B.2.2.5.
BẤT GIÁO HỐI TỘI GIỚI
(giới
không dạy sám hối tội lỗi)
Kinh
văn:
1.
Phiên âm:
Từ
câu “Nhược Phật tử kiến nhất thiết chúng sanh phạm bát
giới...” cho đến câu “...bất giáo hối quá giả, phạm
khinh cấu tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
Phật tử thấy người phạm Ngũ Giới, Bát Giới, Thập Giới,
phá giới hay phạm giới thất nghịch, bát nạn v.v... tất
cả tội phạm giới, phải khuyên bảo người ấy sám hối.
Nếu cùng ở chung, đồng sống chung, đồng chung bố-tát, đồng
thuyết giới mà không cử tội người ấy, không nhắc người
ấy sám hối, Phật tử này phạm khinh cấu tội.
Lời
giảng:
Trong
mười giới trọng ở phần trước, có giới “rao nói tội
lỗi của tứ chúng”. Là một vị Bồ Tát, không được tùy
ý đi rao nói tội lỗi của tứ chúng. Việc không cho phép
Bồ Tát rao nói tội lỗi của tứ chúng là một việc rất
đúng. Nhưng bên cạnh đó, cho phép người tu học Phật pháp
cử tội đồng đạo. Ðiều này cần phải biết. Vì nếu
như không cử tội người tu hành, để người ấy có thể
theo đúng pháp, đúng luật sám hối, thì Bồ Tát ấy phạm
khinh cấu tội.
Vì
các hành giả khi phạm lỗi đôi lúc không tự mình biết được.
Người đời thường nói: “Người trong cuộc thì mê”. Vì
Bồ Tát ở bên cạnh mình, nếu thấy rõ ràng, phải vì người
ấy chỉ lỗi của họ ra cho họ biết, từ đó, họ mới có
thể theo đúng pháp sám hối cho được thanh tịnh.
Nếu
không vạch rõ tội lỗi của chúng sanh và không bảo họ sám
hối thì chẳng khác nào để mặc cho chúng sanh ở mãi trong
hố sâu tội lỗi, không thể tự cứu mình ra khỏi được.
Là
một vị Phật tử, điều tối khẩn yếu là không nên gần
gũi với tội lỗi. Nghĩa là thường không tạo tội lỗi thì
thân tâm mới được thanh tịnh và thường an trụ trong giới
pháp của Phật.
Bồ
Tát vì chúng sanh chỉ rõ tội lỗi, chẳng những không phải
là điều tội lỗi, mà chính là làm cho chánh pháp được
cửu trụ. Ðối với những người bị cử tội, không phải
Bồ Tát có ý đả kích mà thật là có tâm từ bi, ái hộ
họ.
Vì
nếu không cử tội và không bảo họ sám hối thì tương lai
họ phải lãnh thọ quả báo vô cùng khổ đau. Vì thế, muốn
thân tâm người ấy được thanh tịnh, tương lai người ấy
được xán lạn, nên Bồ Tát phải cử tội và khuyên bảo
người ấy sám hối.
Về
việc hộ trì Phật pháp, vấn đề chánh pháp của Như Lai
có được cửu trụ trong thế gian không, không phải ở nơi
chánh pháp, mà chính là do người phụng trì chánh pháp có
đúng luật hay không. Vì trên đời này, người hiểu rõ được
chân nghĩa Phật pháp rất hiếm, mà đa số chỉ căn cứ vào
hành vi của các đệ tử Phật mà đánh giá Phật pháp.
Nếu
người Phật tử hành đúng chánh pháp và thanh tịnh, sẽ làm
gương cho chúng sanh bắt chước theo để phụng hành Phật
pháp. Nhưng ngược lại, nếu Phật tử chỉ làm những điều
tội lỗi thì mọi người sẽ xa lìa Phật pháp.
Vì
thế, thân tâm của toàn thể Phật tử cả xuất gia lẫn tại
gia đều được thanh tịnh là một điều vô cùng trọng yếu
đối với bản thân mình cũng như đối với sự hóa độ
chúng sanh của Phật pháp. Do đó, một điểm thật nhỏ cũng
không được xem thường.
Tuy
nhiên, vì chưa đạt đến địa vị thánh nhân nên không một
ai tránh khỏi tội lỗi. Vấn đề cần yếu là tự mình biết
lỗi hay không, hoặc khi biết có lỗi, có chịu hết lòng cải
hối hay không và có thật tâm tiếp thọ sự cử tội của
người hay không. Nếu chấp nhận và thành tâm tiếp thọ sự
cử tội của người, thì chính mình vẫn là một con người
hoàn hảo, và vẫn ở trong Phật pháp tiến tu.
Vì
thế, việc cử tội và khuyên bảo người sám hối là vấn
đề hết sức cần thiết của những bậc sư trưởng đối
với đệ tử của mình. Cổ thư Trung Hoa nói: “Giáo bất
nghiêm, sư chi nọa”, nên làm thầy đối với đệ tử phải
hết sức nghiêm khắc, tuyệt đối không nên để cho đệ
tử buông lung, và cũng không nên vị tình, dung túng, hoặc
bỏ qua.
Trong
Phật pháp, trường hợp có những người cần sám hối, nhất
quyết bắt họ phải sám hối. Tại sao phải nhất quyết như
vậy?
Nơi
đây xin trích dẫn một câu chuyện trong kinh như sau:
Vào
thời Phật Ca Diếp xuất thế, có một vị tỳ kheo ở vào
cương vị một tăng sư (Hòa Thượng, Yết Ma, Giáo Thọ...)
độ rất nhiều đệ tử. Nhưng đối với đệ tử ít khi
lưu tâm răn dạy.
Trong
số các đệ tử ấy, có một vị vì không hiểu rõ sự trì
phạm của giới luật, nên không theo đúng pháp mà nghiêm trì
cấm giới. Do đó, vị này sau khi mạng chung bị đọa vào
trong loài Rồng.
Người
đời không biết nên cho Rồng là loài rất quý, nhưng thực
ra, Rồng cũng là một loài súc sanh. Cũng như nhân loại, có
người rất sung sướng tự tại, có người lại bị tội
khổ. Người đệ tử thọ thân Rồng kia cứ bảy ngày thọ
tội một lần. Toàn thân bị lửa dữ thiêu đốt đến nỗi
da thịt, thân hình cháy hết, chỉ còn xương, tưởng có thể
phải chết hẳn. Nhưng do nhân duyên và nghiệp lực, trải
qua chốc lát sau, sống trở lại để tiếp tục thọ khổ.
Trải
qua một thời gian thật lâu, Rồng không thể chịu nổi sự
thống khổ, liền suy nghĩ tại sao mình phải bị sự khổ
như thế này? Vì loài Rồng có báo đắc Ngũ Thông.
Ngũ
Thông có hai thứ:
1.
Báo đắc ngũ thông: như loài Rồng hay quỷ thần v.v... là
khi vừa mang ngũ báo thân liền có ngũ thông.
2.
Tu đắc ngũ thông: loại thần thông này do tu hành mà chứng
đắc.
Rồng
liền dùng Túc Mạng Thông quán sát biết được trong thời
quá khứ, mình là một người tu học Phật pháp, nhưng vì
thầy không răn dạy kỹ lưỡng nên tạo tội nghiệp rất
nhiều. Do tội nghiệp này chiêu cảm phải thọ thống khổ
ngày nay. Khi quán biết như thế, Rồng vô cùng tức giận vị
thầy thời quá khứ của mình, vì cho rằng sự thống khổ
ngày nay của mình là do thầy mình gây nên, bèm tìm cách trả
thù thầy cũ.
Trải
qua không lâu, một hôm có một đoàn thương nhân năm trăm
người, vào bể cả tìm châu báu, trong đó vị thầy của
Rồng ở kiếp tiền thân xưa kia. Rồng liền từ đáy biển
nổi lên, khiến chiếc thuyền nhiều lúc tưởng chừng sắp
bị đắm.
Tất
cả thương nhân trên thuyền vô cùng sợ hãi, trong đó có
một người bạo dạn, can đảm đứng ra hỏi Rồng rằng:
“Chúng tôi đây cùng nhà ngươi hoàn toàn không có thù oán,
tại sao ngươi lại nổi sóng gió, giữ thuyền lại không cho
đi?
Rồng
đáp rằng: - Tôi cùng các ông không thù oán chi thật, nhưng
trong thuyền có một vị tỳ kheo, vị này chính là thầy của
tôi thời quá khứ. Khi tôi ở dưới pháp tòa của người
tu học Phật pháp, vì người không chịu lưu tâm răn dạy,
dẫn dắt cho tôi chu đáo, nên tôi không rõ giới luật mới
tạo nhiều tội lỗi tày trời. Do đó, sau khi xả thân, phải
cảm thọ thân rồng hiện tại, bị khổ thiêu đốt. Nghĩ
đến, tôi càng tức giận nên quyết đến đây bắt thầy
tôi để hỏi lý do chi không chịu đúng pháp dạy bảo cho
tôi. Giờ đây, tôi chỉ yêu cầu các ông thả vị tỳ kheo
ấy xuống biển, tôi sẽ để cho thuyền các ông an nhiên mà
đi, tánh mạng các ông sẽ được an toàn.
Vị
tỳ kheo nghe những lời nói của Rồng, biết các thương nhân
trong thuyền sẽ không dung tha cho mình, nên tự động nhảy
vào biển cả, kết thúc sinh mạng của mình.
Qua
câu chuyện trên, chúng ta thấy muốn độ đồ chúng phải
đúng pháp răn dạy một cách nghiêm minh. Nếu không, chẳng
những gây nguy hại cho đệ tử, mà tự mình cũng hoàn toàn
bất lợi.
Ðức
Phật đối với đại chúng lại dạy thêm rằng: “Nếu là
một vị Phật tử thọ Bồ Tát giới, khi thấy tất cả chúng
sanh bất luận là tại gia, xuất gia, bất luận là tu học
Ðại Thừa hay Tiểu Thừa, cho đến tất cả những chúng sanh
thọ trì giới pháp của Phật, nếu họ trái phạm bát giới,
ngũ giới, thập giới, hủy cấm thất nghịch, bát nạn...
tất cả tội phạm giới, đều phải khuyên bảo sám hối”.
Bát
giới tức là Bát Quan Trai Giới, Bát Chi Trai Pháp... như trong
Thành Thật Luận và Trí Ðộ Luận thuyết minh như sau:
1.
Không sát sanh.
2.
Không trộm cắp.
3.
Không dâm dục.
4.
Không vọng ngữ.
5.
Không uống rượu.
6.
Không xoa dầu thơm trên thân và đeo tràng hoa.
7.
Tự mình không được ca múa, cũng không được nghe, xem người
ca múa.
8.
Không được ngồi hay nằm trên giường nệm cao rộng.
9.
Quá giờ Ngọ không được ăn.
Trong
chín pháp này, tám pháp trước là thuộc về Giới, pháp thứ
chín gồm cả Trai và Giới. Hợp tám giới trước và trai giới
thứ chín ở phía sau, gọi chung là Bát Trai Giới.
Tại
sao gọi là Quan?
Chữ
Quan nghĩa là đóng bít, là ngăn cấm. Nghĩa là tám thứ kể
trên có công năng ngăn cấm các tội lỗi: sát sanh, trộm cắp
v.v... không cho phát sanh và đóng bít cửa ngõ đọa vào tam
đồ ác đạo, nên gọi là Bát Quan Trai Giới.
Giới
pháp này cả hai chúng nam, nữ tại gia bẩm thọ trong một
ngày, một đêm, để học tập theo sinh hoạt chủ yếu của
chúng xuất gia.
1.
Ngũ Giới: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không
nói dối, không uống rượu. Năm giới này là giới của hai
chúng tại gia bẩm thọ suốt đời để học tập đức hạnh,
nhân cách cần phải có của một người cho được toàn thiện,
toàn mỹ.
2.
Thập Giới: Bát Quan Trai Giới thêm giới thứ 10. Giới này
không cho cầm nắm sanh tượng, kim ngân. Ðây là giới pháp
của sa di, sa di ni bẩm thọ, có chỗ nói 10 giới là chỉ mười
giới trọng trong kinh này, cũng không phải không đúng.
3.
Hủy cấm (bổn Việt văn dịch là phạm giới): danh từ này
có hai lối giải thích:
-
Hủy cấm chỉ chung các giới đã nói ở trên, nếu phạm bất
cứ giới nào trong số các giới này đều gọi là “hủy
cấm”. Vì các giới này do chính Ðức Phật đã vì các Phật
tử mà cấm chế.
-
Hủy cấm là chuyên chỉ 250 giới của tỳ kheo và 348 giới
của tỳ kheo ni. Vì giới tỳ kheo là giới cấm của đức
Như Lai chế lập, nếu người phát tâm thọ giới này mà không
giữ gìn trọn vẹn, hoặc trì giới mà không tụng giới là
trái với thánh ngôn của chư Phật. Không thực hiện những
điều cấm chế của Ðức Phật nên gọi là “hủy cấm”.
4.
Thất nghịch:
-
Giết cha.
-
Giết mẹ.
-
Giết Hòa Thượng,
-
Giết A-xà-lê.
-
Phá Yết-ma chuyển pháp luân tăng.
-
Ác tâm làm thân Phật xuất huyết.
-
Giết A-la-hán.
Bảy
tội nghịch này so với tội ngũ nghịch trong các kinh thường
giống nhau, chỉ thêm hai thứ là giết Hòa Thượng và A Xà
Lê.
Phật
là bậc đại oai đức, không người nào thể giết hại được.
Cho nên khi Phật còn tại thế, chúng sanh nào muốn mưu hại
Phật thì mức tối đa chỉ có thể làm cho thân Phật chảy
chút máu, chứ tuyệt đối không thể nào làm thương hại
sinh mạng của Phật được.
Khi
Phật đã nhập diệt, chúng sanh có thể tạo tội nghịch này
được hay không?
Có
thể được! Chẳng hạn bán hình tượng Phật, hoặc bán kinh
luật Phật, cũng có thể nói đây là hình thức làm thân Phật
xuất huyết.
A
La Hán là bậc Ứng Cúng trong thế gian, nghĩa là ưng thọ sự
cúng dường của người thế gian, để làm phước điền cho
chúng sanh.
Nếu
không có A La Hán ở thế gian, chúng sanh có tạo tội nghịch
này được không?
Ðược!
Ðó chính là giết tỳ kheo tăng, A La Hán là thánh nhân của
quả vị tỳ kheo tăng. Tỳ kheo là người tu nhân hạnh A La
Hán. Thế nên giết tỳ kheo là đồng với tội giết A La Hán.
5.
Bát nạn:
-
Ðịa ngục.
-
Ngạ quỷ.
-
Súc sanh.
-
Sanh trước Phật hoặc sau Phật.
-
Các căn không đủ.
-
Thế trí biện thông.
-
Miệt Lệ Xa.
-
Sanh lên Trường Thọ Thiên.
Trường
Thọ Thiên là cõi trời Vô Tưởng ở Sắc Giới và chư thiên
cõi Vô Sắc. Cũng có chỗ nói là chư thiên cõi Dục thường
bị sự dục lạc làm cho tâm trí tán loạn, không thể tu học
Phật pháp, cũng bao gồm trong đây:
Vì
chư thiên ở cõi Vô Sắc Giới và chư thiên Dục Giới chỉ
là thuộc về loài dị sanh nên mới sanh lên các cõi trời
ấy. Dị Sanh là danh từ khác của Phàm Phu. Chúng sanh nào bị
sanh vào trong bát nạn xứ ấy thì không rảnh rỗi để tu
học Phật pháp. Vô là không, Hạ là nhàn hạ, rỗi rảnh.
Tức là không rảnh rỗi để tu học Phật pháp.
Trong
bộ Huyền Ký Âm Nghĩa, quyển hai mươi mốt nói: “Bát Vô
Hạ là chỉ những chúng sanh bị sanh vào trong tám nạn xứ,
không rảnh rỗi để tu tập thiện nghiệp và đạo pháp giải
thoát xuất thế của Như Lai”.
Nhưng
trong tám nạn xứ ấy, sự không rảnh rỗi tu học Phật pháp
chia làm hai loại:
-
Quá sung sướng nên không thể tu học Phật pháp, như cõi trời
Vô Tưởng và các cõi trời khác cùng với nhân loại ở Bắc
Câu Lưu Châu.
-
Quá đau khổ không thể rảnh rỗi để tu học Phật pháp,
như tội nhân trong địa ngục luôn bị hình phạt, làm ngạ
quỷ bị lửa đói khát thiêu đốt, trải qua trăm ngàn năm
không có thức ăn uống, hoặc súc sanh luôn bị sự sợ hãi
ăn nuốt lẫn nhau, không thể rảnh rỗi để tu học Phật
pháp.
*
Miệt Lệ Xa: chỗ biên địa, văn hóa lạc hậu và những nơi
không có hàng tứ chúng của Phật giáo đi đến. Trong kinh
thường chỉ cho Bắc Câu Lưu Châu.
*
Thế trí biện thông: chỉ hạng người tri kiến không chính
đáng, tư tưởng lầm loạn, phủ nhận luật nhân quả, đối
với ngôi Tam Bảo không có tín tâm.
*
Các căn không đủ: những khiếm khuyết của các bộ phận
trên thân thể, những người như vậy không có đủ điều
kiện để đúng như pháp mà tu học Phật pháp như:
-
Bộ phận sinh lý khuyết hãm.
-
Ðôi mắt không thấy rõ.
-
Tai điếc.
-
Tâm tánh si cuồng.
-
Các chi tiết trên thân không vẹn toàn (như mắt lé, môi sứt...)
*
Sanh trước Phật hoặc sau Phật: như trong đời hiện tại
của nhân loại, không có đấng Ðại Giác xuất thế để
độ sanh. Vì thế, muốn tu học Phật pháp không biết từ
đâu để tu học.
6.
Tam ác đạo: Ba nạn xứ, chúng sanh ở trong đây lại càng
không có cơ hội để tu học Phật pháp.
Tóm
lại:
Tám
thứ nạn xứ trên đây thực sự không phải là nó có đại
nạn gì, nhưng nếu chúng sanh bị sa vào trong những cảnh ấy
thì không có thời gian rảnh rỗi để tu hạnh xuất thế giải
thoát của Phật pháp; cho nên gọi rằng “nạn xứ”.
Do
đó, dưới nhãn quan của Phật pháp, chúng sanh có nạn hay
không nạn, không phải căn cứ ở địa vị của chúng sanh
ấy, mà căn cứ vào điều kiện có nhân duyên tu học Phật
pháp hay không.
Hiện
tại chúng ta có thể tu học theo Phật pháp, có thể hướng
lên con đường giải thoát là một việc hiếm có và khó được.
Tám nạn xứ trên, không phải chỉ quả báo sở đắc của
nó (quả báo đã lãnh thọ như chúng sanh ở trong tam ác đạo...)
mà là chỉ về nghiệp nhân năng tạo.
Vì
quả báo đã thành thì không thể dạy sám hối, còn nghiệp
nhân năng tạo thuộc về phạm vi tạo nhân, chưa thành quả
nên có thể sám hối trừ tội. Như trường hợp có những
chúng sanh hiện tại tạo những nghiệp nhân trong bát nạn,
tương lai chắc chắn sẽ chiêu cảm quả báo bát nạn.
Vì
muốn cho những chúng sanh này khỏi thọ quả báo trong bát
nạn, hiện đời có thể đúng như pháp để sám hối. Tạo
những nghiệp nhân gì mà chiêu cảm quả báo trong bát nạn?
-
Tạo nghiệp sát sanh, trộm cắp, dâm dục, vọng ngữ v.v...
mắc khổ báo trong tam ác đạo.
-
Tu theo định Vô Tưởng của ngoại đạo sẽ chiêu cảm quả
báo sanh lên cõi trời Phi Phi Tưởng Xứ, hưởng thọ tám vạn
đại kiếp.
-
Không tin vào ngôi Tam Bảo, chỉ một mặt tu tập phước nghiệp
thế gian, sẽ chiêu cảm quả báo sanh vào Bắc Câu Lưu Châu,
sanh tâm tà kiến, không ưa nghe chánh pháp, mắc quả báo đui,
điếc.
-
Không tin Tam Bảo, hủy báng chúng tăng, mắc quả báo câm ngọng,
không tin pháp giải thoát xuất thế, chỉ say đắm pháp thế
gian sẽ mắc quả báo Thế Trí Biện Thông. Do nghiệp chướng
sâu nặng, phước duyên kém cỏi, chiêu cảm quả báo sanh trước
Phật hay sau Phật.
Các
thứ giới hạnh cùng tội nghiệp thất nghịch, bát nạn như
đã nói ở trên, không luận là tội khinh, tội trọng, tánh
tội hay giá tội, khi thấy chúng sanh có chỗ trái phạm, Bồ
Tát phải liền khuyên răn, dạy bảo, đừng để chúng sanh
tạo nghiệp nhân thất nghịch, bát nạn, những việc phạm
giới mà tương lai phải bị khổ quả hoàn toàn bất lợi.
Lại
cần phải khuyên bảo chúng sanh ấy đối trước Tam Bảo chí
thành khẩn thiết phát lộ sám hối, phát nguyện từ đó trở
đi không còn phạm giới, tạo những nghiệp nhân thất nghịch,
bát nạn...
Vì
thế kinh dạy: “Tất cả tội phạm giới phải khuyên bảo
sám hối”.
Kinh
Bồ Tát Thiện Giới nói: “Bồ Tát khi vào trong chúng Tăng,
nếu thấy có người cười giỡn phi pháp mà không chịu quở
trách thì đắc tội”.
Chúng
ta thử suy nghĩ: với những việc hết sức vi tế như cười
giỡn phi pháp, bổn phận Bồ Tát còn phải dạy bảo sám hối,
huống chi việc lớn như phạm giới và tạo tội nghiệp ngũ
nghịch, thập ác đã nói trên mà không dạy bảo sám hối?
Trong
bộ Minh Tường Ký có kể một câu chuyện như sau:
Có
vị Tăng xuất gia, pháp danh là Huệ Ðạt, bị bạo tử, thác
xuống địa phủ, thấy đức Quan Thế Âm Bồ Tát dạy rằng:
“Dù là hàng sa môn xuất gia hay tại gia, nếu tự biết mình
có lỗi, hay nhớ những tội nghiệp thời quá khứ. Nếu ở
trong đại chúng phát lồ tất cả tội lỗi ấy, tinh tấn,
kiền thành sám hối thì những tội ấy có thể trừ diệt”.
Theo
lời dạy của Bồ Tát, chúng ta thấy công hiệu của việc
sám hối rất là rộng lớn, không gì sánh bằng. Vì thế,
Bồ Tát hóa độ chúng sanh, đối với tất cả quỷ thần
trong cõi U Minh giới, cũng như tất cả nhân loại, bất cứ
lúc nào và nơi đâu, đều nên dạy họ sám hối, để cho
mỗi chúng sanh đều thành một Phật tử thanh tịnh trong Phật
pháp.
Bồ
Tát dạy những người phạm tội sám hối chính là biểu lộ
tâm Từ Bi chứ không phải phát xuất từ tâm sân hận, hoặc
mong cầu danh lợi. Nhưng nếu là một vị Bồ Tát, đáng lẽ
phải dạy người sám hối mà không dạy, ấy là mất tâm
Từ Bi tự lợi, lợi tha. Thấy chúng sanh phạm tội mà không
cử tội, là trái với lời Phật dạy và trái với quy định
của giới luật Phật Ðà.
Tỳ
kheo thanh tịnh không được ở chung với tỳ kheo phạm giới.
Nếu bạn vẫn yên lặng và ở chung là làm tăng gia thêm một
tội.
Tỳ
kheo thanh tịnh không nên cùng với tỳ kheo phạm giới đồng
lãnh thọ lợi dưỡng của đàn việt cúng dường. Hiện tại,
bạn vẫn yên lặng cùng người ấy tiếp thọ lợi dưỡng,
đồng lợi dưỡng với chúng tăng, là tăng thêm một tội.
Tỳ
kheo thanh tịnh không nên cùng với tỳ kheo phạm giới cùng
bố tát, đồng chúng tụng giới. Hiện tại, bạn vẫn đồng
ở chung trong một đại giới, làm lễ bố tát thuyết giới
thì làm sao hợp với luật nghi Ðức Phật đã chế định?
Tỳ
kheo thanh tịnh không được ở chung với tỳ kheo phạm giới,
nếu bạn vẫn yên lặng ở chung tức là tăng thêm một tội.
Lúc
làm lễ bố tát tụng giới, nếu biết người thật sự có
tội, phải cử tội người ấy, bảo người ấy ở trong đại
chúng sám hối để được kiến hòa đồng giải, giới hòa
đồng tu.
Trái
lại, nếu không cử tội, không khuyên bảo người ấy sám
hối, cứ yên lặng ở chung, đồng chúng tăng luống thọ lợi
dưỡng, thì Phật tử này phạm khinh cấu tội.
Vì
do bạn che giấu tội lỗi của người mà tâm mình bị nhiễm
ô không thanh tịnh. Kinh Ngũ Giới Oai Nghi dạy rất rõ về
vấn đề này: “Bồ Tát là người thượng thủ trong đại
chúng, khi thấy các quyến thuộc của mình có việc không đúng,
phải tùy theo tội mà quở trách, trị phạt hay tẫn xuất”.
Vì
Bồ Tát là vị lãnh đạo của chúng sanh, với những kẻ không
đúng pháp, nếu không lưu ý quở trách, cử tội, thì không
khác gì dẫn dắt chúng sanh vào trong hố sâu tội ác, lỗi
này rất lớn!
Cho
nên kinh Ưu Bà Tắc Giới nói: “Thà thọ ác luật nghi, một
ngày đoạn vô lượng sanh mạng chúng sanh, quyết không nên
dung dưỡng những đệ tử ác không thể điều phục”.
Tại
sao vậy?
Vì
tai hại của ác luật nghi ảnh hưởng đến bản thân một
người, nhưng tội không răn dạy đệ tử ác để họ có
thể phỉ báng vô lượng pháp thượng diệu của Như Lai, phá
hòa hợp tăng, làm cho nhiều người tạo nghiệp Ngũ Vô Gián,
vô lượng chúng sanh tạo ác nghiệp, nên tội này nặng hơn
tội Ác Luật Nghi. Kinh Bồ Tát Thiện Giới lại nói một cách
nghiêm trọng hơn: “Chiên đà la cùng với những kẻ đồ
tể dù tạo ác nghiệp, nhưng không thể phá hoại chánh pháp
của Như Lai, nên không nhất quyết phải bị đọa trong tam
ác đạo. Nhưng làm thầy mà không răn dạy, quở trách đệ
tử tệ ác, tức là phá hoại Phật pháp, quyết phải đọa
địa ngục”.
Kinh
Niết Bàn cũng nói: “Nếu tỳ kheo hiền thiện khi thấy người
phá hoại Phật pháp mà bỏ qua, không cử tội, không quở
trách, không trị phạt, không tẫn xuất, người này là kẻ
oán tặc trong Phật pháp. Nếu quở trách, trị phạt, tẫn
xuất, ấy tức là đệ tử của Ta vậy”.
Theo
các kinh đã dẫn bên trên, chúng ta thấy bổn phận của một
sư trưởng, nhất là trong Ðại Thừa, đối với quần chúng
thuộc phần giáo hóa của mình, nếu thấy họ tạo tội, phải
bảo họ đúng như pháp, như luật, sám hối. Tuyệt đối không
được thuận theo nhân tình, để người tha hồ buông lung
không nhắc nhở, để cho mình phải mang lấy tội lỗi không
thể dung thứ.
Phật
tử bao gồm thất chúng, địa vị bất đồng, nên việc cử
tội, khuyên bảo sám hối cũng có sự khác biệt rất lớn
như trường hợp:
-
Tỳ kheo tăng có thể cử tội của thất chúng Phật tử.
-
Tỳ kheo ni chỉ được phép cử tội sáu chúng.
-
Riêng đối với tỳ kheo tăng, tỳ kheo ni không được phép
cử tội. Nếu cử thì bị tội. Nhưng nếu có sự quan hệ
bà con hay quen biết thì có thể khuyên can mà không bị tội.
-
Thức Xoa Ma Na có thể cử tội năm chúng.
-
Sa Di được phép cử tội bốn chúng.
-
Sa Di Ni chỉ được phép cử tội ba chúng.
Còn
hai chúng tại gia chỉ được phép cử tội lẫn nhau, không
được cử tội năm chúng xuất gia. Tuy nhiên, nếu có quan
hệ bà con quen biết, có thể khuyên gián riêng thì không có
tội.
Trong
kinh Thiện Sanh dạy: “Nếu Ưu Bà Tắc thấy bốn chúng khác
hủy phạm giới pháp đã thọ, sanh tâm kiêu mạn, nói mình
hơn người, người không thể bằng mình, thì sẽ mắc tội
thất ý” (là tội do tâm ý phát sanh niệm kiêu mạn). Vì
tâm kiêu mạn không phải là tâm niệm cử tội mà là tâm
niệm khinh người, cho nên không đúng pháp.
Chân
thật vì người cử tội, trong Luật Tứ Phần có dạy như
sau:
1.
Phải vào lúc thích hợp, nghĩa là cử tội phải tùy thời,
lúc không nên cử tội thì không được cử tội (trường
hợp người khác phạm tội bị trọng bệnh v.v... nếu cử
tội vào lúc ấy thì không thích hợp, không phải lúc).
2.
Phải thật sự có tội, nghĩa là khi cử tội người thì người
ấy phải thật sự có lỗi, không nên đem những tội không
thật có mà tăng gia cho người.
3.
Phải vì lợi ích của người mà cử tội, nghĩa là khi cử
tội người, phải thật sự muốn cho người được lợi ích,
không phải có tâm gây tổn giảm sự lợi ích của người.
4.
Thái độ của người cử tội, nghĩa là khi cử tội người
phải thật sự muốn cho người được lợi ích, không phải
có tâm gây hấn, tổn giảm sự lợi ích của người.
5.
Hoàn toàn phát xuất từ tâm Từ Bi, vì thương xót người,
không phải do tâm sân hận, làm người khó chịu.
Khi
cử tội, phải khuyên bảo người sám hối, phải thực hành
những điều trên thì mới hợp với tinh thần của Phật pháp
và có công đức rất lớn. Nếu do động lực không chính
đáng mà cử tội người thì không được gọi là đúng pháp.
Ðồng thời phải chú ý, lúc cử tội người không nên ở
trước mặt đại chúng, mà phải ở trước vị đại đức
tăng, nói rõ tội phạm của người, cầu thỉnh vị đại
đức ấy bằng lòng cho người tội sám hối.
Chúng
sanh có tội phải khuyên dạy sám hối là lẽ đương nhiên.
Nhưng trường hợp nào, không khuyên dạy người sám hối mà
không phạm tội?
Ðiều
này trong luật Ma Ha Tăng Kỳ có dạy: “Nếu kẻ ấy là người
hung bạo, hoặc nương thế lực của quốc vương, của quan
đại thần, hay của kẻ hung dữ, hoặc giả do việc cử tội
này mà gây lên sự tổn hại sanh mạng của người đang tu
phạm hạnh. Gặp trường hợp trên, bạn cần suy nghĩ như
vầy: ‘Kẻ ấy tạo tội như thế thì chắc chắn phải mắc
quả báo, nhưng nếu ta cử tội, thì người ấy chẳng những
không chịu tiếp thọ, mà bản thân ta có thể tự rước lấy
việc phiền phức không cần thiết. Giờ đây ta phải cần
giữ thân tâm cho thanh tịnh là tốt hơn. Chẳng hạn như người
đang bị lửa cháy đầu, lo tự cứu còn không kịp, có đâu
lo cứu cho người khác’... Suy nghĩ như thế nên không cử
tội người thì không phạm tội khinh cấu”.
Trong
giới Bất Hành Oai Chiết (không dùng uy quyền để chiết phục
người có tội) ở trong Du Già Bồ Tát Giới Bổn có dạy
năm điều sau đây:
1.
Nếu biết rõ người ấy là người hung ác, không thể cử
tội, trị phạt. Hoặc biết tánh tình người ấy ngang bướng,
không thể nói chuyện với họ. Hoặc biết tánh tình người
ấy tuy có chút tâm hổ thẹn, nhưng thường phát ra lời thô
ác, dù có cử tội cũng không chịu nghe theo. Hoặc biết tánh
tình người ấy ưa sân hận, nếu y theo giới luật quở trách,
trị phạt, chẳng những người ấy không tiếp thọ, trái
lại còn sanh tâm giận ghét. Do những nhân duyên nói trên,
nên không cử tội, không quở trách, không trị phạt, không
tẫn xuất thì không phạm tội.
2.
Nếu lúc ấy là lúc không nên cử tội, quở trách, trị phạt,
tẫn xuất mà phải đợi thời gian khác sẽ thực hành cử
tội. Trường hợp này không phạm tội.
3.
Cử tội, quở trách, trị phạt v.v... là cốt ý hy vọng người
ấy sẽ trở thành người tốt, để mong đại chúng được
hòa vui thanh tịnh. Nếu ngược lại, vì sự quở trách này,
chẳng những không cải hóa được người mà còn phát sinh
chuyện gây gổ, tranh chấp kịch liệt. Do đó, sự không quở
trách, trị phạt... sẽ không vi phạm giới.
4.
Nên biết vì sự quở trách, trị phạt... này sẽ làm cho chúng
Tăng sanh ra việc tranh luận ồn ào, tạp loạn, tập thể bị
xáo trộn không thể cùng nhau an tu. Thậm chí do đó mà sanh
ra việc phá tăng. Trong trường hợp đó, không quở trách,
trị phạt thì không phạm tội.
5.
Nếu biết người ấy tính tình vốn chất trực, nhất thời
lỡ lầm phạm giới luật, tự biết sự lỗi lầm của mình
mà sanh tâm rất hổ thẹn, thành tâm phát lồ sám hối, nguyện
từ đó về sau không tái phạm. Do đó, thâm tâm trở lại
thanh tịnh như trước. Vì thế, không cử tội, quở trách
v.v... thì không phạm.
Ở
đây nói quở trách, trị phạt, tẫn xuất... tùy theo mức
độ khinh, trọng của các tội đã phạm mà phán định:
-
Tội khinh thì nên quở trách, tội vừa chừng thì nên trị
phạt.
-
Tội trọng thì phải tẫn xuất, không được lầm lẫn giữa
các mức độ phán định.
Ðức
Phật sở dĩ đặc biệt chế định giới này để khỏi phát
sinh hiện tượng nương theo việc làm ác để phát triển thêm
tội lỗi. Là Phật tử, cả xuất gia lẫn tại gia đều không
nên nương việc làm ác để tăng trưởng tội lỗi. Cho nên
cả Ðại Thừa lẫn Tiểu Thừa đều phải vâng giữ giới
điều này, không được trái phạm.
Ở
đây có một vấn đề cần nói rõ:
Hai
chúng xuất gia có tăng sự và lợi dưỡng (tỳ kheo), thấy
người phạm tội mà không khuyên bảo sám hối, cố nhiên
là phạm tội khinh cấu. Còn năm chúng kia, vốn không có việc
tăng sự, lợi dưỡng, vì sao phải vâng giữ giới điều này?
Nên
biết trong giới điều không luận có tăng sự lợi dưỡng
hay không. Cốt yếu là thấy người khác có tội mà không
khuyên bảo sám hối thì phạm tội khinh cấu. Nhưng tội này
chỉ là giá tội mà thôi.
Nếu
tự mình có lỗi mà không cải hối cũng là chỗ kiêm chế
của giới này, lại còn mắc thêm tánh tội. Như thế chúng
ta thấy rằng tự mình có tội cũng cần phải tha thiết cải
hối.
Kết
thành tội nghiệp của giới Bất Giáo Hối Tội này phải
đủ bốn duyên:
1.
Có tội: người bị cử tội kia quả thật có tội.
2.
Tưởng có tội: người dạy bảo sám hối xác nhận đích
thực người kia có tội.
3.
Không có tâm dạy sám hối tội: Duyên này gồm hai loại:
-
Do có tâm sân hận, không cử tội người, không dạy bảo
sám hối. đối với người có tội, cứ mặc kệ họ, không
cần dạy bảo sám hối cho tâm được thanh tịnh. Ðây là
tội thuộc về tội nhiễm ô phạm, tương ứng với phiền
não.
-
Do tính biếng nhác, giải đãi, không chịu cử tội, khuyên
bảo người sám hối. Ðây là tội khinh, không phải nhiễm
ô phạm, vì không tương ứng với phiền não.
4.
Yên lặng ở chung: Thấy người có tội mà không cử tội,
không dạy sám hối, vẫn ở chung là một tội. Ðồng thọ
dụng lợi dưỡng là một tội nữa. Ðồng làm Phật sự như
bố tát, tụng giới v.v... là thêm một tội nữa. Cứ như
thế, tùy theo mỗi việc mà kết tội.
Ở
đây có điều cần phải biết là thấy người có tội phải
dạy bảo sám hối chính là bổn phận cần thiết của kẻ
làm thầy. Còn người được dạy bảo sám hối có tiếp thọ
sự dạy bảo hay không là thuộc về việc của người phạm
tội. người làm thầy chỉ cần thể hiện đầy đủ trách
nhiệm và bổn phận của mình mà thôi.
