B.2.2.11.
QUỐC SỨ GIỚI
(giới
đi sứ cho quốc gia)
Kinh
văn:
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử bất đắc vị lợi, dưỡng ác tâm
cố...” cho đến câu “...phạm khinh cấu tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
là Phật tử thì không được vì quyền lợi và ác tâm mà
đi thông sứ cho hai nước, để họ hiệp hội quân trận,
đem binh đánh nhau, làm cho vô lượng chúng sanh bị giết hại.
Là Phật tử chẳng những không được đi vào hay qua lại
trong quân trận, huống chi lại làm kẻ môi giới cho chiến
tranh. Nếu cố làm, Phật tử này phạm khinh cấu tội.
Lời
giảng:
Ðể
đề phòng sự lợi dụng chiến cụ phát động chiến tranh,
gây cảnh sinh linh đồ thán, Ðức Phật đặc biệt cấm chế
Phật tử không được cất chứa các công cụ chiến đấu
sát sanh. Công cụ chiến tranh còn không được cất chứa,
huống chi chính mình mang sứ mạng thông báo cho hai nước đánh
nhau thì lại càng không thể được. Do đó, Ðức Phật chế
lập giới điều Phật tử không được làm quốc sứ.
Giới
này Bồ Tát tại gia lẫn xuất gia đều phải vâng giữ. Nhưng
Bồ Tát nếu là một vị quan có trách nhiệm đi sứ cho quốc
gia, điều ấy sẽ luận riêng. Còn Bồ Tát xuất gia phải
nhắm vào bổn nguyện lợi sanh. Dù có mối tranh chấp chi phát
sanh, cũng phải lấy lòng từ bi tìm mọi biện pháp để chấm
dứt sự tranh chấp, giúp cho mọi người được sống trong
không khí hòa bình, tránh khỏi thảm kịch chém giết lẫn
nhau. Như thế mới hợp với đạo độ sanh của bậc xuất
gia Bồ Tát.
Trái
lại, nếu đi thông sứ cho hai quốc gia phát khởi chiến tranh,
làm thương hại quá nhiều lương dân vô tội thì tội này
không thể dung thứ được. Ðó là đặc biệt nói về Bồ
Tát xuất gia.
Còn
Bồ Tát tại gia, nếu đảm nhiệm chức vụ ngoại giao, gặp
trường hợp hai nước phát sanh việc tranh chấp, cũng phải
cố giữ chính sách hòa bình. Nếu chưa đến mức cuối cùng
phải khai chiến, sự dàn xếp chưa đến nỗi tuyệt vọng,
quyết không nên buông bỏ cơ hội duy trì hòa bình, phải cố
giữ mối bang giao bình thường giữa hai nước, quyết định
không được khinh thường việc chiến tranh.
Cổ
ngữ Trung Hoa nói: “Nhất ngôn hưng bang, nhất ngôn tán bang”
(một lời nói làm quốc gia hưng thịnh, một lời nói làm
quốc gia suy vong). Ðây không phải là trò chơi, cần phải
suy nghĩ và thận trọng tuyệt đối.
Ðức
Phật dạy đại chúng rằng: “Nếu làm một Phật tử thọ
giới Bồ Tát, đúng lý phải thực hành tâm hạnh từ bi, luôn
để tâm nghĩ đến việc an nguy của nhân loại mà cố hòa
giải mọi sự tranh chấp của các phe pháp đối lập, khiến
cho mọi người được cùng nhau vui sống, mới là hành vi nên
có của một vị Bồ Tát. Tuyệt đối không vì lợi dưỡng
và ác tâm, đi thông sứ cho hai nước, làm cho đại quân hai
nước sắp bày thế trận, để cuối cùng hiệp hội giao chiến,
đem binh đánh nhau, làm cho vô lượng chúng sanh bị giết hại.
Hành giả Bồ Tát nếu đảm nhiệm chức vụ đi thông sứ
cho quốc gia, nếu không thực hiện tình đoàn kết thân hữu,
lại tạo thành cục diện chiến tranh, sẽ không được sự
hưởng ứng của quảng đại quần chúng, lại còn bị phê
bình, chê trách. Vì thế là một hành giả Bồ Tát, đối với
việc đi thông sứ cho hai nước là vấn đề vô cùng bất
lợi, nên đặc biệt lưu tâm”.
Kinh
văn dùng chữ “thông quốc sứ mạng”:
-
Danh từ “thông quốc” nghĩa là mối quan hệ giữa quốc
gia này với quốc gia kia, hoặc quốc gia kia với quốc gia này,
tạo sự quan hệ giữa hai nước.
-
Danh từ “sứ mạng” nghĩa là chỉ nhiệm vụ sứ giả qua
lại giữa hai nước, đem ý kiến của từng vị lãnh đạo
tối cao của hai nước đệ đạt đến từng bên để cho họ
được thấu suốt rõ ràng chủ trương, đường lối của
nhau. Nếu không thể chọn giải pháp “hòa bình tương xử”
thì chỉ có dùng chiến tranh để giải quyết vấn đề, nên
gọi là “sứ mạng”.
Hoặc
là lãnh trách nhiệm đem quốc sách của nước này báo cáo
với nước kia. Hoặc dò xét lực lượng của đối phương
để báo cáo với quốc gia mình, hầu quyết định có nên
tiến hành chiến tranh hay không. Hoặc dùng mưu sách gian xảo,
dối gạt, tư thông tin tức để mưu cầu sự thắng lợi quân
sự cho nước mình v.v... Những việc như trên đều gọi là
“sứ mạng”.
Ði
thông sứ làm cho hai quốc gia giao chiến, chinh phạt lẫn nhau,
khiến người chết thây chất đầy thành, nhân dân bị thống
khổ vì tai nạn đao binh, bên trong trái với lương tâm bình
đẳng từ bi, bên ngoài tổn hại vô số sanh mạng của chúng
sanh, tội ác này thật là rất lớn.
Nguyên
nhân việc đi thông sứ cho hai quốc gia như đã nói trên chính
là vì lợi dưỡng và ác tâm. Vì mưu cầu tài lợi hay địa
vị quan chức, hoặc do sân hận mang tâm niệm báo thù, hoặc
vì muốn chiếm đoạt bảo vật của nước khác, cho nên trong
kinh văn nói “vì lợi dưỡng và ác tâm”.
Ði
thông sứ mạng để bao nhiêu tài lợi thuộc về mình, tất
cả sự tổn hoại đưa đến cho người, thì đâu phải là
tâm hạnh nên có của Bồ Tát?
Có
người cho rằng: “Chính tay tôi không giết người. Nhân dân
vì chiến tranh mà bị chết, bị thương trùng trùng điệp
điệp đâu có quan hệ gì đến tôi!”
Lầm
rồi! Cần phải biết: dù bạn không chính tay làm việc sát
nhân, nhưng mọi người đều vì việc đi thông sứ của bạn
mà bị giết hại. Vậy có thể nói rằng bạn không có trách
nhiệm hay sao?
Vì
thế Nho thư nói: “Dù không phải chính tay ông giết Bá Nhân,
nhưng ông Bá Nhân vì ông mà chết” thì đâu có thể trốn
trách tội lỗi và trách nhiệm ấy?
Nên
Ðức Phật dạy:
Danh
dự cập lợi dưỡng,
Ngu
nhân sở ái nhạo,
Năng
hoại chúng thiện pháp,
Như
kiếm trảm nhân đầu.
Dịch:
Danh
dự và lợi dưỡng,
Người
ngu rất ưa thích,
Phá
hoại các pháp lành,
Như
kiếm chém đầu người.
Như
thế không nên hết lòng thận trọng hay sao?
Ðối
với Phật pháp thuần túy, là Phật tử phải làm sứ giả
của Như Lai, để truyền tâm ấn của Phật. Vì vậy, phải
đem hết binh trí huệ và tướng dũng mãnh, giết hết bọn
ác tặc phiền não, dẹp hẳn ma quân nhiễu loạn, đừng để
cho ác tặc ma quân hoạt động trong thân tâm của mình. Nếu
như chúng nó ngoan cố kháng cự, thì không ngần ngại chiến
đấu với ma quân, giao phong cùng bọn ác tặc để mong thú
hướng đến quả Vô Thượng Giác, san bằng mọi trở ngại,
quyết tâm đạt đến thắng lợi cuối cùng mới thôi. Như
thế mới chứng tỏ được bạn là một vị Phật tử chân
chánh, thực hành Bồ Tát hạnh! Nếu không thực hành đúng
như vậy, mà chỉ vì danh dự, lợi dưỡng cá nhân hay cầu
được thưởng công thì sẽ trở thành một kẻ tà mạng,
trái với đạo Bồ Tát!
Là
một vị Bồ Tát phải luôn giữ tâm từ bi lợi vật, không
được có ác tâm mưu tính điều bất chính, mà gây ra cảnh
“binh liên họa cập, dân bất liêu sanh”.
Tại
sao Ðức Phật cấm ngăn Phật tử đi thông sứ một cách nghiêm
khắc như thế?
Vì
“là một vị Bồ Tát, chẳng những không được tới lui
qua lại trong quân trận, huống chi cố làm giặc cho quốc gia”
(bản Việt văn dịch là “cố làm môi giới chiến tranh”).
Kinh
văn nói “quân trận” là nơi quân đội trú đóng hoặc chỗ
bộ chỉ huy quân đội đồn trú v.v... Phật tử không được
qua lại nơi ấy. Nơi quân lính trú đóng thì chỉ toàn những
việc nghiên cứu phương cách công phạt thành trì, làm thế
nào để đánh bại địch quân v.v... Suốt ngày chỉ chuyên
thảo luận về chiến lược, chiến thuật, không có thời
giờ để đàm luận việc đạo đức tu hành. Thử hỏi bạn
đến nơi ấy để làm gì?
Hơn
nữa, lúc hai bên quân giao chiến, âm thanh sát phạt vang động
đất trời thì một vị Bồ Tát nghe những âm thanh ấy, nội
tâm làm sao yên được?
Lại
nữa, chiến trường là nơi vô cùng phức tạp và ồn ào,
nên tuyệt đối không phải là nơi Bồ Tát nên bước chân
đến. Nếu bạn đến chốn quân trận đang chiến đấu, các
binh sĩ biết bạn là một hành giả Bồ Tát, tu học Phật
pháp, phải lấy từ bi lợi vật làm tôn chỉ. Sự hiện diện
của bạn nơi đó, chẳng những họ không hoan nghinh lại còn
sanh nhiều nghi kỵ, và cho rằng bạn đến để thám thính
quân tình, hay làm gián điệp v.v...
Cổ
thư Trung Hoa có câu: “Binh giả, hung dã” (chỗ binh sĩ đóng
là nơi hung ác). Vì thế, kẻ thế tục thông thường còn không
nên đi vào nơi hung địa, gần gũi với những hung khí, huống
chi là Bồ Tát, luôn lấy việc lợi sanh làm bổn phận?
Cho
nên quân trận không phải là nơi Bồ Tát qua lại. Qua lại
còn không nên, huống chi cố ý đi làm quốc tặc, mang sự
thương hại cho vô lượng chúng sanh?
Nên
biết, chiến tranh một khi phát khởi sẽ gây bao thương tổn
cho nhân dân, mà nhân dân là cội gốc của quốc gia, nên thương
hại nhân dân chính là thương hại cho quốc gia, nên gọi là
“họa quốc ương dân”. Như vậy không gọi là giặc thì
gọi là gì?
Ði
thông sứ cho hai nước là việc không nên làm. Nếu cố ý
làm sẽ phạm khinh cấu tội. Làm quốc sứ không phải là
việc vô can mà có đầy đủ những nhân duyên mưu hại nhau,
nên bất kỳ bạn nói ra một lời, một câu hay làm một việc
chi đều kết thành tội khinh cấu.
Có
nhiều nguyên nhân đưa đến việc đảm nhận nhiệm vụ quốc
sứ. Nếu vì sân hận mà làm quốc sứ thì tội ấy thuộc
về giới Sát. Nếu vì xâm đoạt tài bảo của nước khác
thì phạm tội thuộc về giới Ðạo.
Như
vậy, lẽ ra phải liệt vào căn bổn trọng tội, nhưng vì
sao ở đây chỉ kết tội khinh cấu?
Ðúng
như vậy! Nhưng điều này cần xem ý niệm của bạn lúc ấy
như thế nào. Nếu bạn muốn cho hai nước giao tranh, đem quân
đánh giết nhau. Tùy theo số người chết mà kết căn bổn
trọng tội sát sanh. Nếu bạn muốn đoạt tài bảo của quốc
gia mà khởi binh đi chiếm đoạt, tùy theo số tài bảo đã
lấy được mà kết thành căn bổn trọng tội về giới Ðạo.
Ở đây chỉ là giới ngăn cấm không được đi sứ cho hai
nước, nên chỉ kết tội khinh cấu.
Tuy
nhiên, với Bồ Tát tại gia, nếu vì tâm từ bi thúc đẩy,vì
muốn thuyết phục giới lãnh đạo hai nước bãi bỏ việc
động binh, chấm dứt chiến tranh, lập mối giao hảo với
nhau mà đi làm thông sứ, thì không trái phạm giới này.
Bồ
Tát tại gia, nếu là một quan võ trong quân đội, có trách
nhiệm bảo vệ nhân dân và quốc gia, nên bắt buộc phải
vào trong quân trận, cũng không trái phạm giới này. Nhưng
trong lúc hai bên giao chiến, lại cần phải vận dụng hết
mức tâm từ bi của người Phật tử, bắt buộc địch quân
buông bỏ vũ khí để quy hàng, để khỏi làm thương hại
sanh mạng, tài sản chúng sanh. Nếu đối phương quá tàn bạo,
bất nhân, vì muốn cứu nhân loại cùng chính thân mình, cũng
vì bản tâm từ bi mà phải giết kẻ tàn bạo bất nhân kia.
Lại
nữa, như có người tàn hại nhân loại. Chúng sanh hữu tình
do đó bị thống khổ. Nếu không giết người ác này, thì
hữu tình sẽ bị thảm họa rất lớn và kẻ ác kia sẽ tạo
tội ác càng to. Do đó, tương lai kẻ đó sẽ bị thống khổ
rất lớn. Vì thế Bồ Tát thà giết kẻ ác này, thà tự mình
bị đọa vào địa ngục, không để cho người ấy tạo ác
mà gây ra việc hại mình, hại người. Trường hợp này phải
dùng tâm từ bi mà giết kẻ ác. Ðây không phải là trường
hợp giết một người để cứu muôn người hay sao? Nhưng
đặc biệt là phải có tâm lân mẫn đối với người tạo
ác nghiệp kia. Nghĩa là vì thương xót họ nên phải giết
họ, chứ không phải do tâm sân hận mà giết kẻ ác nhân
ấy. Phải nguyện cho người ấy đừng tạo ác nghiệp nữa,
để khỏi bị đọa vào địa ngục. Dẫu cho chính bản thân
mình vì sự giết người này mà phải đọa vào địa ngục,
thì cũng chấp nhận, không hề do dự mảy may. Việc sát hại
kẻ ác nhân này là một hành vi đạo đức. Và đức hạnh
càng cao, công đức càng lớn, đều là do lòng từ bi vô hạn
tự nguyện hy sinh!
Trên
đây là nói về Bồ Tát tại gia. Riêng Bồ Tát xuất gia nếu
có nhân duyên đặc biệt, được người thỉnh đến trong
quân đội thuyết pháp, hay vào an ủi thương phế bệnh binh.
Trong Luật có khai mở cho phép được qua lại trong quân trận.
Nhưng chỉ một thời gian ngắn độ hai ba hôm mà thôi, không
được thường xuyên qua lại mãi như thế. Hoặc là tự mình
có những nhân duyên đặc biệt khác, cần phải ra vào trong
quân trận, thì cũng không phạm vào chỗ ngăn cấm của giới
này.
Như
trường hợp của Ẩn Phong thiền sư:
Một
lần nọ, Ngài đi đến núi Ngũ Ðài. Ðường đi phải đi
qua tỉnh Hoài Tây, nơi ấy có binh sĩ của Ngô Nguyên Tế ngăn
trở và kháng cự với quân địch. Bấy giờ, hai bên đang
giao tranh rất ác liệt. Người chết rất nhiều mà đôi bên
vẫn chưa phân thắng bại.
Vì
muốn cứu sinh mạng quân sĩ, Thiền Sư bèn dùng cây tích trượng
mình thường dùng hằng ngày phóng vào không trung, đoạn phi
thân bay ngang chỗ hai bên đang giao chiến. Binh tướng cả hai
bên trông thấy tăng nhân phi thân như vậy, biết không phải
là kẻ tầm thường, tâm chiến đấu của họ tiêu tan, khởi
thiện niệm hướng về Phật pháp và binh sĩ bên địch đều
quy hàng.
Lại
như trường hợp của Trần Tôn Giả ở Lục Châu:
Một
lần nọ, Ngài gặp binh sĩ của địch quân bao vây thành trì,
nhân dân trong thành hoảng sợ, bối rối vô cùng. Thiền sư
động mối từ tâm, đặc biệt làm một chiếc dép cỏ rất
lớn, bảo người đem treo cao trên thành.
Ðịch
quân thấy chiếc dép cỏ rất lớn ấy, biết là có bậc chí
nhân thánh đức cư trú trong thành, nên không dám tùy tiện
đánh phá, phải lui binh. Sự nguy khổn của thành nhờ đó
được giải vây, nhân dân được an ổn.
