B.2.2.9.
BẤT KHÁN BỆNH GIỚI
(giới
không khám bệnh)
Kinh
văn:
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử kiến nhất thiết tật bệnh nhân”
cho đến câu “phạm khinh cấu tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
Phật tử thấy tất cả người bị tật bệnh, phải tận
tâm như cúng dường Phật. Trong tám phước điền, khám bệnh
là phước điền thứ nhất. Nếu như cha mẹ, sư tăng cùng
đệ tử có bệnh, có tật, trăm thứ bệnh khổ, đều nên
chăm sóc cho được lành mạnh. Nếu Phật tử vì lòng giận
hờn, không chăm nuôi, nhẫn đến thấy trong tăng phường,
thành ấp, hoặc nơi núi rừng, đồng nội, đường sá, có
người tật bệnh mà không lo cứu tế, Phật tử này phạm
khinh cấu tội.
Lời
giảng:
Bệnh
là một đại thống khổ của nhân sanh, tất cả mọi người
không ai tránh khỏi. Khi cơ thể của bạn còn khang kiện, bạn
không hiểu được nỗi khổ của bệnh hoạn. Khi bạn có bệnh,
bạn mới biết bệnh thật vô cùng khó chịu, nên cổ đức
có nói:
Bệnh
hậu phương tri sanh tử khổ,
Nhàn
thời đa vụ thị nhân mang.
Dịch:
Sau
cơn bệnh mới biết sanh tử là khổ,
Lúc
rảnh rỗi thường bận rộn lo việc người.
Ðây
là quan niệm mà tất cả mọi người thông thường đều có.
Mọi người trên thế gian, suốt ngày đều quanh quẩn trong
vòng bôn Nam, tẩu Bắc, chịu không biết bao nhiêu đắng cay,
nhọc nhằn. Bận rộn cực khổ như thế chẳng biết để
làm gì? Tuy vậy, mọi người đều ưa thích ở trong sự bận
rộn ấy, không nhàm chán. Ðặc biệt ở vào thời đại công
nghiệp và xã hội công nghiệp này, mọi người không phân
biệt già trẻ, nam nữ, mọi giai cấp, cả Tăng lẫn tục,
lúc nào cũng khẩn trương, bận rộn muôn phần.
Nhưng
khi bị ma bệnh đến buộc ràng, nhiễu hại, nếu lâm bệnh
nặng mới biết không phải là một việc đơn giản. Bấy
giờ mới hiểu ra thân người này là một thứ mong manh, sanh
rồi già, bệnh, chết, thật là đại thống khổ!
Khi
bị bệnh, dù có sự giác ngộ như vậy, nhưng sự giác ngộ
ấy khác nào hoa Ưu Ðàm một lần xuất hiện mà thôi (Ưu
Ðàm là loại hoa ba mươi thế kỷ mới có một lần, dùng
ám chỉ sự giác ngộ của nhân sanh rất hiếm). Khi đã được
lành bệnh rồi, bao nhiêu thống khổ trong cơn bệnh hoạn đều
quên sạch, rồi lại vẫn tiếp tục dấn bước vào lữ trình
rộn rịp của nhân sanh, cực khổ đua chen không ngừng dứt.
Nếu
có người hỏi tại sao phải bận rộn như vậy? Thì chính
người bận rộn ấy cũng không thể trả lời nguyên nhân
vì sao. Chỉ có thể bảo cuộc đời hầu như không bận rộn
thì không được, và phải bận rộn mãi đến khi ngã bệnh
nằm xuống cũng không sanh một niệm hối tiếc (1).
Bệnh
là một điều hết sức đau khổ. Thân thể bình nhật khỏe
mạnh, rắn chắc, da thịt hồng hào, tươi đẹp. Khi bệnh
hoạn trở nên gầy còm, ốm yếu, vàng úa, xanh xao, lại thêm
nỗi lo buồn sợ hãi trăm bề. Nếu lâm bệnh nặng, thậm
chí không thể ngồi dậy nổi thì sự đau khổ không thể
đo lường. Lúc cơ thể còn mạnh khỏe, muốn ăn thứ gì đều
có thể thọ dụng theo ý muốn. Ðến khi bị bệnh, dù những
thứ bình thường bạn rất ưa thích, nếu y sĩ bảo cữ, bạn
cũng không được ăn. Trái lại, những thứ bạn hoàn toàn
không ưa thích, nhưng đến lúc cần thiết, bạn cũng phải
bị bắt buộc, cưỡng ép thọ dụng. Ðó chỉ là nói về
những bệnh khổ thông thường.
Hiện
nay y học ngoại khoa tiến bộ, lối trị bệnh theo thủ thuật
giải phẫu rất thông dụng. Nếu bạn mang phải chứng bệnh
cần phải giải phẫu thì lúc lên bàn mổ, phải chịu cắt
xẻ đau đớn. Vì thế, kinh Quảng Ðại Du Hý đối với vấn
đề bệnh khổ có một đoạn kệ mô tả hết sức sống động:
Bệnh
nhiều trăm nỗi khổ đau,
Khác
chi hươu nọ bị bao người tầm,
Chúng
sinh thống khổ thương tâm,
Nên
quán bệnh, lão hại xâm thân hình.
Nguyện
cầu Phật cứu sinh linh,
Chỉ
mau phương thuốc bệnh tình dứt an.
Cuối
Ðông, sương tuyết ngập tràn,
Mưa
to, gió lớn, muôn ngàn hiểm nguy.
Lâm
sơn, thảo mộc tàn suy,
Còn
đâu bao vẻ quang huy rỡ ràng.
Chúng
sinh bệnh khổ khóc than,
Xuân
xanh dũng lực tiêu tan chẳng còn,
Bạc
tiền, của cải cạn mòn,
Kho
tàng, lúa thóc đâu còn mãn sung.
Bệnh
hành sinh chúng chẳng dung,
Sân
ái tổn não, nấu nung tâm hồn.
Khác
chi nắng Hạ đổ dồn,
Ðốt
thiêu khắp chốn, khổ đau muôn phần.
Ở
đời có rất nhiều người xan lẫn, lúc bình thường một
đồng cũng không xả, một sợi lông trong thân không dễ cho
ai nhổ. Khi cho ai một đồng khác nào cắt thịt trên thân
họ. Nhưng khi bệnh cần điều trị cho thân khỏe mạnh lại,
thì không tiếc phải hy sinh vàng bạc, thậm chí bao nhiêu tiền
của, vườn ruộng cũng đều tiêu tan hết sạch. Vì vậy,
khi bệnh khổ đến hoành hoành thật là một nỗi thống khổ
rất lớn lao!
Trong
Du Già Luận giả lập lời vấn đáp như sau:
“Bồ
Tát lấy chi làm tự thể?
-
Lấy Ðại Bi làm thể!”
Ðại
Bi là tự thể của Bồ Tát, cứu khổ là diệu dụng của
Bồ Tát. Vì thế nếu khi thấy có người bị bệnh, tất phải
lo săn sóc, cứu chữa hết lòng. Nếu không thực hành như
vậy thì không đủ tư cách để gọi là Bồ Tát. Lại nữa,
nhờ sự săn sóc cứu giúp của bạn, bệnh nhân được lành
mạnh, khôi phục thân thể được khang kiện. Thế là bạn
đã cứu một sinh mạng. Công đức ân huệ này lớn biết
bao! Vì thế, săn sóc bệnh nhân trong cơn bệnh khổ là viẹc
vô cùng quan trọng của Bồ Tát, tuyệt đối không nên khinh
thường, bỏ qua.
Ðức
Phật đối với đại chúng dạy rằng: “Là một Phật tử
thọ Bồ Tát giới, khi thấy cả những người bệnh tật phải
nên cúng dường, cúng dường đúng mức như Phật không khác!”
“Tất
cả người bệnh tật” là nói tổng quát từ trên xuống
dưới:
-
Trên chỉ cho cha mẹ, sư trưởng.
-
Giữa chỉ cho anh em và trong lục thân.
-
Dưới chỉ cho con cái và đồ chúng.
-
Bên ngoài chỉ cho những kẻ oan gia đối đầu và không luận
là có quan hệ với mình hay không.
Săn
sóc điều trị bệnh nhân vì sao cần phải hành động như
cúng dường Ðức Phật không khác?
Nên
biết Ðức Phật lấy thân của tất cả chúng sanh làm thân,
lấy bệnh của tất cả chúng sanh làm bệnh của Phật. Vì
thế, bổn phận Phật tử thấy những người tật bệnh phải
lo cung cấp tất cả mọi việc cũng như cúng dường Ðức
Phật, không được giải đãi hay vô lễ mảy may.
Trong
luật Thanh Văn, Phật bảo chư tỳ kheo rằng: “Nếu có người
nào muốn cúng dường ta, cần phải cúng dường bệnh nhân”.
Bệnh
nhân lúc bị bệnh khổ buộc ràng, hành hạ, hết sức buồn
rầu, đau khổ. Vì thế, nếu có người lo lắng mọi việc,
cung cấp không thiếu thốn, khiến bệnh nhân không cảm thấy
buồn khổ vì bệnh mà không có thuốc men, không người giúp
đỡ thì công đức ấy thù thắng như công đức cúng dường
Phật.
Nên
kinh dạy: “Khi thấy tất cả người tật bệnh nên cúng dường
như cúng dường Phật không khác”.
Cúng
dường bệnh nhân như cúng dường Phật, lại còn “trong tám
phước điền thì khám bệnh là phước điền thứ nhất”.
Luận
về tám loại phước điền, có ba thuyết hơi khác nhau như
sau:
Thuyết
thứ nhất:
-
Ðào giếng ích lợi cho người.
-
Bắc cầu nối liền đường sá.
-
San bằng phẳng những đường gập ghềnh.
-
Hiếu thuận cha mẹ.
-
Cúng dường sa-môn.
-
Cúng dường bệnh nhân.
-
Cứu tế người bị nguy nạn, khổ ách.
-
Thiết lập Vô Giá đại hội (1)
(Vô
Giá là khoan dung tất cả, không ngăn cấm. Tiếng Phạn gọi
là Bát Xà Vu Sắc. Là pháp hội dùng tâm bình đẳng thực
hiện tài thí, pháp thí với tất cả thánh hiền, đạo, tục,
sang hèn, trên dưới v.v...Ấn Ðộ thường có phong tục thực
hành hội này. Ở Trung Hoa, triều nhà Lương, vua Võ Ðế niên
hiệu Ðại Thông năm thứ nhất, bắt đầu thực hành và nhân
dân bắt chước làm theo. Chúng ta có thể xem rõ trong bộ Phật
Tổ Thống Kỷ. Trong Ðại Trí Ðộ Luận, quyển 2 nói: “Sau
khi Phật diệt độ 1000 năm, vua A Du Ca thiết lập Nhã Xà Vu
Sắc đại hội”)
Thuyết
thứ hai:
-
Cúng dường Phật.
-
Cúng dường Pháp.
-
Cúng dường Tăng.
-
Cúng dường cha mẹ.
-
Cúng dường sư tăng.
-
Cúng dường người bần cùng.
-
Cúng dường bệnh nhân.
-
Ra cơm bố thí cho súc sanh.
Hai
thuyết phước điền trên chưa thấy rõ trong kinh nào, nhưng
đều có đề cập đến cúng dường bệnh nhân và thấy rõ
phước đức săn sóc, cúng dường bệnh nhân rất lớn.
Thuyết
thứ ba (trong kinh thường đề cập):
Cúng
dường chư Phật, thánh nhân, cha, mẹ, hòa thượng, a xà lê,
chúng tăng, bệnh nhân.
Tám
loại trên vì sao gọi là phước điền?
Vì
nhờ đó mà được lợi ích thù thắng nên gọi Phước. Phước
lợi này từ nơi chư Phật v.v... mà sanh trưởng cho nên gọi
là Ðiền.
Trong
ấy, chư Phật, thánh nhân, chúng tăng gọi là “kính điền”.
Hành giả đối với các Ngài phải khởi tâm cung kính cùng
cực.
Hòa
Thượng, A Xà Lê, cha mẹ là “ân điền”. Hành giả nên
sanh tâm hiếu thuận tột bực.
Còn
bệnh nhân là “bi điền”. Hành giả đối với bệnh nhân
phải khởi tâm Từ Bi rộng lớn.
Trong
ba tâm, Từ tâm là hơn hết. Trong tám phước điền, Bi điền
là phước đệ nhất.
Vì
nhân cứu giúp người bệnh khổ sẽ hưởng thọ quả báo
được an vui, nên người khán bệnh được phước bậc nhất.
Phật
là bậc trời trong cõi trời, bậc thánh trong các thánh, giác
đạo viên mãn, địa vị đã đến cực quả, nên cung kính,
cúng dường sẽ được phước rất lớn. Vì nếu nói về
bất cứ phương diện nào, Phật là bậc đầy đủ vô lượng
vô biên công đức, siêu việt hơn tất cả mọi thường nhân.
Tất cả nhân thiên đều cúng dường Phật, nên chúng ta cung
kính cúng dường ngài là lẽ đương nhiên, ai cũng đều thừa
nhận.
Còn
bệnh nhân nhất là những người không quan hệ với mình,
nếu chúng ta cung cấp cúng dường thuốc men cho họ, nói rằng
có phước đức rất lớn. Ðiều ấy không ai phủ nhận, vì
là việc làm lợi người. Nhưng nếu nói là phước đức bực
nhứt thì không khỏi khiến người có chỗ nghi ngờ. Nhưng
đứng về phương diện chúng sanh mà nói, tất cả sự đau
khổ, không có sự đau khổ nào bằng cái khổ của bệnh nhân
phải cảm thọ. Ðó là thứ đau khổ lớn nhất.
Vì
thế, săn sóc, cúng dường cho bệnh nhân thì phước đức
có được đương nhiên cũng không có phước đức nào hơn.
Vì thế nên gọi là phước điền bậc nhất. Lại nữa, chính
kim khẩu của Thế Tôn dạy chúng ta rằng: “Sau khi Ta diệt
độ, đệ tử của Ta phải cúng dường cho các bệnh nhân
tử tế”. Thế nên, phước điền khán bệnh đương nhiên
là phước điền bực nhất không nên xem thường.
Khán
bệnh đã là phước điền thù thắng tột bực. Nên là một
Phật tử, nếu thấy cha mẹ, sư tăng cùng đệ tử có tật
bệnh, hoặc những người các căn không đủ, hay bị “trăm
thứ bệnh làm khổ não” đều phải theo đúng pháp cúng dường
những bệnh nhân ấy, khiến cho bệnh tật của họ được
chóng lành mạnh.
-
Cha mẹ là người sanh thành dưỡng dục chúng ta.
-
Sư trưởng là người dạy dỗ, dẫn dắt chúng ta.
-
Tăng là người trụ trì chánh pháp của Như Lai, tuyên dương
đạo pháp lợi ích quần sanh.
-
Ðệ tử là những người theo chúng ta tu học, quan hệ với
chúng ta hết sức mật thiết.
Dù
bất cứ người nào trong số các người nói trên bị tật
bịnh, chúng ta cần phải hết lòng chăm nom giúp đỡ, giúp
các bệnh nhân an tâm dưỡng bệnh và mau chóng phục hồi sức
khỏe như trước. Với tình cha con, mẹ con, có sự quan hệ
huyết nhục, nên khi hoạn nạn, săn sóc cho nhau là điều dĩ
nhiên. Còn như tình sư đệ, nhất là trong đạo nghĩa thầy
trò xuất gia, khi có tật bệnh, cần phải săn sóc cho nhau
là một vấn đề trọng yếu hơn hết.
Trong
luật Phật, Ngài từng chỉ dạy: “Ðệ tử đối với Hòa
Thượng phải tưởng như cha mình. Hòa Thượng đối với đệ
tử tưởng như con mình. Cần phải lo lắng giúp đỡ cho nhau
để được an tâm hành đạo, khiến cho chánh pháp được
cửu trụ trong thế gian thì sự lợi ích càng thêm rộng lớn”.
Ðối
với người xuất gia, không có điều gì khẩn yếu lắm, duy
có điều đáng sợ nhất chính là bệnh. Khi bệnh mà không
ai chăm sóc, chiếu cố, thật khổ vô cùng! Ðức Phật đại
từ bi biết rõ việc ấy, nên đặc biệt dạy giữa tình sư
đệ nên săn sóc, lo lắng bệnh tật cho nhau, không được
bỏ qua.
Trường
hợp “các căn không đủ” là sáu căn nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt,
thân, ý có chỗ thiếu sót, tàn tật. “Trăm thứ bệnh khổ
não” là nói thân này do tứ đại hợp thành. Vì vậy thân
này có 404 thứ bệnh. Bốn đại không điều hòa thì 404 thứ
bệnh phát sanh. Bất cứ phát sanh một bệnh nào đều đau
khổ vô cùng. Vì bệnh khổ làm não loạn tâm thần, khiến
cho thân tâm không thể an vui, nên nói là “trăm thứ bệnh
khổ não”. Ðiều này chỉ những người đã bị bệnh mới
có thể cảm thông được một cách sâu xa.
Vì
vậy, Bồ Tát lấy đại bi làm thể, khi thấy người bệnh
phải tùy sức, tùy phần, cung cấp cúng dường các thức uống
ăn, y phục, đồ nằm, thuốc men v.v... Nếu mình không đủ
sức làm được phải tìm cách vận động, xin cứu trợ cho
các bệnh nhân, không được bỏ phế nửa chừng, để cho
bệnh nhân cảm thấy trong lúc nằm trên giường bệnh không
một ai hỏi đến. Như cảnh trạng thế gian thường nói: “Ðau
lâu ngày không có hiếu tử”. Hoặc bỏ mặc kệ bệnh nhân
rên rỉ trên giường bệnh, chịu bao nhiêu thống khổ, cầu
sống không được, muốn chết cũng khó.
Trong
kinh nói chúng sanh sở dĩ bị bệnh, phần nhiều do nghiệp
sát sanh chiêu cảm. Ngoài ra, còn có nhân duyên đặc biệt
chiêu cảm bệnh hoạn như có tâm khinh mạn cha mẹ, sư tăng.
trường hợp tôn giả Xá Lợi Phất là người nhiều bệnh
nhất trong hàng đệ tử của Phật.
Có
người bạch hỏi Phật tại sao tôn giả nhiều bệnh như vậy?
Phật
dạy đó là do trong nhiều kiếp quá khứ thường có tâm khinh
mạn sư trưởng, cha mẹ, mà phải chiêu cảm bệnh khổ như
vậy. Vì thế, người Phật tử đối với sư tăng, cha mẹ
phải đặc biệt tôn kính, cúng dường. Khi các ngài bị bệnh
tật, phải tận tâm săn sóc chăm nom.
Kinh
văn nói cha mẹ, sư tăng là nêu lên những vị thân thiết,
quan trọng; nhưng thật ra, trên từ cha mẹ, dưới đến con
trai, con gái, đồ chúng, giữa là anh em, lục thân, bên ngoài
là oan gia, cừu địch v.v... phàm tất cả người bệnh tật
đều phải cung kính, cúng dường thuốc men, mọi việc không
được thiếu thốn, cho đến lúc họ được lành mạnh hoặc
cho đến lúc nếu họ bất hạnh, qua đời mới thôi.
Làm
một vị Bồ Tát khi thấy cha mẹ, sư tăng, cùng tất cả chúng
sanh bị các thứ tật bệnh xâm nhập nặng nề, thân nằm
trên giường bệnh rên xiết, không thể cử động. Ðáng lẽ
chính mình phải đích thân an ủi hỏi han, cung cấp mọi thứ
cần thiết như thuốc men v.v... không phân biệt người thân
hay sơ, để diệt trừ bệnh khổ cho các bệnh nhân. Nhưng
Phật tử này nếu chẳng những không phát tâm từ bi thực
hành như vậy, lại còn khởi tâm giận hờn, chán ghét, không
chịu săn sóc người bệnh, không đi thăm viếng, đã là một
việc không nên, huống chi lại còn sanh tâm hờn giận!
Nguyên
nhân hoặc là do những lúc bình thường, cha mẹ, sư trưởng
giáo huấn đệ tử nghiêm khắc, rầy la quá nhiều, hoặc đệ
tử lúc bình thường đối với sư trưởng ngỗ nghịch, khinh
mạn. Hoặc vì bệnh hoạn bức ngặt nên bệnh nhân cằn nhằn,
cầu xin thứ nọ, thứ kia v.v... Do đó mới khởi tâm giận
hờn không chịu chăm sóc. Nếu có tâm niệm và hành vi như
thế thì không phải là tư cách của một vị Bồ Tát có đủ
tâm từ bi. Ðối với cha mẹ, sư tăng, chẳng những tuyệt
đối không được đối xử như vậy mà ngay đến những nơi
như chùa tăng, thành ấp, đồng nội, núi rừng, đường sá,
nếu thấy có người bệnh mà không lo cứu giúp cũng đều
phạm khinh cấu tội.
-
Chùa tăng ở đây chỉ nơi ở của sư tăng, đệ tử bị bệnh.
-
Thành ấp là chỉ chỗ ở cha mẹ v.v... bị bệnh.
-
Ðồng nội là chỉ chung các nơi có người bệnh.
Tóm
lại:
Bất
cứ ở trong hay ngoài, nơi nào thấy có người bệnh đều
phải mau đến nơi ấy để săn sóc. Hoặc tự mình cung cấp
mọi phương tiện cần thiết cho bệnh nhân. Nếu không đủ
khả năng thì phải nhờ người khác giúp đỡ, cung cấp cho
bệnh nhân. Như thế mới đúng là một Phật tử có đủ tâm
từ bi.
Nếu
như không có tâm từ bi, thấy người bệnh mà bỏ qua là trái
với tâm hạnh từ bi của Bồ Tát, nên cuối cùng trong kinh
dạy: “Phật tử này phạm khinh cấu tội”.
Kinh
Ngũ Bách Vấn nói: “Nếu Phật tử lúc đi đường trông thấy
bệnh nhân mà không lưu tâm đi đến chăm sóc, không tìm những
phương tiện giúp đỡ, không nhờ cậy, dặn dò người khác
giúp đỡ lại bỏ đi, Phật tử này đắc tội”.
Ðối
với người bệnh ở nơi đường sá, đồng nội còn phải
tận tâm cứu giúp, huống chi cha mẹ, sư tăng, đệ tử của
mình có bệnh, đương nhiên càng phải tận tâm cung cấp, cúng
dường, săn sóc chu đáo. Nếu không hành như thế thì không
thể tránh khỏi tội lỗi.
Trong
Luật có nói rõ: Khi Ðức Phật còn tại thế, có một vì
tỳ kheo mắc bệnh mà không ai chăm sóc thuốc men, cơm cháo.
Vì thế thân thể cùng phòng ở của Thầy vô cùng dơ bẩn.
Khi Phật đi tuần hành xem xét tăng phòng, thấy cảnh tượng
này, Ngài liền lo tắm rửa, thay y phục sạch sẽ cho vị tỳ
kheo, kế đó, lại lau chùi đồ đại tiện, tiểu tiện, quét
dọn phòng nhà, sau cùng dìu đỡ cho vị tỳ kheo nằm an nghỉ.
Ðức
Phật vì thấy người lúc bị bệnh mà không ai săn sóc rất
buồn thảm, đau khổ, nên Ngài đặc biệt chế lập một điều
học xứ như sau: “Từ nay về sau, trong tăng chúng phải chăm
sóc tỳ kheo bị bệnh, cần phải cử người khán bệnh. Nếu
người nào muốn cúng dường cho ta, hãy nên cúng dường cho
bệnh nhân. Cần phải điều trị thuốc men, chọn đồ ăn
thức uống cho phù hợp với bệnh tình, săn sóc giúp đỡ
bệnh nhân cho đến lúc lành mạnh. Nếu không thực hành như
thế, bệnh nhân sẽ phải chết. Nếu thực hành được tức
là bố thí thân mạng, sẽ được công đức rất lớn”.
Theo
điều học xứ Ðức Phật chế định trên, thì Bồ Tát chẳng
những lấy việc cứu độ chúng sanh làm nhiệm vụ, lại còn
phải cứu tế tất cả bệnh nhân. Ðối với những tỳ kheo
sống chung trong một tăng đoàn, khi bệnh phải lo điều trị
thuốc men, cung cấp nhu dụng và săn sóc chu đáo.
Vì
chúng xuất gia đã xa lìa cha mẹ, gia đình, khi bệnh hoạn
nếu không nương nhờ sự săn sóc, lo lắng, điều trị thuốc
men của bạn đồng học, đồng tu thì biết nương nhờ ai?
Biết nhờ ai cung cấp cho mọi nhu dụng cần thiết?
Ðức
Phật vì thầy tỳ kheo bị bệnh, tắm rửa, giặt giũ, dọn
dẹp phòng xá. Việc làm đó là một tấm gương tốt cho chúng
ta noi theo.
Bên
Trung Hoa cũng có những vị cao tăng tận tâm cứu tế bệnh
như trong câu chuyện sau đây:
Triều
nhà Ðường có vị thiền sư hiệu Tứ Nham, cư trú tại núi
Thạch Ðầu, tức Nam Kinh bây giờ. Ngài lập một dịch lệ
nhân xá, chuyên nhận những người bị bệnh dịch lệ (thổ
tả), bệnh ác sang (ghẻ dữ), bệnh cùi... Ngoài việc tận
tâm chăm sóc cho bệnh nhân, Thiền Sư còn dành thì giờ giảng
nói chút ít Phật pháp để an ủi bệnh nhân, giúp họ phát
khởi thiện niệm hướng về ngôi Tam Bảo tu hành, hầu mong
khi bỏ thân bệnh khổ, được vãng sanh về Tây Phương Tịnh
Ðộ.
Gặp
những bệnh nhân máu mủ chảy tràn lan, thiền sư lo giặt
giũ, rửa sạch máu mủ dơ bẩn ấy. Còn khi gặp bệnh nhân
máu mủ không lưu xuất được, đau nhức rên la, Thiền Sư
dùng miệng hút máu mủ, dùng lưỡi liếm cho bệnh nhân. Sự
chăm sóc, lo lắng cho bệnh nhân của thiền sư có thể nói
thật là đem hết tâm từ bi và thân lực của ngài để phục
vụ.
Ðến
niên hiệu Vĩnh Huy nhà Ðường, Thiền Sư viên tịch tại Dịch
Lệ Nhân Xá mà ngài đã lập. Thân thể ngài chẳng những
hoàn toàn không bị truyền nhiễm, mà lúc viên tịch, dung mạo
vẫn tươi đẹp như lúc còn sống, không chút thay đổi. Thi
hài của Thiền Sư để hơn mười ngày, tỏa hương thơm ngào
ngạt lạ lùng. Ðiều này cho thấy công đức chiếu cố, săn
sóc cho bệnh nhân hoàn toàn không uổng phí!
Một
câu chuyện khác:
Triều
nhà Ðường có có thiền sư hiệu Trí Khoan là một cao tăng
nổi tiếng từ bi. Lúc bấy giờ, đối với bất cứ người
nào, ngài cũng dùng tâm từ bi nhu hòa đối xử, nhất là đối
với bệnh nhân. Thái độ từ bi của Ngài đến mức tuyệt
đỉnh.
Khi
có người bệnh, Ngài hoan hỷ săn sóc, chăm nuôi, không phân
biệt tăng, tục, thân, sơ, không kể đường sá xa gần, chỉ
cần biết bệnh nhân không người chăm sóc giúp đỡ là thiền
sư dùng xe ngựa chở bệnh nhân về phòng mình. Tự tay săn
sóc mọi việc không kể ngày đêm, cũng không nhờ người
khác phụ giúp. Gặp bệnh nhân bị ung thư, máu mủ ứ đọng
bên trong, không lưu xuất được, làm đau nhức rên la, Ngài
dùng miệng mình hút máu mủ ra. Vì thế, nhiều bệnh nhơn
được lành bệnh.
Chăm
lo săn sóc bệnh nhân đến mức độ như vậy, có thể nói
là Ngài đã hoàn toàn quên đi bản thân của mình, chỉ nhất
tâm, nhất ý lo phục vụ cho bệnh nhân. Thật vĩ đại và
cao thượng biết bao!
Kết
thành tội Bất Khán Bệnh Giới này cũng cần hội đủ bốn
duyên như sau:
1.
Có bệnh: trường hợp cha mẹ, sư tăng, và tất cả mọi người
quả thật bị bệnh.
2.
Tưởng có bệnh: thân tâm của bạn xác nhận người kia có
bệnh.
3.
Không tâm khán bệnh: Biết rõ người kia có bệnh, nhưng trong
thâm tâm bạn khởi ý không chịu đi trị bệnh, vì hai nguyên
do:
-
Do tâm chán ghét hay sân hận người bệnh, không chịu đi khán
bệnh cho họ. Ðó là do phiền não trong lòng sai khiến, nên
thuộc về tội nhiễm ô trái phạm.
-
Do tánh lười biếng giải đãi mà không chịu đi khán bệnh
cho người, thuộc về tội chẳng phải nhiễm ô trái phạm.
3.Nên
đi khán bệnh mà không khán bệnh: nghĩa là đối với tất
cả bệnh nhân, chí thân như cha mẹ, sư tăng, hay những người
không quen biết khi nghe họ bị bệnh, đều phải lo đi săn
sóc, giúp đỡ, nhưng trái lại không chịu đi khán bệnh cho
người. Tùy trường hợp, nhưng đều kết thành tội khinh
cấu.
Tuy
nhiên cũng có trường hợp không đi khán bệnh mà không phạm
tội như:
-
Chính bản thân mình có bệnh, hoặc không có khí lực để
đi khán bệnh.
-
Hoặc nhằm lúc tinh cần tu tập thiện pháp quảng đại vô
thượng thù thắng.
-
Hoặc trước đó đã hứa cung cấp, săn sóc cho những bệnh
nhân khác nên đối với những bệnh nhân đến sau không thể
chăm sóc, lo lắng thuốc men.
Những
trường hợp này không trái phạm giới.
Ðối
với giới khán bệnh này muốn phán định là phạm hay không
phạm, cần phải xem xét tình hình cụ thể lúc bấy giờ mới
có thể kết luận.
Giới
này tất cả thất chúng Phật tử đều vâng giữ, nhưng giữa
Ðại Thừa và Tiểu Thừa vẫn có chỗ bất đồng:
-
Hành giả Tiểu Thừa chỉ bắt buộc đối với tăng, ni, sư
đồng sống chung trong một chùa, một phòng mới có bổn phận
khán bịnh cho nhau. Ngoài ra, những bệnh nhân không quan hệ,
không đi thăm viếng, săn sóc, an ủi, không nằm trong phạm
vi của giới này.
-
Hành giả Ðại Thừa Bồ Tát thệ nguyện lấy tất cả chúng
sanh làm đối tượng cứu tế nên bất luận thân nhân có
quan hệ hay người dưng không quan hệ. Khi hay tin có người
bệnh, phải gấp rút đi lo lắng, săn sóc giúp đỡ mọi mặt.
Nếu làm lơ, giả như không nghe, không biết, không săn sóc,
an ủi, hỏi han, cứu giúp bệnh khổ cho người, thì thử hỏi
tâm từ bi của Bồ Tát ở chỗ nào?
Phụ
chú:
(1)
Ðến đây, dịch giả bỗng nhớ cách đây gần bốn mươi
năm dịch giả có đọc quyển sử học Việt Nam và nhớ rõ
một bài thơ của các cụ xưa như sau:
Vất
vất, vơ vơ cũng nực cười,
Chăm
chăm chút chút có hơn ai,
Nay
còn chị chị, anh anh đó.
Mai
đã ông ông, mụ mụ rồi.
Chi
bằng láo láo, lơ lơ vậy.
Ngủ
ngủ, ăn ăn nói chuyện chơi.
Dịch
giả còn nhớ theo bài thơ trên, tác giả bộ sách văn học
sử Việt Nam phê bình rằng: Bài thơ quá phóng túng mang lý
tưởng Nho giáo, chứ Phật giáo không bao giờ có phong cách
như vậy.
Vì
Phật giáo bao giờ cũng giác ngộ thân là vô thường, đời
là mộng huyễn, nên luôn chuyên cần tu tập các pháp lành,
không để luống qua tấc bóng vàng ngọc.
Còn
các cụ Nho chỉ nhận thân người là ảo ảnh nên chi bằng
gác bỏ lợi danh, uống rượu, ngâm thơ vui thú qua ngày.
Sở
dĩ dịch giả ghi lại bài thơ này cốt ý muốn quý đại sĩ
nhận chân thân này là gốc khổ đau, mà cũng là một vật
mong manh vô cùng, nên vất bỏ tất cả thế sự, cố gắng
học tập giáo pháp Ðại Thừa, giữ gìn giới hạnh cho tinh
nghiêm, nhứt tâm niệm Phật cầu sanh Cực Lạc thế giới,
để hoàn thành bổn nguyện của một đại sĩ nhập thế độ
sanh.
Nói
là vất bỏ tất cả việc đời, nhưng không phải là không
lo nghĩ đến đời sống tạm, nhưng phải nhận chân đó chỉ
là việc phụ mà thôi.
