Thượng sau khi ăn uống rượu xong, Ngài thổ
ra những thoi vàng rất tốt, và đem vàng ấy sơn phết tượng
Phật. Ðây mới thực sự là uống rượu và ăn thịt vô ngại.
Bạn có thể làm được như vậy không?
Nếu
được thì không ngần ngại gì, cứ làm như Tế Công, còn
không được thì không nên đem số tiền đại lượng của
Phật tử mà uống rượu ăn thịt. Nếu dùng tiền ấy uống
rượu ăn thịt thì hậu quả không thể nào lường được!
Lại
như Chí Công thiền sư, món ăn sở thích của ngài là chim
cáp, và mỗi miếng ăn là một con chim. Nhưng sau khi ngài ăn
xong, thì từ trong miệng Ngài thổ ra những con chim cáp kết
thành đàn, bay lượn tự do trong không trung. Ăn thịt như thế
mới xứng đáng gọi là vô ngại, bạn có thể làm được
như thế không? Nếu làm được thì cứ ăn thịt. Bằng không
thì chớ nên nói: “Chí Công thiền sư ăn thịt, tại sao tôi
không được ăn?” Lại cũng không nên nói: “Ăn thịt là
vô ngại” như vậy nữa để tự dối mình và dối người.
Chúng
ta đã hiểu rõ thịt của chúng sanh không được ăn, nhưng
trứng có thể ăn được không?
Ðiều
này thường được đề cập và bàn luận đến. Giờ đây,
tôi (Pháp Sư giảng kinh) xin đáp một cách khẳng định rằng:
“Bất cứ trứng gì đều không được ăn”.
Trong
Hiển Thức Luận có nói: “Tất cả trứng đều không được
ăn”. Vì trứng thuộc về chúng sanh noãn, một trong tứ sanh.
Nếu nhìn từ bên ngoài thì đó chỉ là một cái trứng. Nhưng
kỳ thật bên trong là một sanh mạng đã sanh tồn cụ thể,
chỉ vì quá nhỏ thế thôi. Nếu đem ấp nó sẽ nở thành
một sinh mạng hoạt động. Cho nên ăn một cái trứng đồng
với ăn một sanh mạng của chúng sanh.
Tóm
lại:
Sanh
mạng của tất cả động vật đều không được ăn. Vì Phật
tử mà ăn thịt là đã mất tâm Ðại Từ Bi, đoạn tuyệt
giống Phật tánh. Chẳng những làm thương hại chúng sanh mà
cũng là làm tổn hại cho chính mình. Ăn thịt là phải sát
sanh, là một sự kiện vô cùng tàn nhẫn không có gì hơn.
Triều
nhà Minh, có một Phật tử tên là Chu Tư Nghĩa trước tác
một bài thơ như sau:
Nhúng
tay vào nước sôi,
Toàn
thân đau nhức như muốn nứt.
Dùng
một cây kim đâm vào thịt,
Khắp
cả thân mình như dao cắt,
Cá
kia lúc chết buồn hận người
Gà
kia sắp chết khóc dưới dao,
Súc
vật buồn khóc đều rõ rệt,
Mọi
người nghe thấy không tự biết.
Lại
triều nhà Tống, thi sĩ Huỳnh Ðình Kiên cũng có làm bài thơ
như sau:
Thịt
của chúng ta, thịt chúng sanh,
Danh
từ dù khác, thể vẫn đồng,
Nguyên
vì thể tánh đồng như một,
Chỉ
có khác nhau nơi hình chất,
Ðau
khổ chúng sanh phải chịu lấy,
Mập
béo thân ta tự ăn dùng.
Nếu
bảo Diêm Vương thử đoán xem,
Tự
mình nghĩ kỹ sẽ thế nào?
Với
những bài thi đã dẫn trên, Phật tử chúng ta nếu chân thực
thể hội thì nỡ đâu ăn thịt chúng sanh?
Lại
nữa, hai trận đại chiến thế giới vừa qua, nhân loại bị
nạn đao binh, dù nói có nhiều nguyên nhân, nhưng sát sanh chính
là nguyên nhân căn bản. Nên Nguyên Vân Ðại Sư triều Minh
có làm bài tụng:
Trăm
ngàn năm lại trong bát canh,
Oán
sâu tợ biển, hận khó bằng,
Muốn
biết sao đời kiếp đao binh,
Nửa
đêm nghe tiếng nhà đồ tể.
Vì
thế, việc ngăn cấm sát sanh, đoạn tuyệt ăn thịt là một
biện pháp cơ bản để bảo trì nền hòa bình, cho nên cổ
đức có nói:
Nhất
thiết chúng sanh vô sát nghiệp,
Hà
sầu thế giới động đao binh?
Lại
có người nghĩ như vầy: “Không ăn thịt chúng sanh quả thật
là giúp tăng trưởng tâm đồng tình và nuôi dưỡng lòng từ
bi. Nhưng cơ thể chúng ta cũng cần phải duy trì và bồi dưỡng.
Nếu chỉ ăn rau, không ăn thịt thì sẽ thiếu chất dinh dưỡng,
khiến cơ thể không khang kiện”.
Thật
ra, đó chỉ là một quan niệm sai lầm, vì các nhà khoa học,
y học cận đại đã chứng minh sự dinh dưỡng của rau cải
hoàn toàn không kém thua sự dinh dưỡng của thịt cá, nếu
không muốn nói là bổ dưỡng hơn thịt cá. Các loại thực
vật như đậu nành, đậu phộng v.v... và các thứ rau cải
như cải đỏ, bắp cải, bông cải v.v... trong ấy hàm chứa
rất nhiều chất đản bạch (chất có trong lòng trắng trứng
- chất albumine), chất lân cùng với nhiều sinh tốt khác...
rất là phong phú.
Rất
nhiều cao tăng trong Phật giáo hoàn toàn không dùng một chút
thịt, trứng... nhưng sức khang kiện thể chất của các ngài
rất tốt, và tuổi thọ rất cao. Nhìn lại người thế gian,
bữa ăn nào thiếu chất thịt, cá thì ăn không được hoặc
ăn không no. Thế nhưng thực tế thì không phải tất cả những
người ăn mặn đều trường thọ và thân thể khang kiện,
thậm chí phần nhiều lại bị suy nhược, bệnh tật, tưởng
chừng có thể bị gió thổi bay đi.
Kết
thành tội nghiệp của giới Thực Nhục này phải hội đủ
bốn duyên:
1.
Thịt: đích thực là huyết nhục trên thân thể của chúng
sanh hữu tình. Nếu thứ cá thịt nhân tạo chế biến từ
các phương pháp hóa học hiện đại, hoặc rau cải làm thành
cá thịt thì không ở trong phạm vi cấm chế của giới này.
2.
Tướng thịt: nhân duyên này gồm sáu trường hợp: hai trường
hợp trọng, hai trường hợp khinh, và hai trường hợp không
phạm.
3.
Cố tâm ăn thịt: trong tâm có ý muốn ăn thịt, đây là chánh
chủ nghiệp của sự tạo ác nghiệp ăn thịt.
4.
Ðể vào miệng: Cứ ăn một miếng kết tội một lần. Nên
trong Luật nói: Cứ đếm mỗi miếng mà kết tội. Nếu chưa
để vào miệng và nuốt vào bụng thì chưa kết thành tội
nghiệp ăn thịt.
Nhưng
ở trường hợp nào thì không gọi là phạm giới?
Như
trường hợp dùng lộc giác, hổ cốt v.v... để chế thành
thuốc trị bệnh thì Luật khai miễn cho, không kể là phạm
giới. Nhưng nếu chế tạo các thứ thuốc ấy nhằm mục đích
giết hại sinh mạng chúng sanh thì đồng như phạm tội sát
sanh, Ðức Phật không bao giờ chấp thuận.
Chú
thích:
(1)
Ðại sự nhân duyên: nhân duyên của một sự kiện lớn. Tức
chỉ việc Ðức Phật Thế Tôn xuất hiện trong thế gian, diễn
nói chánh pháp, hóa độ chúng sanh, gọi là nhân duyên duy nhất
của một đại sự.
Ðại
sự ấy là như thế nào?
Nói
về ý nghĩa tổng quát tức là chuyển mê khai ngộ.
Luận
về phân biệt nghĩa thì giống như kinh Pháp Hoa lấy tri kiến
Phật làm đại sự.
Kinh
Niết Bàn lấy Phật tánh làm đại sự.
Kinh
Vô Lượng Thọ lấy việc vãng sanh Tây phương làm đại sự.
Phẩm
Phương Tiện trong kinh Pháp Hoa nói: “Chư Phật Thế Tôn chỉ
vì một đại sự nhân duyên cho nên xuất hiện trong thế gian”.
Kinh
Nhân Vương quyển thượng nói: “Vì đại sự nhân duyên nên
rải xuống trăm ức thứ hoa cúng dường”.
Chính
kim khẩu đức Phật trong kinh Xưng Tán Tịnh Ðộ dạy rằng:
“Ta xem thấy đại sự nhân duyên có lợi ích an lạc cho chúng
sanh như vậy nên mới nói lời thành thật chắc chắn này”
(câu trên Ðức Phật đã nhận thấy rõ việc vãng sanh Tây
phương Cực Lạc là một đại sự nhân duyên đem lại sự
lợi ích an lạc cho chúng sanh, nên ngài nói lời ấy để cho
chúng sanh tin theo mà nhất tâm niệm Phật cầu sanh về Tây
Phương).
Kinh
Duy Ma, kinh Tư Ích lấy Bất Tư Nghì làm đại sự.
Kinh
Hoa Nghiêm lấy Pháp Giới làm đại sự.
Kinh
Bát Nhã lấy Nhân Quả Thành Phật làm đại sự v.v...
Theo
các kinh nói về ý nghĩa đại sự nhân duyên như trên thì
như Tế Ðiên hòa thượng và Chí Công thiền sư đều là bậc
đã chứng ngộ đại sự nhân duyên, nếu chưa được như
thế thì dù một miếng thịt cũng không được ăn.
