B.2.2.12.
PHẢN MẠI GIỚI (giới mua bán)
Kinh
văn:
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử cố phản mại lương nhân...” cho
đến câu “...phạm khinh cấu tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
là Phật tử thì không được cố ý bán người lành, tôi
trai, tớ gái, lục súc, buôn bán quan tài, ván cây, đồ đựng
thây chết. Tự mình còn không được phép buôn bán các thứ
ấy, huống chi lại bảo người. Nếu cố tự buôn bán hay
bảo người buôn bán các thứ ấy, Phật tử này phạm khinh
cấu tội.
Lời
giảng:
Vì
cầu lợi dưỡng mà đảm nhiệm chức vụ làm thông sứ giữa
hai nước là việc mà người Phật tử không nên làm. Vì mong
cầu tài lợi ở thế tục, mà hành nghiệp mua bán cũng là
việc người Phật tử không nên làm.
Mua
bán là hình thức đem vốn cầu lời, theo thế thường thì
không có gì là không được. Vấn đề là ở chỗ cần xem
bạn mua bán vật gì? Nếu sự mua bán gây tổn hại cho những
loài hữu tình khác, thì chẳng những Bồ Tát xuất gia không
nên làm, mà Bồ Tát tại gia cũng không nên làm.
Như
việc mua bán nhân khẩu, súc sanh v.v... vì gây tổn hại cho
người, trái với tâm hạnh từ bi nên tuyệt đối không được
làm. Nếu việc mua bán không tổn hại cho hữu tình, đối
với hàng Bồ Tát xuất gia dĩ nhiên không được làm, nhưng
hàng Bồ Tát tại gia có thể làm. Chẳng hạn như mua bán hàng
lụa và các nhu yếu phẩm thường dùng hằng ngày v.v... Vì
việc làm này không tổn hại cho người khác, chỉ vì cần
phải mưu cầu cho việc sinh sống, nên Bồ Tát tại gia không
ở trong vòng hạn chế của giới này.
Kinh
Ưu Bà Tắc có dạy rất rõ như sau: “Phật tử tại gia tu
học Phật pháp, nếu sinh sống với nghề mua bán, khi được
số lợi nhuận nên phân làm bốn phần: một phần hiếu dưỡng
cha mẹ cùng nuôi sống gia đình, một phần cúng dường Tam
Bảo và làm việc từ thiện trong xã hội, một phần làm vốn
liếng để mua bán. Một phần để dành đề phòng khi hữu
sự có việc cần dùng”.
Sở
dĩ Bồ Tát xuất gia không được sinh sống bằng nghề mua
bán vì đấy là lối sống tà mạng, rất dễ bị sự phê
bình, chê bai của nhân sĩ trong xã hội. Vì người xuất gia
đã xa lìa gia đình và vất bỏ tài lợi ở thế gian mà còn
mua bán thì cần chi phải xuất gia?
Sự
phê bình chê bai này chúng ta thường ngh đến, cho nên Ðức
Phật đặc biệt chế định giới điều này. Trong kinh Di Giáo,
Ðức Phật dạy: “Người nghiêm trì tịnh giới không được
mua bán, đổi chác, không được tạo nhà cửa, làm ruộng,
làm vườn, không được nuôi tôi trai tớ gái và súc sanh.
Tất cả việc trồng tỉa và các thứ của báu đều phải
tránh xa như tránh hố lửa”.
Hầm
lửa là nơi rất nguy hiểm, làm táng thân mất mạng, nên mọi
người đều biết và tránh xa. Còn buôn bán, đổi chác cùng
nuôi tôi trai, tớ gái v.v... Sự nguy hiểm cũng như hầm lửa
không khác. Nhưng người đời ít ai biết được để tránh
xa. Vì thế Ðức Phật muốn Phật tử chúng ta, đối với
việc mua bán, đổi chác v.v... phải lánh xa cũng như tránh
hầm lửa, không được thân cận và làm những việc ấy.
Nên
biết rằng: buôn bán, đổi chác... đều vì mong cầu tài lợi
thế tục mà kinh doanh tìm cầu, không khác gì đã ở trong
hầm lửa mà lại thêm củi, khiến cho mình bị lửa nghiệp
thiêu đốt, không cách nào thoát ly ra được. Như thế, không
phải tự mình tìm lấy sự phiền phức cho chính mình và tăng
gia sự thống khổ cho chính mình hay sao?
Vì
mua bán là việc làm tội ác, nên trong Tát Bà Ða Luận đề
cập đến vấn đề này một cách thật nghiêm trọng: “Trên
thế gian này, thà làm người đồ tể giết heo dê, không nên
làm người mua bán để sinh sống”.
Tại
sao vậy? Vì người đồ tể kia chẳng qua chỉ sát hại sinh
mạng loài vật, hoàn toàn không có hành vi gì đem lại sự
bất lợi cho những chúng sanh khác. Nhưng thường một người
buôn bán để sinh sống thì đến nơi nào cũng dối gạt, gây
sự thiệt hại cho người. Tức là vì việc mua bán cần thâu
tiền lời nhiều, nên phải dối gạt mọi người, bất luận
hiền ngu, già trẻ, lớn nhỏ... Khi chúng ta đi mua sắm vật
dụng, người bán hàng thường nói rằng: “Tôi chỉ bán vốn
cho bạn, không lấy tiền lời”.
Nhưng
ta thử nghĩ, nếu quả thực bán theo giá vốn thì người mua
bán cần gì phải chịu cay đắng, cực nhọc ngày đêm? Hơn
nữa, mọi người trong gia đình họ nương vào đâu để sinh
sống. Như vậy, chúng ta thấy rằng những lời của kẻ mua
bán thường giả dối, lừa gạt người, chúng ta không nên
tin.
Ngày
xưa, các thương nhân Trung Hoa có câu châm ngôn: “Ðồng tẩu
vô khi” (ý nói: sự mua bán đối với tất cả mọi người,
già cũng như trẻ đều nên thành thật, không được giả
dối). Thật ra không phải hoàn toàn không có sự thành thật,
nhưng đó chỉ là một thiểu số rất ít.
Tát
Bà Ða Luận nói: “Người mua bán để sinh sống thường ôm
ấp tâm niệm bất lương. Chẳng hạn khi mua bán gạo, trong
tâm chắc chắn mong việc mất mùa, đói kém để số gạo
tồn trữ có thể bán được với giá rất cao, hầu thu được
số lời rất lớn”.
Hoặc
nếu mua bán những mặt hàng nhu yếu phẩm thì hằng ngày trong
tâm lại mong ước các mặt hàng ấy những nơi khác đừng
mang đến thêm, hoặc mong các nơi phát sanh loạn lạc, giặc
giã, để giao thông bị bế tắc. Nhờ vậy, các nhu yếu phẩm
mà họ đang tích trữ sẽ bán ra được với giá rất cao và
họ sẽ thâu được những khoản tiền lời rất lớn. Hoặc
phát hiện món hàng nào trên thị trường khan hiếm, họ sẽ
cố tồn trữ thật nhiều để bán ra với giá thật cao. Hoặc
tiền tệ các nơi bành trướng để họ có thể tự động
nâng cao vật giá v.v... khiến cho người tiêu thụ bị tổn
thất. Tình trạng này luôn xuất hiện ở mọi nơi và mọi
thời điểm, vì những người mua bán đa số đều dùng những
thủ đoạn như vậy.
Việc
mua bán này nảy sinh những tâm lý không tốt như thế, nên
không phải là những hành động của người Phật tử tu học
Phật pháp nên có.
Nếu
mua bán chánh đáng, hợp pháp thì hàng Phật tử tại gia, dù
không tuyệt đối cấm ngăn, nhưng cần phải mua bán trong tinh
thần đạo đức, không được mong cầu số lời cho nhiều,
thiếu hợp lý, không được dối gạt người tiêu dùng, không
được mua bán những hàng giả mà nói là hàng thật. Lúc nào
cũng phải thật thà, hợp đạo đức, thì mới không trái
phạm với giới điều này.
Cho
nên trong Nhiếp Luật Nghi nói: “Nếu Phật tử mua bán mà
không nói thật giá, hoặc giả dối lạm dụng cân, đấu để
dối gạt người, thì phạm tội vọng ngữ, hoặc mua bán mà
lấy tài vật của người thì phạm tội trộm cắp”.
Như
vậy, người Phật tử tại gia tu học Phật pháp làm ngề
buôn bán lẽ nào lại không thành thật hay sao?
Ðức
Phật từ bi thấy rõ tội lỗi của việc buôn bán rất sâu
nặng nên cả Ðại Thừa và Tiểu Thừa, Ngài đều chế định
giới không được buôn bán này. Chúng ta chớ nên xem thường.
Ðức
Phật dạy đại chúng rằng: “Nếu làm một Phật tử đã
thọ Bồ Tát giới, nếu cố ý buôn bán người lương thiện,
tớ trai, tớ gái, hay lục súc, buôn bán quan tài, ván cây và
đồ đựng thây chết, những việc ấy tuyệt đối không được
làm”.
Lương
nhân là những người hiền lành, người tốt. Nếu nói về
nữ giới thì là con gái của những gia đình tử tế, lương
thiện. Nếu bạn dụ dỗ bất cứ người nào của gia đình
người khác, lừa gạt những trai gái trẻ tuổi dắt đi, khiến
cho quyến thuộc của người phải đau khổ vì ly biệt.
Trong
lúc gia đình người đang đoàn tụ, chỉ vì bạn lừa gạt,
dụ dỗ con họ để dắt đem đi bán, khiến những trẻ thơ
ấy mất hẳn sự đùm bọc, thương yêu của cha mẹ, còn cha
mẹ chúng lại bị mất con, xa con. Cả cha mẹ lẫn con cái
đều chịu sự vô cùng thống khổ. Như thế, việc mua bán
người lương thiện này có phải là tội ác hay không?
Lại
nữa, nếu trường hợp bạn bán những trẻ ấy cho người
thiếu nhân từ, thì chúng phải làm tôi mọi, bị sai khiến
cực khổ, làm việc suốt ngày đêm, đôi khi bị đánh đập,
chửi mắng khổ sở v.v... Như vậy việc mua bán này có đúng
hay không? Trên thế gian này, ai là người không có cha mẹ?
Ai là người không có con cái? Ai lại muốn gia đình phân tán?
Ðừng cho rằng trên đời này không có chuyện mua bán con người.
Như
ở Việt Nam thời gian gần đây (lúc Pháp Sư giảng kinh), tại
Chợ Lớn liên tiếp xảy ra việc bắt trẻ em đi bán gây cảnh
“phong thinh hạc lệ” náo động suốt một thời gian (“Phong
thinh hạc lệ” là tiếng gió thổi, tiếng hạc kêu. Khi mình
có điều nghi trong lòng thì nghe gì cũng sợ. Ví như khi đánh
thua trận, nghe gió thổi, hạc kêu mà ngỡ rằng quân giặc
đuổi theo). Nhà nào có con nít đều bận tâm lo sợ. Ðiều
này không phải là truyền thuyết trong nhân gian mà có sự
chứng thực của chánh quyền lúc ấy, vì có bắt được nhiều
phụ nữ có dính dấp đến việc dụ dỗ và bắt cóc trẻ
thơ. Sự kiện dụ dỗ bắt cóc trẻ em đem bán là một hành
vi tội ác rất lớn, nên lúc bấy giờ, có một phụ nữ bị
phát hiện về tội này và đã bị dân chúng đánh chết, và
không một ai biểu lộ sự thương tiếc. Trái lại quần chúng
còn thóa mạ.
Chúng
ta thử tưởng tâm của người làm cha mẹ trong trời đất,
ai lại không thương con? Việc bắt trẻ thơ đem bán là một
hành động tàn nhẫn vô cùng. Ðức Phật biết rõ đây là
một tội ác rất nặng, mọi lúc, mọi nơi đều có thể xảy
ra, cho nên Ngài quy định không được mua bán lương nhân một
cách tuyệt đối và nghiêm khắc, để tránh khỏi sự phạm
tội khinh cấu.
Trên
thế gian hiện thực này, không có một sự kiện nào, dù lạ
lùng mà không có thể xảy ra. Như việc mua bán người lương
thiện là một việc có thực, đã thuật bên trên. Ngoài ra,
còn có những việc đáng buồn hơn nữa. Chẳng hạn việc
buôn bán phụ nữ để làm những việc không chính đáng. Ðiều
này từ xưa đã có, nhưng hiện nay lại càng nhiều hơn. Thời
gian gần đây trên báo chí có đăng tải một tổ chức quốc
tế tại Ðông Nam Á đưa các thiếu nữ đi mãi dâm, nguồn
tin trên đã gây chấn động nhiều nước.
Tập
đoàn buôn bán quốc tế này chiêu mộ các thiếu nữ ở khu
vực Ðông Nam Á, bảo rằng sẽ đưa các cô này đến các
nơi và giới thiệu các cô vào làm trong các ngành hay các cơ
sở kinh doanh. Lại hứa hẹn các cô sẽ được đối xử tử
tế, nhưng khi đến nơi, các thiếu nữ này bị bức hiếp
ép buộc làm vũ nữ hay chiêu đãi viên ở các tụ điểm vui
chơi trụy lạc, thậm chí còn ép buộc các cô phải hành nghề
mại dâm v.v... Những việc làm ấy thật dã man và tội ác
ấy dĩ nhiên là rất lớn.
Buôn
bán tôi trai, tớ gái cũng là buôn bán con người, biến những
thanh niên trở thành kẻ nô lệ, các phụ nữ trở thành đầy
tớ cho người sai khiến. Cuộc sống của họ không bằng thân
trâu ngựa, vĩnh viễn ngậm hờn nuốt tủi trong cảnh tối
tăm, không biết bao giờ có thể vươn lên được đời sống
của một con người đúng nghĩa.
Ðiều
này thường xảy ra trong xã hội xưa, lúc chế độ mua bán
nô lệ còn thịnh hành. Ngày nay, mặc dù việc mua bán nô lệ
không còn nữa, nhưng sự buôn bán người để làm công nô,
nông nô không phải là tuyệt đối không có.
Bồ
Tát phải lấy tâm từ tế làm bản hoài, lấy tâm lợi tha
làm làm chánh vụ. Ðiều duy nhất là làm sao cho người lìa
khổ được vui, không nên tăng gia thêm sự đau khổ cho mọi
người. Nếu vì mong cầu sự lợi ích cho mình mà buôn bán
tôi trai, tớ gái để sinh sống, là một việc tuyệt đối
không được.
“Buôn
bán lục súc” bao gồm sáu thứ gia súc: heo, ngựa, bò, dê,
gà, chó, nhưng ở đây “lục súc” chỉ tổng quát tất cả
súc sanh, tức bất cứ loài động vật nào, hoặc là bay trong
hư không, hay đi trên đất liền hoặc bơi lội dưới nước.
Là
một vị Bồ Tát, không được buôn bán sinh mạng súc sanh
bằng những hình thức mua rẻ, bán đắt. Vì khi bạn mua sinh
mạng sống của súc vật, đem bán lại cho kẻ khác, chính
là tạo điều kiện cho người giết hại chúng, khiến chúng
phải lâm vào thảm cảnh bị cắt cổ, nhổ lông, lột da v.v...
trong nước sôi hay trên lửa nóng.
Vì
thế, Bồ Tát xuất gia lẫn tại gia không được buôn bán
sinh mạng lục súc để khỏi phạm tội khinh cấu.
Riêng
những Phật tử tại gia nuôi trâu bò... để cày bừa, không
phải để mua bán thì không phạm giới này. Nhưng phải nuôi
chúng tử tế cho đến khi già chết, không được chỉ nuôi
chúng lúc còn mạnh khỏe để bắt làm việc, đến lúc chúng
già yếu, đau bệnh thì đem bán. Nếu bán tức phải phạm
tội.
Hai
chữ “thị dịch” trong kinh văn chỉ việc mua bán, đổi
chác nơi chợ búa, trên thị trường. Bồ Tát tại gia không
phải hoàn toàn không được buôn bán. Còn buôn bán quan tài,
ván cây, đồ đựng thây chết thuộc về phạm vi Ðức Phật
cấm chế không cho phép.
Quan
tài khác với ván cây như thế nào?
Quan
tài do dùng ván cây để đóng thành. Ván cây là thứ ván chưa
làm thành quan tài, cho nên cũng có thể nói: quan tài chính
là ván cây, ván cây tức là quan tài.
“Ðồ
đựng thây chết” tức là hòm, rương, quan quách, xe chở
các tử thi, hay hộp, bình, lu, hũ v.v... bằng sành đựng xương
tử thi. Tại sao Phật không cho mua bán các thứ này?
Vì
đó là việc làm của những người chiên đà la, không phải
là việc nên làm của hàng Phật tử. Vả lại trong Phật giáo,
đối với người chết chỉ dùng ba cách mai táng là: hỏa
táng, thủy táng, và thi lâm táng, không cho dùng đồ để đựng
thây chết, huống chi là cho buôn bán làm việc phi pháp.
Việc
buôn bán là đem vốn cầu lời, tại sao cho là phi pháp?
Chú
ý là buôn bán quan tài, ván cây cũng vì mong cầu sự sống
được đầy đủ, dồi dào nên trong thâm tâm dù không lưu
ý vẫn sanh ác niệm mong cho có nhiều người chết. Vì số
người chết càng nhiều thì việc buôn bán càng đắt, và
cuộc sống của bạn càng thêm sung túc.
Như
những lúc bệnh dịch hoành hoành thì việc buôn bán quan tài
ở các trại hòm được thịnh vượng. Trường hợp nếu biện
pháp vệ sinh và phương tiện thuốc men đầy đủ chu đáo,
trải qua thời gian rất lâu không có người chết thì trại
hòm sẽ ế ẩm, lạnh tanh. Vì thế, người buôn bán quan tài
muốn có nhiều người chết để trại hòm của họ được
buôn bán chạy. Thử hỏi tâm lý đó có phải là tâm niệm
của một vị Bồ Tát hay không? Nếu làm việc buôn bán như
thế, nói một cách nghiêm trọng một chút, thì đồng với
tội trộm cắp và sát sanh. Vì thế, Ðức Phật cấm chế
Tăng cũng như Tục, không được sinh sống bằng nghề buôn
bán quan tài.
Một
hành giả Bồ Tát chân chánh, điều duy nhất là đem tài, pháp,
bố thí cho tất cả chúng sanh, sao lại ôm ấp tâm niệm tham
cầu trong tâm và bên ngoài làm việc phi pháp? Như thế là
mưu sống một cách hèn hạ và là một việc hết sức tổn
hại, tạp nhiễm, không còn việc nào tệ hại hơn. Vì thế
nên phải nghiêm cấm việc mua bán quan tài.
Chẳng
những tự mình không nên làm, cũng không được bảo người
khác làm, cho nên kinh văn dạy tiếp: “Còn không được tự
mình buôn bán các thứ ấy, huống là bảo người làm”. Câu
này rõ ràng dạy chúng ta không được chính mình hay bảo người
khác làm. Vì bổn phận của Bồ Tát đối với hai hạnh tự
lợi, lợi tha, luôn phải lấy hạnh lợi tha làm điều kiện
tiên quyết, cho nên kinh văn nêu “tự mình” để đối chiếu
với “người”.
Bảo
người khác làm là thế nào? Là bảo người khác hoặc thay
mình làm việc buôn bán quan tài, tức là thuê người ấy làm
việc buôn bán, hoặc xúi người làm việc buôn bán tức là
đứng ra làm chủ trại hòm.
Dù
tự mình hay bảo người khác làm đều mang tội, cho nên cuối
cùng kinh văn kết thúc: “Nếu cố tự buôn bán hay bảo người
buôn bán các thứ ấy, Phật tử này phạm khinh cấu tội”.
Ở
đây, có một điều chúng ta cần phải biết: tội nặng nhất
là buôn bán lương nhân, kế đó là bán tớ trai, tớ gái,
tội nhẹ hơn là buôn bán lục súc cùng tất cả động vật.
Ðó là căn cứ vào sinh mạng của chúng sanh mà nói.
Còn
căn cứ vào tâm niệm muốn cầu tài lợi cho nhiều, nên đem
người và vật bán cho kẻ ác, khiến chúng sanh bị thống
khổ cùng cực, tội này nặng vô cùng. Sở dĩ ở đây nói
tội buôn bán lục súc là nhẹ vì căn cứ vào động cơ thúc
đẩy sự mua bán mà nói. Cho nên tuy đều là sự mua bán, nhưng
phạm tội có khinh, có trọng không đồng, không nên một mực
mà luận.
Như
trên đã nói, vì mong cầu tài lợi mà mua bán là việc không
được làm. Nhưng nếu mua các loại tôm, cá, chim v.v... để
phóng sanh thì chẳng những không phạm giới này mà lại còn
có công đức rất lớn. Hoặc mua quan tài, ván cây v.v... tích
trữ để bố thí cho người bần khổ trong khi chết, không
có phương tiện chôn cất, cũng không phạm tội, lại có công
đức rất lớn.
Theo
các kinh luật Tiểu Thừa, vì muốn kiến lập ngôi Tam Bảo
để chuyên tâm tu trì, có thể khai giới cho phép xuất gia
được nuôi người lành, tôi trai, tớ gái, hoặc bò, trâu
v.v... để sử dụng, nhưng hoàn toàn không được mua bán.
Nhưng điều này cũng chỉ khai mở cho ngũ chúng xuất gia, ngoài
ra mọi trường hợp khác đều không được phép. Còn nếu
như vì lợi ích cho chúng sanh gặp trường hợp đó, cứ mua,
cứ bán tự nhiên, không thành vấn đề.
