B.2.2.4.
THỰC NGŨ TÂN GIỚI
(giới
ăn món gia vị cay đắng)
Kinh
văn:
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử giả bất đắc thực ngũ tân” cho
đến câu “...nhược cố thực giả, phạm khinh cấu tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
là Phật tử thì không được ăn năm loại gia vị tanh nồng
là hành, hẹ, tỏi, nén và hưng cừ. Năm loại này nếu bỏ
vào trong tất cả các thứ thực phẩm thì đều không nên
ăn. Nếu cố tình ăn thì Phật tử này phạm khinh cấu tội.
Lời
giảng:
Ăn
thịt là làm thương hại sinh mạng chúng sanh. Hàng Phật tử
trưởng dưỡng tâm từ bi, đương nhiên không được ăn. Tại
sao Ngũ Tân là loài thực vật, không hại đến sinh mạng của
chúng sanh, nhưng vì sao Phật tử không được ăn?
Ðiểm
chủ yếu chính là mùi vị hôi nồng của nó rất khó chịu.
Những người sống chung trong một tập thể, nếu ai cũng ăn
nhằm loại cay hôi này thì tự nhiên họ không cảm thấy khó
chịu.
Nho
thi có câu: “Ở lâu trong chỗ hôi thối sẽ không còn nghe
mùi hôi thối”. Vì thế, nếu đông người cùng sống với
nhau như vậy thì dường như không có điều gì chướng ngại.
Trái lại, nếu trong tập thể ấy, chỉ có một hay thiểu
số người ăn Ngũ Tân, những người khác khi ngửi thấy mùi
vị của nó sẽ cảm thấy kỳ lạ khó chịu, thậm chí hơi
cay nồng của ngũ tân đôi lúc làm cho họ bị nôn mửa.
Cho
nên, muốn giữ sự hòa vui trong tập thể, muốn cho đa số
người chung sống không cảm thấy khó chịu, Ðức Phật đặc
biệt chế định ra điều giới này.
Trong
các thứ rau, cổ đức phân ra làm bốn loại như sau:
-
Có thứ hôi mà không cay như A Hùng.
-
Có thứ cay mà không như gừng.
-
Có thứ vừa cay lại vừa hôi như ngũ tân.
-
Có thứ chẳng cay, chẳng hôi như ngũ cốc, rau cải v.v...
Trong
bốn loại trên, Phật tử không được ăn các loại trong nhóm
ngũ tân vừa cay vừa hôi.
Ngoài
mùi vị khó chịu của nó, nó còn có nguyên nhân khác như
trong kinh Lăng Nghiêm Ðức Phật dạy: “Năm thứ rau cay nồng
này ăn chín thì phát sanh dâm niệm; ăn sống thì tăng trưởng
lòng sân hận”.
Vì
sao ăn chín lại phát sanh dâm niệm?
Vì
ngũ tân có tác dụng làm cho can hỏa vượng, nên dâm niệm
phát sanh.
Vì
sao ăn sống lại tăng trưởng sân hận?
Vì
ngũ tân làm động can khí nên sân hận dễ phát sanh.
Ðức
Phật biết rõ ngũ tân có tác dụng tai hại rất lớn như
vậy, nên Ngài đặc biệt ngăn cấm cả Ðại Thừa lẫn Tiểu
Thừa đều không được ăn.
Về
các loại trong ngũ tân, nhiều kinh luật nói không giống nhau.
Nhưng đa số nói: hành, tỏi, hẹ, kiệu, hưng cừ. Trong kinh
Phạm Võng này gọi là Ðại Toán, Cát Thông, Từ Thông, Lan
Thông, Hưng Cừ.
1.
Ðại Toán: còn gọi là Hồ Thông. Tương truyền rằng, xưa
ở Trung Hoa không có Ðại Toán (củ tỏi lớn), đến triều
Hán, ông Trương Kiên đi sứ nước Ðại Uyển rồi đem từ
nước Hồ về (là thứ tỏi hiện nay). Theo bộ Bổn Thảo
(bộ sách nói về các loại thực vật), thì Hồ Thông (một
loại hành ở nước Hồ) có điểm giống với loại hành người
ta thường ăn. Cọng lá của nó nhỏ mà ngắn như Kim Ðăng,
lại giống như Ðại Toán, nhưng hình dáng nhỏ hơn một chút.
2.
Cát Thông: tức là hành, còn gọi là Sơn Thông, vì mọc ở
vùng núi non và đầm lầy. Cọng nhỏ, lá lớn, nên cũng gọi
là Cát Sơn Thông, có thể dùng làm thuốc. Có chỗ nói rằng:
Cát Thông là rau củ kiệu.
3.
Từ Thông: còn gọi là Củ Thông, vì cọng lá của nó rất
nhỏ và mềm mại, mùa Xuân mọc rất nhiều, sang đến Hạ,
Thu, Ðông thì tàn lụi.
4.
Lan Thông: còn gọi là Giả Sanh, là một thứ Tiểu Toán (tỏi
nhỏ), có chỗ nói là lá hẹ. Lá của nó hẹp và dài, nhỏ.
Ngoài ra còn có nhiều loại khác như Mộc Thông, Ðại Quang
Thông, Thủy Thông, Ðông Thông, Hán Thông, Lâu Thông, Long Giác
Thông, hoặc Long Trảo Thông (vì lá nó có tám khía giống như
sừng hoặc móng con rồng).
5.
Hưng Cừ: ở Trung Hoa không có thứ này, chúng thường mọc
ở vùng Bắc Ấn Ðộ và nước Y Lan. Ðó là loại thảo mộc
sống nhiều năm, cao độ hai, ba thước. Gốc của nó giống
như củ cải.
Mới
mọc khỏi đất bùn nó đã có hơi cay hôi. Ðể sống hay nấu
chín mùi vị rất nồng nặc. Mùa Ðông, bông lá đều rụi,
có thể dùng làm thuốc. Lá nó giống như Vũ Tinh (trong tự
điển gọi là rau cải thìa).
Bộ
Huyền Ứng Âm Nghĩa nói: “Hưng cừ nước của nó giống
như mủ cây đào. Người trong hai nước Y Lan và Bắc Ấn rất
thích ăn” (Ðoạn này đối với những đại sĩ không đọc
bổn Hán văn thì thấy dài dòng khó hiểu, vì bổn Việt văn
chỉ nói: hành, hẹ, tỏi, nén, hưng cừ. Nhưng sở dĩ phần
giải thích này dịch giả phải dài dòng như vậy vì y theo
các danh từ trong bổn Hán văn).
Ðức
Phật lại đối với đại chúng dạy rằng: “Nếu là một
Phật tử đã thọ Bồ Tát giới, tuyệt đối chẳng được
ăn loại ngũ tân”. Ngũ tân: đại toán, cát thông, từ thông,
lan thông, hưng cừ.
Loại
ngũ tân này chẳng những không nên ăn riêng, mà “gia vào
trong tất cả các thứ thực phẩm cũng đều không được
ăn”.
Chẳng
hạn như đem tỏi bỏ vào trong rau cải khác mà nấu, hoặc
dùng hành xào với đậu hũ v.v... đều không được ăn.
Tại
vì sao? Như trong kinh dạy: “Nếu Phật tử ăn ngũ vị tân
thì phạm tội uế trược ngôi Tam Bảo. Sau khi xả thân bị
đọa vào địa ngục Thủy Phẩn”.
Bộ
Khảo Tín Lục quyển hai, trích dẫn trong kinh Tạp A Hàm nói:
“Tội nhân trong địa ngục này, lúc làm người ăn ngũ tân,
làm nhơ uế ngôi Tam Bảo, khi thoát khỏi địa ngục, phải
bị đọa vào súc sanh làm chồn rừng, chó, heo v.v... Khi chuyển
sanh làm người, thân thể tanh hôi, mọi người đều nhờm
gớm”.
Ăn
ngũ tân có tai hại lớn như vậy, nhưng đa số Phật tử tu
học Phật pháp, vì không hiểu rõ tội ăn ngũ tân rất sâu
nặng nên thường thích ăn ngũ tân cho ngon miệng. Hậu quả
thật đáng sợ!
Vì
thế, ở bất cứ trường hợp nào, là Phật tử xuất gia
lẫn tại gia, đều không ăn ngũ tân. “Nếu cố ý ăn, Phật
tử này phạm khinh cấu tội”.
Trong
kinh Lăng Già, Ðại Huệ Bồ Tát thỉnh vấn Ðức Phật rằng:
“Rượu,
thịt cùng hành tỏi v.v... nếu uống ăn thì như thế nào?
Cúi xin Thế Tôn vì chúng con chỉ dạy tội phước của sự
ăn và không ăn”.
Ðức
Phật dùng kệ đáp rằng:
“Thịt
và hành, hẹ, tỏi...
Những
thứ rượu buông lung,
Người
tu nên xa lánh,
Uống
ăn sanh buông lung
Buông
lung sanh tà giác,
Tà
giác sanh tham dục,
Tham
dục tâm si mê,
Si
mê sanh ái dục.
Không
thoát khỏi sanh tử,
Rượu,
thịt, hành, hẹ, tỏi,
Ðều
là chướng Thánh Ðạo.
Cũng
trái tướng Thánh Nhân,
Thế
nên không nên ăn...”
Như
trên, Phật đã nêu ra tội lỗi của sự ăn hành, hẹ, tỏi...
để dạy Ðại Huệ Bồ Tát. Chúng ta thấy tội lỗi trọng
đại nhất của nó là làm chướng ngại thánh đạo, khiến
chúng ta mãi trầm luân trong sanh tử, không được giải thoát.
Vì
thế ở câu kệ kết thúc, Ðức Phật từ bi đã đặc biệt
dạy chúng ta, tất cả các Phật tử, phải xa lánh ngũ tân,
không được bỏ nó vào các thức ăn rau cải.
Lại
có người nói như vầy:
Rượu
làm cho tâm thần bị hôn mê, ăn thịt làm thương hại sanh
mạng chúng sanh, nên nói là có tội rất lớn thì không có
gì đáng nghi. Còn ngũ tân không làm cho tâm thần hôn mê, không
gây thương hại chúng sanh, mà ghép tội ngang với uống rượu,
ăn thịt thì khó tránh khỏi người đời sanh lòng khó tin?
Giờ
đây tôi (Pháp Sư) xin giải thích sự trách nạn ấy như vầy:
Ngũ tân không làm thương hại sanh mạng chúng sanh, tôi xin
sẵn sàng thừa nhận. Còn nói nó không làm cho tâm hồn bị
hôn mê, điều ấy tôi hoàn toàn không đồng ý. Vì hơi uế
trược của ngũ tân có năng lực trợ giúp sự phát sanh tâm
dâm dục của con người. Còn mùi vị cay nồng của nó làm
tăng trưởng tâm sân hận. Dục niệm cùng sân hận che đậy
tâm tánh sẵn có của chúng ta, như vậy không phải là làm
cho tâm thần bị hôn mê là gì nữa?
Ngoài
ra vì nó còn có tác dụng làm hôn mê, nhiễu loạn tâm tánh
minh giác, Ðức Phật thấy rõ nên động lòng thương xót chúng
ta, đem những quá hoạn sản sanh của nó mà dạy bảo và liệt
đồng tội với uống rượu, ăn thịt.
Trong
kinh Lăng Nghiêm dạy:
“Ngũ
tân ngoài việc phát khởi dâm dục và sân hận, những người
ăn ngũ tân không thể tuyên thuyết mười hai phần giáo hóa
của Như Lai. Chư thiên, chư tiên trong mười phương dù rất
thích nghe Phật pháp. Nhưng vì Pháp Sư ăn ngũ tân, hơi hôi
thối từ trong miệng phát ra, khiến chư vị chán ghét mà lánh
xa.
Ngược
lại, ngạ quỷ thường liếm môi mép, nên thường ở chung
với ngạ quỷ.
Vì
chư thiên, chư tiên rời xa Pháp Sư nên phước đức ngày càng
tiêu mòn và ngạ quỷ thường liếm môi mép nên từng giờ,
từng phút gần với ma. Việc bất lợi xảy đến ngày một
nhiều.
Chẳng
những thế, những người phát tâm tu tập Tam Ma Ðịa, vốn
có thể được chư đại Bồ Tát, chư thiên, chư tiên cùng
thiện thần trong mười phương đồng đến ủng hộ, nhưng
vì người ấy ăn ngũ tân cho nên quý ngài, dù một vị, cũng
không đến ủng hộ. Các ngài đã không đến ủng hộ thì
ma vương thừa cơ hội nhập nhiễu loạn hành giả.
Bấy
giờ Ma Vương hiện thân Phật đến thuyết pháp cho hành giả
nghe, chẳng những không nói công đức của sự trì giới,
trái lại còn nói trì giới là việc làm của Tiểu Thừa,
người tu Ðại Thừa không cần giữ gìn giới luật, không
nói tham, sân, si là cội gốc của sanh tử; trái lại, còn
nói tam độc không gây chướng ngại cho sự tiến tu của đại
đại Bồ Ðề, nói: dâm, nộ, si chính là Giới, Ðịnh, Huệ
v.v...”
Lúc
ấy, nếu bạn không phân biệt những lời nói không đúng
chánh pháp của ma vương, lại tin theo những lời quàng xiên
này, mà cho ma vương nói là đúng pháp thì bạn sẽ theo gót
chân của ma vương nhảy múa, tạo tội lỗi vô biên.
Theo
Phật pháp, có nhân như vậy thì phải có quả như vậy. Bạn
đã y theo lời nói của ma vương mà thực hành, dù ma vương
không hoàn toàn bảo bạn làm những điều ấy, nó cũng khuyên
bảo bạn tinh tấn tu phước nghiệp. Nhưng đến lúc sinh mạng
này của bạn kết thúc, thì tự nhiên thành quyến thuộc của
Ma Vương. Nếu không làm ma dân thì cũng là ma nữ. Thế thì
bổn ý của bạn là tu Tam Ma Ðịa để thành tựu Phật Quả,
chẳng những không thể làm tư lương cho việc thành tựu Phật
Quả, trái lại trở thành phước nghiệp hữu lậu.
Do
phước nghiệp này, bạn sanh vào trong cung điện của ma vương
để thọ hưởng phước báo của ma. Một mai phước báo của
ma bạn đã hưởng hết rồi thì phải đọa vào Vô Gián địa
ngục, chịu muôn ngàn thống khổ. Thử hỏi ăn ngũ tân đối
với bản thân chính mình có được sự lợi ích tốt đẹp
chi?
Ở
Ấn Ðộ, tất cả các tự viện hoàn toàn không cho chúng xuất
gia ăn ngũ vị tân. Việc này trong bộ Tây Vức Ký nói: “Ở
Tây Vức, nhà nào có người ăn ngũ vị tân thì bị đuổi
ra khỏi thành”.
Ðúng
theo giới luật, một Phật tử giữ ngũ giới hay một Phật
tử đã thọ giới Bồ Tát, phải tự giữ mình cho trong sạch.
Bất cứ ở đâu, cũng phải làm cho chúng sanh có cảm giác
thanh tịnh mới đúng. Ðã không thực hành được như vậy,
lại còn ăn ngũ vị tân là một thứ uế trược, như thế,
dĩ nhiên là không phù hợp với tư cách của người Phật
tử.
Giới
này cả tăng, tục, cùng Ðại, Tiểu Thừa đều phải giữ
gìn nghiêm cẩn, nhưng về ý nghĩa ngăn cấm phía Ðại Thừa
rất sâu xa, nên so sánh với Tiểu Thừa, thì tội này bên
Ðại Thừa quy định nặng hơn.
Trong
Du Già Luận nói: “Giới cấm dùng ngũ vị tân này là vì
muốn thủ hộ thánh giáo mới cấm chế, hoàn toàn thuộc về
Giá giới. Vì thế, trong trường hợp có trọng bệnh, nếu
y sĩ bảo phải dùng hành, tỏi v.v... mới lành bệnh, thì Ðức
Phật đặc biệt khai giới cho”.
Kinh
Tỳ Ni Mẫu nói: “Ðại Trí Xá Lợi Phất, bản thân của
Ngài mắc bệnh phong thấp rất nặng. Y sĩ bảo Ngài phải
ăn thứ tỏi lớn củ. Tôn Giả đến cầu Phật chỉ dạy.
Phật
dạy rằng: - Vì có bệnh nên được ăn, nhưng tỳ kheo bị
bệnh, nếu phải ăn hành tỏi thì không được ở chung trong
tăng đoàn, mà phải ở riêng biệt nơi vắng vẻ. Trong lúc
ăn hành tỏi v.v... không được vào thất Phật, chùa Tăng,
cũng không được vào nhà tắm của chúng Tăng tắm gội, không
được nằm trên đơn, nệm chiếu của chúng tăng, không được
đến nhà vệ sinh công cộng. Khi lành bệnh rồi, không còn
dùng hành, tỏi nữa, phải đợi sáu bảy ngày sau, tắm gội,
giặt giũ y áo cho thật sạch, trên thân không còn hôi mùi
hành, tỏi, lại phải dùng các thứ hương xông mới được
vào trong chúng”.
Trường
hợp vì bệnh si cuồng mà ăn hành, tỏi v.v... thì không vi
phạm giới này.
Kết
thành tội nghiệp của thực ngũ tân giới này, cũng phải
đủ bốn nhân duyên:
1.
Là ngũ tân: chính xác thuộc về ngũ vị tân, bất luận thứ
nào trong năm thứ, hễ ăn vào phạm giới này.
2.
Tưởng có ngũ tân: duyên này cũng có sáu trường hợp, hai
trường hợp trọng, hai trường hợp khinh và hai trường hợp
không phạm.
3.
Có tâm muốn ăn: có tâm ý muốn ăn ngũ vị tân, cho rằng
các thứ này có vị ngon đặc biệt của nó.
4.
Ðể vào miệng: Ðem ngũ vị tân mình muốn ăn đưa vào trong
miệng, cứ một miếng kết thành một tội. Ðó gọi là cứ
mỗi một miếng kết thành một tội. Vì thế, đối với loại
ngũ vị tân hôi thối này, giới Phật tử không nên ăn, nếu
ăn thì mắc tội rất lớn vậy.
