B.2.2.13.
BÁNG HỦY GIỚI (giới hủy báng)
Kinh
văn:
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử dĩ ác tâm cố” cho đến câu “..phạm
khinh cấu tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
Phật tử do ác tâm, đối với người lương thiện, Pháp Sư,
sư tăng hoặc quốc vương và hàng quý nhân, vốn vô sự mà
hủy báng rằng chư vị phạm bảy tội nghịch, mười giới
trọng. Ðối với cha mẹ, anh em, lục thân phải có lòng từ
bi, lòng hiếu thuận, trái lại, nếu vu khống rằng quý vị
này phạm tội nghịch, đọa nơi tam ác đạo, Phật tử này
phạm khinh cấu tội.
Lời
giảng:
Trong
mười giới trọng ở trước có ba giới:
-
Rao nói lỗi tứ chúng.
-
Giới khen mình chê người.
-
Giới hủy báng Tam Bảo.
Dù
bất cứ trường hợp nào đều không được hủy phạm. Muốn
giữ gìn ba giới vừa kể trên được thanh tịnh, đừng trái
phạm, trước tiên, bạn cần phải xem kỹ trong giới sắp
giảng sau đây:
Vì
giới này chính là để giúp cho sự phòng hộ ba giới trên
mà chế lập. Nên biết, đối với người lương thiện, chúng
ta cần phải hết lòng ái hộ, giúp cho quý vị ấy tiến bước
trên đường hướng thượng, hướng thiện không gián đoạn.
Không
nên gán ghép cho quý vị ấy những tội không có thật, khiến
cho họ bị não loạn, không thể an tâm tu tập pháp lành. Vì
muốn tránh xa tội lội não loạn người lương thiện, cho
nên không được tùy ý hủy báng người khác.
Thế
nhân thường nói: Việc xấu trong nhà đừng đem phô bày cho
người ngoài biết. Dù là việc có thật cũng không nên tùy
tiện nói bậy bạ, huống chi là những việc hoàn toàn không
thật có, mà lại cực lực đi hủy báng người.
Phật
pháp lưu hành ở thế gian để làm gì?
Mục
đích chính là mong cho mọi người đều phát tâm tín thọ
Phật pháp. Mà muốn cho mọi người phụng hành Phật pháp,
phải thường giữ gìn tôn nghiêm phong cách của tăng chúng,
để được mọi người trong xã hội kính trọng và tín phụng.
Nếu
như hàng Phật tử ăn no, không có việc gì làm, chuyên đi
nói chuyện xấu lẫn nhau, khiến cho người đời cảm thấy
trong Phật pháp không có người nào tốt đẹp, thì thử hỏi
làm sao có thể khiến người đời đều tín phụng Phật pháp?
Vì muốn giữ gìn sự tôn nghiêm trong Phật pháp, vì không
muốn cho các tầng lớp nhân sĩ trong xã hội có ấn tượng
không tốt đối với Phật tử, nên cần phải tránh xa sự
hủy báng này. Ðiều này mỗi Phật tử cần phải đặc biệt
xem trọng.
Lại
nữa, chúng ta không nên cho rằng không cần phải gìn giữ
lời nói, vì chỉ tùy tiện đôi chút cũng chẳng hề gì. Ý
nghĩ ấy hoàn toàn sai lầm, nên biết: hiện tại nếu bạn
hủy báng người khác, dù họ có bị tổn hại hay không, nhưng
riêng bản thân bạn, do tội hủy báng người, tương lai chắc
chắn phải chiêu cảm lấy quả báo không tốt và chính bản
thân bạn phải gánh chịu, không ai có thể chịu thay cho bạn
được.
Vì
thế, chúng ta không nên hủy báng ai, chẳng những để gìn
giữ danh dự cho người, mà cũng là vì tránh cho mình khỏi
bị chiêu cảm quả báo xấu. Sự hủy báng đem lại sự bất
lợi cả người lẫn mình.
Cho
nên, là một Phật tử, phải luôn tự khắc kỷ, phải giữ
gìn giới này thật nghiêm cẩn, không nên khinh thường mà
hủy báng người.
Hai
chữ “hủy báng” cổ đức giải thích:
-
Chê bai, rao nói tội lỗi của người mà không có bằng chứng
cụ thể gọi là báng.
-
Phá hoại danh dự, đức hạnh của người gọi là hủy.
Là
vị Bồ Tát phải lấy tâm từ bi làm bản hoài. Cần phải
tán thán nhau khiến cho pháp môn ngày một thêm rạng rỡ và
thắng đức của chúng tăng ngày càng một thêm biểu hiện
ra. Như thế mới là hợp đạo lý.
Thông
thường nói: “Muốn cho Phật pháp hưng thạnh, không ngoài
Tăng tán thán Tăng” chính là ý này.
Vì
Tăng tán thán Tăng là biện pháp tốt nhất, khiến đức hạnh
của Tăng càng được biểu lộ ra ngoài. Nếu không làm như
vậy, trái lại, còn chê bai các bậc hiền thiện. Bên trong
không có tâm hổ thẹn, bên ngoài bị tiếng xấu chê bai.
Ðối
với Phật pháp gây một sự tổn hại rất lớn, đối với
người bị hủy báng thì xem như bị vố nặng vì sự đả
kích kịch liệt. Giới này ngăn cấm việc hủy báng người
khác.
Như
thế, nếu đem so sánh với giới thứ sáu trong mười giới
trọng là giới “rao nói tội lỗi của tứ chúng” thì có
sự khác biệt như thế nào?
Có
người phân biệt đơn giản rằng:
-
Bất luận có căn cứ vào sự thật hay không, đối với người,
chủ yếu là bạn không cùng đạo pháp, nếu hủy báng, rao
nói tội lỗi của người sẽ sanh ra tai hại vô cùng tận,
nên phạm căn bổn trọng tội (xem trong giới “rao nói tội
lỗi của tứ chúng”)
-
Ðối với đồng đạo, nếu bạn hủy báng, rao nói tội lỗi
của người, không luận là kẻ ấy cao hay thấp, hay người
ấy có thọ giới hay không thọ giới. Vì sự rao nói ở trong
phạm vi nội bộ, không phu dương ra cho người ngoài biết.
Sự tổn hại do đó không rộng lớn lắm, nên chỉ phạm tội
khinh cấu.
Có
người lại cho rằng:
-
Giới trọng thứ sáu ngăn cấm việc rao nói tội lỗi tứ
chúng mà theo văn giới nói đó là những lỗi có thật. Còn
giới này răn cấm việc vốn vô sự mà hủy báng người,
theo kinh văn, thì đó là những người lương thiện, các Pháp
Sư v.v... Như thế cả hai giới đều không cần phân biệt
rằng người bị rao nói tội lỗi có giới hay không có giới.
Nhưng về phương diện đạo lý giảng giải thì cần phải
có đủ.
-
Lại nữa, nếu vì tâm mong cầu cung kính, lợi dưỡng và khen
mình, chê người mà đi hủy báng người khác thì phạm căn
bổn trọng tội, không phải là tội khinh cấu.
Trong
Du Già Bồ Tát Giới có nói rõ về việc này: “Nếu chư Bồ
Tát vì muốn tham cầu lợi dưỡng, cung kính mà tự khen mình,
chê người, tức là phạm pháp Tha Thắng Xứ thứ nhất”.
Nếu
không phải vì mong cầu lợi dưỡng, cung kính mà hủy báng
người thì phạm tội khinh cấu, không phải tội trọng. Trong
Du Già Bồ Tát Giới nói: “Nếu chư Bồ Tát an trụ tịnh
giới luật nghi của Bồ Tát, đối với người khác có tâm
nhiễm ái, sân hận, khen mình, chê người, thì phạm tội nhiễm
ô trái phạm, vì có chỗ trái nghịch”.
Ở
đây, còn có một vấn đề cần phải giảng giải:
-
Ðối với pháp Thanh Văn, nếu hủy báng người về những
tội không có thật, mà chỉ do vu khống thì nặng hơn rao nói,
hủy báng người thật sự có tội.
-
Với pháp của Bồ Tát thì trái lại, nghĩa là tội rao nói,
hủy báng việc ác của người, nếu đó là tội ác có thật
thì phạm căn bổn trọng tội. Nếu đó chỉ là tội không
có thật thì phạm tội khinh cấu.
Ðây
là nghĩa thế nào? Nên biết: chỉ thú của giới pháp Thanh
Văn là nhằm để giữ gìn cho chính mình, tránh sự gây tạo
tội lỗi, nên lập những điều cấm chế. Vì vậy, nếu hủy
báng những tội lỗi không có thật của người khác thì mang
tội rất nặng. Nhưng nếu rao nói tội lỗi có thật của
người thì tội ấy tương đối nhẹ hơn. Vì đó là những
việc có thật, không phải trường hợp vu khống bậy bạ.
Còn
chỉ thú của giới pháp Bồ Tát là nhằm tránh sự tổn hại
cho người khác mà đặt ra những điều ngăn cấm. Do đó,
nếu đem những tội lỗi có thật của người đi rao nói,
phô bày cho mọi người biết thì có thể làm cho người ấy
bị tổn hại rất lớn, có thể lâm vào tình trạng không
thể nào hiện diện trước mặt mọi người, cũng như không
còn cơ hội ngóc đầu lên được.
Trong
trường hợp rao nói, hủy báng những tội lỗi không có thật
của người thì một mai đến lúc “nước ròng đá hiện”,
mọi nỗi oan ức của họ có thể được rửa sạch. Do đó,
sự tổn hại không đến nỗi phải vĩnh viễn cam chịu, nên
mức độ cấm chế, khinh, trọng không đồng.
Ðức
Phật dạy đại chúng rằng: “Nếu là một Phật tử đã
thọ giới Bồ Tát, lại sanh ác tâm đối với người lương
thiện, Pháp Sư, sư tăng hoặc quốc vương và hàng quý nhân,
vốn vô sự mà đi hủy báng chư vị là phạm bảy tội nghịch,
mười giới trọng. Ðiều này tuyệt đối không được. Một
khi đã ôm ấp tâm niệm hủy báng người, thì nhất định
không bao giờ có tâm niệm tốt. Cho nên việc chê bai, hủy
báng, dù phát xuất từ khẩu nghiệp, nhưng sự thật là do
nơi tâm ý sai khiến, tức là ác tâm sanh khởi chuyện hủy
báng”.
Ác
tâm dù có nhiều hình thức, nhưng chánh yếu không ngoài ba
độc Tham, Sân, Si:
-
Nếu do danh lợi mà hủy báng tức do Tham tâm.
-
Nếu do túc oán cừu thù hiện tại, sanh ra tật đố mà hủy
báng, tức là do Sân tâm.
Mà
Tham, Sân đều không lìa Si, vì thế tam độc là nguyên nhân
sanh khởi việc hủy báng.
Do
tam độc phát khởi nên đi hủy báng người. Chẳng những
vì muốn mong cầu danh dự, lợi dưỡng cho cá nhân mình, mà
còn chủ yếu là muốn phá hoại danh dự, lợi dưỡng của
người. Ngoài ra, còn có những trường hợp vì tranh thủ đồ
chúng, quyến thuộc cho đông mà đi hủy báng người.
Mọi
người thường có quan niệm sai lầm khi cho rằng: nếu không
rao nói tội lỗi của người, không làm cho kẻ ấy mất hết
tất cả giá trị thì danh lợi không về phần mình, mà đồ
chúng cũng không theo mình. Thế nên chỉ cần rao nói tội lỗi
của người liên tục để cho tín đồ biết rằng con người
của kẻ ấy ngập đầy tội ác, tự nhiên đồ chúng sẽ
ly khai người ấy mà đến với mình và mình mới có thể
thâu tóm toàn bộ danh và lợi.
Vì
tranh giành quyến thuộc và đồ chúng mà rao nói, hủy báng
người khác một cách quyết liệt, tình trạng này ở thế
gian hiện thực, có thể nói, đâu đâu cũng đều xảy ra như
vậy. Chẳng những người không có địa vị cần hủy báng
người có địa vị, mà ngay chính người ở địa vị cao
tột đỉnh cũng vẫn cực lực hủy báng người khác không
buông tha.
Rao
nói người khác việc này không đúng, việc kia không đúng,
như thể dưới gầm trời này chỉ có cá nhân họ là người
tốt bậc nhất. Thật hết sức sai lầm! Vì họ không biết
rằng đôi mắt người đời cũng rất tinh xảo và sáng suốt.
Ai là người tốt, ai là kẻ xấu, mọi người đều có thể
biết rõ ràng, không ai có thể bịt tai, che mắt mọi người
trong thiên hạ được.
Vì
thế, điều hiển nhiên và hiện thực trong xã hội này là:
càng mong đồ chúng, quyến thuộc đông nhiều bằng cách liên
tục đi hủy báng kẻ khác, đến khi tướng mạo hung dữ bị
bộc lộ, mặt nạ bị lột xuống, chẳng những người ấy,
lúc bấy giờ, không thể thu hút được đồ chúng, quyến
thuộc đông đảo, mà trái lại, còn bị mất tất cả đồ
chúng, quyến thuộc sẵn có của mình. Và chẳng những không
thâu được nhiều danh dự, lợi dưỡng, còn bị lan truyền
tiếng xấu mọi nơi. Việc này không phải là hiện báo của
tội hủy báng hay sao? Ðến như vì tật đố những bậc hiền,
ganh ghét người tài năng mà đi hủy báng họ, đều là phát
xuất từ nơi ác tâm.
Ba
chữ “vô sự báng” (bản Việt văn dịch là “vốn vô sự
mà hủy báng”) là nói người hủy báng sự thật không phạm
giới, và kẻ hủy báng cũng không căn cứ vào ba điều thấy,
nghe và nghi mà kết tội. Chẳng qua là do vọng tâm mà sanh
ra hủy báng người ấy mà thôi.
Căn
cứ vào nghĩa của ba chữ “vô sự báng”, ta có thể thấy
rõ dụng tâm bất lương của người hủy báng. Vì người
bị hủy báng kia thật sự không có làm những điều mà bạn
hủy báng. Hoặc đôi khi cho dù bạn nghe người khác nói những
điều không căn cứ để hủy báng họ, bạn lại không chịu
tìm hiểu, tra xét cặn kẽ, cứ nghe thiên hạ nói, mình cũng
nói theo, tức là tùy tiện phụ họa mà nói càn. Tất cả
các trường hợp này đều thuộc về tội hủy báng, rao nói
tội lỗi của người.
Chính
vì vốn vô sự mà đi hủy báng người khác, tức là hủy
báng không căn cứ, theo luật Thanh Văn thừa, tội này thuộc
về tội Tăng Tàn.
Sự
tích như thế này:
Lúc
bấy giờ, đức Thế Tôn ngự tại non Kỳ Xà Quật. Khi ấy,
tôn giả Ðạp Bà Ma La Tử (Luật Ngũ Phần gọi là Ðà Bà
Lực Sĩ tử, luật Thập Tụng gọi là Ðà Khiên Luật Sĩ tử.
Kinh Giới Nhân Duyên gọi là Ðà Khiên Mạt Lợi Tử, luật
Tăng Kỳ gọi là Ðà Phiên Ma La tử. Trong Tỳ Nại Da gọi
là Thật Lực Tử) là một vị thái tử nước Ba Ba, xuất
gia lúc bảy tuổi. Khi cạo tóc rớt xuống đất, liền thành
A La Hán.
Do
vì nhân duyên vào thời quá khứ xa xưa, Ngài thường cúng
dường một vị Bích Chi Phật. Nương nơi phước lực ấy,
thường được sanh trong nhà giàu sang, hưởng thụ sung sướng.
Vào
thời Ðức Phật Ca Diếp xuất thế, tôn giả xuất gia tu hành,
làm người phân chia ngọa cụ, phòng xá cho chúng Tăng. Vào
thời đó, tôn giả đã phát hoằng thệ nguyện.
Ðến
khi Bổn Sư Thích Ca xuất thế, tôn giả xuất gia tu hành, chứng
đạo quả xuất thế và là người chia ngọa cụ, phòng xá
cho chúng tăng.
Do
nhân duyên ấy, sau khi tôn giả chứng quả A La Hán, lúc bảy
tuổi. Ðến năm 20 tuổi, thọ Cụ Túc Giới. Tôn giả nghĩ
thân này vô thường, cần phải vun trồng phước điền mới
là pháp bền chắc, liền nguyện làm việc chia phần các ngọa
cụ cho chúng tăng và sắp đặt chúng tăng theo thứ lớp đi
thọ trai ở các nhà Ðàn Việt.
Sau
khi tôn giả phát nguyện, chúng Tăng tác pháp bạch nhị Yết
Ma để cho tôn giả được thực hành theo ý nguyện. Tôn giả
phân chia ngọa cụ, sắp đặt phòng xá rất là chu đáo và
khéo léo.
Lúc
đêm tối Ngài không cần đèn vì nơi mỗi đầu ngón tay của
tôn giả thường phóng ánh sáng soi thấy tất cả đồ vật
lớn nhỏ, nệm gối v.v... cho đến đồ đại tiện, tiểu
tiện, thậm chí hướng dẫn người đi đến nơi đại tiện,
tiểu tiện.
Về
việc sắp đặt chỗ ở cho chúng tăng, tôn giả luôn sắp
xếp những người cùng tánh ý ở chung với nhau. Chẳng hạn
như Pháp Sư ở chung với Pháp Sư, người trì luật ở chung
với người trì luật, thiền sư ở chung với thiền sư. Người
thích ngồi gò mả ở chung với người thích ngồi gò mả.
Người thích ngồi nơi cội cây ở chung với người ngồi
dưới cội cây. Cho đến người đa văn ở chung với người
đa văn... khiến cho thập phương chúng Tăng rất an nhiên, thích
ý mà tu hành.
Vì
thế, Ngài thường được đức Thế Tôn tán thán: - Trong hàng
đệ tử của Ta, người phân chia ngọa cụ cho chúng tăng,
Ðạp Bà Ma La Tử là người đệ nhứt.
Bấy
giờ, có một tỳ kheo tên Từ Ðịa, từ nơi khác đến thành
La Duyệt. Lúc ấy đã quá nửa đêm, tôn giả Ðạp Bà Ma La
Tử tùy theo thứ lớp thượng hạ mà phân chia phòng xá và
ngọa cụ. Và vì tỳ kheo Từ Ðịa đến chùa lúc đó đã
quá khuya, mọi vật dụng phòng xá tốt đã phân chia cho mọi
người, nên tỳ kheo chỉ nhận được những thứ xấu. Tỳ
kheo này bèn sanh tâm sân hận, cho rằng Ðạp Bà tôn giả có
tâm phân biệt, đối với người mình ưa thích thì cấp cho
phòng xá, đồ dùng tốt; người không ưa thích thì cấp cho
đồ xấu.
Việc
đời lắm cảnh trớ trêu, đêm ấy vừa qua thì sáng ngày
hôm sau, tôn giả phái chúng tăng đến nhà thí chủ thọ trai.
Bấy giờ, trong thành có người Phật tử mỗi năm thường
phát nguyện sắm thức ăn ngon quý nhất trên thế gian để
cúng dường chúng Tăng.
Từ
Ðịa tỳ kheo cũng theo thứ lớp được phái đến nhà Phật
tử này thọ trai. Nhưng Phật tử ấy vừa nghe tin có Từ Ðịa
tỳ kheo đến nhà mình thọ trai, liền nghĩ rằng: “Thầy
ấy là người giới hạnh không thanh tịnh, không xứng đáng
được tiếp thọ thức ăn ngon quý của ta cúng dường”.
Liền bảo tỳ nữ đem tọa cụ xấu trải ngoài cửa và cất
hết đồ ngon quý, chỉ mang thức ăn dở ra bố thí cho Từ
Ðịa tỳ kheo.
Lúc
ấy, Từ Ðịa tỳ kheo bị thọ thức ăn dở, không biết là
do ý thí chủ, lại nghĩ Ðạp Bà tôn giả có quỷ kế gạt
thầy đến nhà thí chủ này để thọ thức ăn dở, nên đối
với tôn giả Ðạp Bà, thầy càng sanh tâm sân hận. Thầy
cho rằng tôn giả có tâm sân ái, người nào ưa thích thì
chia phòng và ngọa cụ tốt; còn đối với thầy vì không
ưa thích nên chia phòng xấu, lại còn sai đến thọ dụng đồ
xấu dở. Tại sao đối với chúng Tăng lại đối xử có tâm
sân, ái, phân biệt như vậy?
Từ
Ðịa càng nghĩ càng tức giận, càng tưởng đến càng buồn
rầu. Ông bị phiền não, sân hận ràng buộc, ngăn chướng,
ngồi đứng không vui. Lúc ấy, em gái của thầy là Di Ða La
tỳ kheo ni đến vấn an và đảnh lễ. Từ Ðịa không thèm
ngó và cũng không thèm đáp. Tỳ kheo ni thưa rằng: “Bạch
đại đức! Tôi có lỗi chi mà hôm nay đến vấn an và đảnh
lễ, đại đức không thèm ngó cũng không thèm đáp?”
Từ
Ðịa đáp rằng: “Tôi cần gì phải nói với cô, tôi bị
Ðạp Bà Ma La Tử xúc não mà cô làm lơ không giúp tôi”.
Tỳ
kheo ni thưa: “Ðại đức muốn tôi làm phương tiện chi để
Ðạp Bà Ma La Tử không xúc não đại đức?”
Tỳ
kheo liền bảo em gái mình dùng pháp Ba La Di không có căn cứ,
vu báng tôn giả. Tỳ kheo ni vì kính mến anh mình, nên vâng
lời chỉ giáo, nhân lúc Ðức Phật và tỳ kheo tăng tập họp,
cô đến trong đại chúng nói rằng: “Ðạp Bà Ma La Tử xúc
phạm tôi. Tôi thành kính yêu cầu chúng Tăng hòa hợp làm
phép diệt tẫn tôn giả, để về sau tôi khỏi bị thầy ấy
tìm đến phá rối”. Lúc đó, tôn giả ngồi cách Phật không
xa. Ðức Phật biết rõ chuyện, nhưng cố ý hỏi rằng: “Sự
việc ấy rốt ráo như thế nào? Ðạp Bà, ông nên ở trong
đại chúng nói rõ!”
Tôn
giả bạch rằng: “Kính bạch Thế Tôn! Từ khi mới sanh đến
nay, con nhớ rất kỹ, dù ở trong giấc mộng cũng không bao
giờ làm hạnh bất tịnh, huống chi khi thức mà lại đi làm
hạnh bất tịnh?!”
Ðức
Thế Tôn tra hỏi Từ Ðịa tỳ kheo và xét biết lý do vì sân
hận mà Từ Ðịa đem pháp Ba La Di vô căn cứ vu báng cho tôn
giả Ðạp Bà Ma La Tử, và tỳ kheo ni Di Ða La vì nghe lời
anh mà tự nói tôn giả phạm tội phải diệt tẫn.
Khi
đã biết rõ nguyên nhân, Thế Tôn dùng nhiều phương tiện
và ngôn từ quở trách Từ Ðịa tỳ kheo, lại bảo các tỳ
kheo rằng:
-
Trong thế gian này có hai hạng người quyết phải đọa địa
ngục:
1)
Thứ nhất, không giữ phạm hạnh, tự nói là mình giữ phạm
hạnh.
2)
Thứ hai, nếu đối với người thật sự giữ gìn phạm hạnh
mà đem pháp chẳng phải phạm hạnh vô căn cứ đi vu báng.
Lại
trong Thập Tụng, quyển 4; Tỳ Nại Da quyển 11 và Luật Ngũ
Phần quyển 3 đều nói: “Ðức Phật dùng các thứ phương
tiện, ngôn từ quở trách Từ Ðịa tỳ kheo rằng: - Ông là
người ngu si! Tại sao dám dùng pháp Ba La Di vô căn cứ vu báng
cho vị tỳ kheo phạm hạnh thanh tịnh? Ông không nghe có ba
hạng người đồng đọa địa ngục hay sao? Ba hạng ấy là:
1)
Trái phạm giới cấm: không có pháp sa môn mà tự nói mình
có đầy đủ pháp sa môn. Không tu phạm hạnh mà tự nói đã
tu phạm hạnh. người ấy ở trong Phật pháp như giống cây
bị hư, không thể nào mọc mầm được.
2)
Thấy như thế, nói như thế: nói rằng dâm dục không phải
là ác pháp, không phải là chướng đạo, nên cứ làm những
việc buông lung (trong Ðại Luật Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni, đây
thuộc về tội Ba Dật Ðề, vì có tỳ kheo ni thấy cư sĩ
tại gia có vợ con mà vẫn tu hành chứng đắc thánh quả,
từ sơ quả đến đệ tam quả. Do đó, sanh tà kiến, cho rằng
dâm dục chẳng phải là ác pháp, chẳng phải chướng đạo).
3)
Dùng pháp Ba La Di vô căn cứ mà đi hủy báng vị tỳ kheo tu
phạm hạnh thanh tịnh.
Từ
Ðịa tỳ kheo dùng pháp Ba La Di, vô căn cứ vu báng cho tôn
giả Ðạp Bà Ma La Tử là bậc thánh giả phạm hạnh thanh
tịnh, sẽ thuộc về loại thứ ba trong ba hạng người nói
trên, nên quyết phải bị đọa địa ngục.
Ðức
Thế Tôn sau khi dùng vô số phương tiện quở trách Từ Ðịa,
liền tập chư Tăng mà kiết giới này, là giới đem trọng
tội vô căn cứ vu báng cho người của tỳ kheo, tỳ kheo ni.
Chữ
Căn trong nhóm từ “vô căn cứ” là chỉ cho ba việc căn
cứ vào sự thấy, nghe, nghi.
“Căn
cứ vào sự thấy” là thực tại thấy làm việc phi phạm
hạnh. Chẳng hạn thực sự thấy trộm lấy năm tiền trở
lên, thấy đoạn tuyệt sinh mạng người khác...
“Căn
cứ vào sự nghe” là thực chính tai nghe việc làm phi phạm
hạnh. Như thực sự nghe có việc trộm lấy năm tiền trở
lên, thực sự nghe có việc đoạn tuyệt tánh mạng người
khác, thật sự có nghe việc tán thán chứng đắc pháp thượng
nhân...
“Căn
cứ vào việc nghi ngờ” chia ra làm hai loại:
-
Do thấy mà sanh nghi.
-
Do nghe mà sanh nghi.
Trừ
ba việc có căn cứ thấy, nghe, nghi nói trên, tất cả những
trường hợp dùng những pháp khác để hủy báng hành giả
tu học Phật pháp, tức là không có ba thứ căn cứ nói trên,
thì gọi là dùng pháp không căn cứ mà hủy báng.
Nếu
dùng pháp Ba La Di vô căn cứ vu báng cho tỳ kheo, tỳ kheo ni
phạm hạnh thanh tịnh, thì người ấy tương lai quyết định
phải bị đọa địa ngục. Cho nên không được tùy theo ý
mình mà dùng pháp vô căn cứ hủy báng người.
Ở
luật Thanh Văn, nếu dùng pháp Ba La Di vô căn cứ vu báng người
thì thuộc về tội Tăng Tàn. Tội Tăng Tàn dù so với Ba La
Di không phải là trọng tội. Nhưng so sánh với các tội khác
thì thuộc về trọng tội.
Thế
sao ở đây lại liệt vào tội khinh?
Ðiều
này căn cứ vào trí huệ cạn hay sâu của hành giả Tiểu
Thừa và Ðại Thừa mà phân biệt.
Vì
trí huệ của Bồ Tát rất thâm thúy, không dễ gì bị người
làm mê hoặc, cho nên đối với người đồng đạo pháp, mà
đi rao nói, hủy báng, tội ấy nhẹ chứ không nặng. Trong
khi trí huệ của Thanh Văn thiển bạc hơn, nên dễ bị người
khác mê hoặc. Cho nên, đối với người đồng đạo pháp
mà rao nói tội lỗi của họ, việc hủy báng ấy sẽ mắc
tội nặng chứ không nhẹ.
Tự
khen mình, chê người cùng hủy báng Tam Bảo thuộc trong mười
giới trọng, còn giới này thuộc về hủy báng, tại sao lại
thuộc về giới khinh?
Chúng
tôi xin phúc đáp rằng:
-
Giới khen mình, chê người sở dĩ thuộc về mười giới trọng
vì chẳng những là hủy báng người lại còn tự tán thán
mình, nên thuộc về giới trọng.
-
Giới hủy báng người hoàn toàn không tán thán mình, cho nên
thuộc về giới khinh.
-
Giới hủy báng Tam Bảo là giới trọng vì không phải chỉ
hủy báng Tăng mà còn hủy báng cả Phật và Pháp.
-
Giới hủy báng Tăng thuộc về giới điều nàym, hoàn toàn
không hủy báng Phật và Pháp, cho nên thuộc về tội khinh.
So
sánh hai giới, tự nhiên sẽ thấy rõ chỗ khác biệt của
chúng.
Nói
“người tốt, người lành” v.v... câu kinh văn ấy dùng để
chỉ cho những người bị hủy báng. Ðối với những vị
này, đáng lẽ phải hết lòng tôn trọng, không nên hủy báng.
Hiện tại, trái lại cực lực hủy báng dĩ nhiên tạo tội
rất lớn.
Lương
nhân (người lành) là người ôn hòa, hiền dịu, bên ngoài
không hiện tướng ác.
Thiện
nhân (người tốt) chỉ người lương thiện, nội tâm nhu hòa.
Pháp
Sư: Người làm thầy, dùng giáo pháp của Như Lai dạy dỗ
cho mình và cho mọi người. Ðứng trên lập trường Ðại
Thừa Phật giáo, thì pháp Giới Ðịnh Huệ của Ðại Thừa
có thể dùng làm phép tắc cho chính mình và mọi người. Vì
thế, người thọ trì, viết chép hay đọc tụng đều có thể
gọi là Pháp Sư. Cho nên kinh Pháp Hoa nói Pháp Sư có năm loại.
Nhưng nói một cách nghiêm túc hơn, Pháp Sư là người tuyên
dương Tam Tạng thánh giáo của Như Lai, mở mang, dẫn dắt
chúng sanh tiến vào tri kiến của Như Lai.
Sư
tăng: sư là chỉ Hòa Thượng và A Xà Lê của mình chứ không
chỉ riêng Tam Sư Thất Chứng. Thậm chí bạn chỉ y chỉ với
vị Sư ấy trong một đêm, hoặc từ vị ấy học một bài
chú, một bài kệ cho đến nghe giảng dạy một câu chuyện
đạo đức, những vị ấy đều là bậc A Xà Lê của bạn.
Tăng là chỉ cho chúng Tăng đủ ngũ đức và pháp Lục Hòa.
Quý
nhân: chỉ những người thuộc giới sang trọng, quyền quý
như quốc vương, đại thần, quan trưởng v.v... Khi Ðức Phật
còn tại thế, Ngài từng đem Phật pháp phú chúc cho quý vị
ấy hộ trì. Những bậc minh sư, thiện hữu, thánh chúa, tôi
hiền như thế chẳng những người đời phải hết lòng kính
ngưỡng mà ngôi Tam Bảo cũng nhờ đó mà được vững chắc
như kim thang (kim thang tức “kim thành, thang trì” nghĩa là
thành bằng sắt, ao chứa nước nóng, ý nói: phương tiện
chống giặc vững chắc, hữu hiệu, quân giặc không thể nào
chiến thắng được. Mượn thành ngữ ấy ám chỉ cho sư tăng,
quốc vương, đại thần v.v... có đủ khả năng, thế lực
ủng hộ Phật pháp, làm cho ngôi Tam Bảo vững bền ở thế
gian). Bên trong thì có sư tăng đầy đủ giới đức giáo hóa,
dẫn dắt. Bên ngoài thì có quốc vương, đại thần ra ơn
hộ trì. Ðáng lẽ chúng ta phải đầu mang đội ơn nghĩa chư
vị không hết, sao nỡ lòng trở lại đem tội thất nghịch,
thập giới trọng mà hủy báng các Ngài?!
Ðiều
tối trọng yếu của giới cấm này là hủy báng minh sư, thiện
hữu. Trong kinh từng dạy: “Bạn lành trong thiên hạ không
ai hơn bậc sư trưởng. Vì sư trưởng là người dẫn dắt,
dạy bảo chúng ta tu học. Nếu chúng ta chân thành vâng theo
sự chỉ đạo của sư trưởng mà thực hành thì tất nhiên
sẽ thâu hoạch được kết quả tư lợi. Vì thế, đối với
sư trưởng, chúng ta cần phải báo đáp thâm ân trọng đức”.
Nên
biết rằng: cha mẹ dù sanh thành, dưỡng dục thân xác và
dạy dỗ cách thức làm người cho chúng ta, nhưng không thể
giúp chúng ta thoát ly tam đồ khổ. Trái lại, sư trưởng chẳng
những dạy dỗ về nhân cách mà còn dẫn dắt chúng ta đi
trên con đường chánh của Phật pháp, ra khỏi bể khổ sanh
tử, đến nơi chân thật an vui Niết Bàn.
Trong
lúc sư trưởng dạy dỗ, dẫn dắt, vì muốn thân tâm chúng
ta đi đúng pháp, đúng luật, nên đương nhiên phải dùng biện
pháp giáo huấn nghiêm khắc. Lúc ấy, bạn lại sanh tâm bất
mãn đối với sư trưởng. Chẳng những không chịu thành tâm
tiếp thọ lời dạy bảo một cách kính thành, lại còn buông
ra những lời thô ác, khinh nhục, hủy báng. Hoặc ở sau lưng
sư trưởng, vọng sanh thị phi, làm cho đạo thầy không nghiêm,
Phật pháp suy đồi. Hạng người hủy báng, tật đố đối
với thầy như vậy, chẳng những không xứng đáng với tư
cách của người Phật tử, mà đúng là kẻ đại ma, đại
tặc trong Phật pháp. Họ không phải là những người tín
phụng Phật pháp mà là người phá hoại Phật pháp.
Kinh
Thiện Cung Kính, Ðức Phật từng dạy rằng: “Người tu học
Phật pháp nếu không sanh tâm cung kính, tôn trọng sư trưởng,
lại đi nói việc hay dở của sư tăng, những người ngu si
như vậy nên chiếu theo quy luật Phật pháp mà đúng pháp trừng
trị, không nên để cho người ấy cứ làm như vậy mãi”.
Tại
sao vậy? Vì chẳng những sư trưởng không có lỗi lầm, chúng
ta không được phép tùy tiện đi rao nói bậy bạ, thậm chí
ngay khi sư trưởng có lỗi, bổn phận làm đệ tử chúng ta
cũng không được đi rao nói.
Nếu
kẻ nào đối với thầy quả thật không sanh tâm cung kính,
kẻ ấy sau khi xả báo thân, quyết phải bị đọa vào địa
ngục Chùy Phát. Tội nhân trong địa ngục này chỉ có một
thân mà đến bốn đầu. Toàn thân bị thiêu đốt như đống
lửa dữ và thiêu mãi không ngừng. Lại có vô số độc trùng,
miệng như lưỡi câu, bu vào cắn bỏ lưỡi của tội nhân.
Sự thống khổ như vậy không sao tả được. Khi tội báo
địa ngục đã mãn, phải sanh trong loài súc sanh, thường ăn
phẩn, uống nước tiểu. Khi mãn tội báo trong loài súc sanh,
được tái phục thân người, nhưng phải sanh nơi miền biên
địa, hoang dã, không được học Phật pháp. Da dẻ không giống
với người thường, thường bị mọi người khinh dễ, hủy
báng, lăng nhục. Suốt đời ngu si không có trí huệ. Khi sinh
mạng này kết thúc, lại bị đọa vào địa ngục, cảm thọ
sự thống khổ vô lượng vô biên.
Trong
kinh Báng Phật, Ðức Phật dạy như vầy: “Tội hủy báng
Phật không thuộc vào tội trọng mà hủy báng Pháp Sư mới
là tội trọng. Vì thế, nếu người nào hủy báng Biện Tích
pháp sư thì không khác gì hủy báng Phật” (Phật dùng từ
“biện tích pháp sư” để tiêu biểu cho tất cả Pháp Sư).
Vì
thế hàng Bồ Tát sơ phát tâm phải từng giờ, từng phút
khắc ghi thâm ân giáo huấn và công đức của sư trưởng.
Ðối với sư trưởng phải sanh khởi tâm cực kỳ cung kính
và tôn trọng. Nên biết: Bồ Tát tu học hạnh Bồ Tát không
có điều gì khẩn yếu bằng hiếu hạnh đối với sư trưởng.
Tại
sao vậy? Chúng ta thấy người thế gian, bất cứ muốn làm
việc chi, nếu không có sự dạy bảo, dẫn dắt của thầy
thì một việc hãy còn không thành tựu. Huống chi từ vô thỉ
chúng ta vẫn thường trôi lăn trong ác đạo, vừa mới được
ra khỏi. Giờ đây, muốn đi lên con đường Bồ Ðề mà từ
trước đến nay chưa từng đi, thì làm sao không cần sự chỉ
đạo của sư trưởng? Làm sao được phép đối với sư trưởng
không hết lòng cung kính, tôn trọng?
Trong
kinh Thần Biến, đức Phật dạy Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát rằng:
“Nếu người nào khởi ác tâm hủy phá, thiêu đốt tháp
miếu của chư Phật nhiều như hằng hà sa, tội ấy rất nặng.
Nếu có người đối với vị Bồ Tát tín giải Ðại Thừa,
khởi tâm sân hận hay cực lực mạ nhục, hủy báng, tội
của người này nếu đem so sánh với tội của người hủy
phá, thiêu đốt tháp miếu của chư Phật nhiều như hằng
hà sa nói trên, thì sẽ nhiều hơn gấp bội vô lượng a tăng
kỳ số”. Như thế, chúng ta tuyệt đối không nên hủy báng
Pháp Sư.
(A
tăng kỳ là tiếng Ấn Ðộ, Trung Hoa dịch là vô số, ở đây
nói là “vô lượng a tăng kỳ số”, là vô lượng lần vô
số. Con số nhiều đến mức không ước lượng được).
Trong
luận Bồ Tát Học, cũng dẫn lời Ðức Phật rằng: “Nếu
có người nào đối với Bồ Tát mà thốt ra lời mạ nhục,
khinh miệt, ta nói người ấy đọa địa ngục, thời gian thọ
khổ không có hạn lượng”.
Tại
sao vậy?
Nên
biết một vị Bồ Tát, nếu đối với vị Pháp Sư thuyết
pháp, thốt ra những lời hủy báng, chẳng những hủy báng
cá nhân của Pháp Sư, mà còn chứng tỏ người ấy đã xa
lìa chư Phật, hủy báng chánh pháp của Như Lai, hủy báng
tỳ kheo tăng thanh tịnh, cũng không khác gì hủy báng Tam Bảo.
Chúng ta thử tưởng tội hủy báng Tam Bảo trọng đại biết
chừng nào?
Lại
nếu có người đối với pháp sư thuyết pháp, sanh tâm khinh
miệt, không hết lòng cung kính, tôn trọng, tức là đối với
chư Phật Như Lai không cung kính, tôn trọng. Người Phật tử
mà không cung kính, tôn trọng Phật thì còn vấn đề gì để
nói?!
Vì
thế, muốn cung kính, tôn trọng Phật, cần phải cung kính,
tôn trọng Pháp Sư. Cung kính, tôn trọng Pháp Sư là đồng
với cung kính, tôn trọng Phật. Nên kinh Phát Giác Tịnh Tâm,
Ðức Phật đặc biệt vì việc ấy mà nói kệ rằng:
Mạc
ư tha biên kiến quá thất,
Vật
thuyết tha nhân thị dữ phi,
Bất
trước tha gia tịnh hoạt mạng,
Chư
sở ác ngôn đương ký xả.
Dịch:
Lỗi
lầm người khác đừng xem ngó,
Thị
phi người khác chớ phô bày,
Sự
sống an tịnh của người đừng tham luyến.
Những
lời thô ác phải xa lìa.
Như
trên đã trích dẫn những lời Phật dạy trong các kinh luật.
Bổn phận chúng ta đối với Pháp Sư, sư tăng v.v... phải
hết lòng cung kính cúng dường, tuyệt đối không nên có ác
tâm hủy báng, khiến cho người lương thiện bị cho là không
lương thiện; bậc thánh nhân thành không phải thánh nhân,
người hiền đức không phải hiền đức; Pháp Sư mất địa
vị Pháp Sư, đức hạnh sư tăng bị tán thất v.v... vì việc
này mà để lại vết nhơ muôn đời nơi thế gian, khác chi
bức tường trắng đẹp, sạch sẽ bị những loài ruồi xanh
bu đậu vào. Quả là một việc rất đáng sợ vậy!
Nói
về việc ác tâm hủy báng thì dùng những lời lẽ gì để
hủy báng các vị minh sư, thiện hữu, thánh chúa, tôi hiền...?
Ðiều ấy đương nhiên có rất nhiều. Phàm những lời gì
có thể gây bất lợi cho chư vị, kẻ ác tâm đều có thể
đổ trút lên chư vị.
Nhưng
trên thế gian, tội ác lớn nhất không gì hơn là Thất Nghịch
và mười giới trọng. Vì thế nếu đem những tội ác như
giết cha, giết mẹ, phá hòa hợp tăng, gian tham, trộm cướp,
tà dâm... gán cho các bậc minh sư, thiện hữu, chúa thánh,
tôi hiền... để hủy báng, rao nói với mọi người. Thiên
hạ khi nghe những việc ấy, họ cho rằng những vị này tạo
tội ác rất lớn như vậy, nên không người nào dám lai vãng
thân cận với quý vị ấy nữa. Mọi người đều xem quý
vị ấy là thứ ác ma trong nhân gian. Chúng ta hãy suy nghĩ,
do ác tâm tùy tiện hủy báng người, làm cho người bị tổn
hại lớn lao như vậy, tội ác ấy trọng đại không mức
nào nói được!
Cho
nên là Phật tử, không nên tùy ý hủy báng minh sư, thiện
hữu v.v... mà luôn phải đối với các ngài hết lòng cung
kính, tôn trọng.
Thế
thì phải làm thế nào mới gọi là cung kính, tôn trọng? Nghĩa
là đối với trong hàng lục thân, cha mẹ, anh em, phải có
lòng hiếu thuận, từ bi. Ở đây, lục thân được giải thích
hai loại:
1.
Lục thân đời hiện tại là cha mẹ, chú bác, anh em.
2.
Lục thân theo quan điểm của Bồ Tát: tất cả chúng sanh đều
là lục thân của mình. Sư tăng, quốc vương bao hàm ý nghĩa
cha mẹ trong ấy. Người lành, người tốt bao gồm trong ý
nghĩa anh em. Hàng quý nhân, quan trưởng cũng đều gồm trong
ý nghĩa lục thân.
Suy
nghĩ như thế nên đối với những người bề trên phải sanh
tâm hiếu thuận. Luôn nghĩ tưởng chư vị đều là người
có ân đức với mình. Mình luôn cần phải báo đáp thâm ân
trọng đức của các ngài không hết, sao lại tán tâm điên
cuồng, làm những việc cực lực hủy báng các ngài?!
Ðối
với những kẻ bề dưới, ta cần phải sanh tâm từ bi, nên
suy tưởng rằng: những chúng sanh ấy ngu si, điên đảo, ta
phải có bổn phận ban vui, cứu khổ những kẻ ấy không kịp
lúc, huống gì lại nhẫn tâm đi hủy báng họ?
Ðã
có lòng hiếu thuận thì không bao giờ dám hủy báng, và đã
có tâm từ bi thì không bao giờ nỡ hủy báng. Nếu thực hành
được như vậy, chẳng những giúp các vị minh sư, thiện
hữu... thành tựu danh dự, đức hạnh, mà còn thành tựu danh
dự tốt cho chính mình trong hiện đời. Thật là nhất cử
lưỡng đắc!
Ngược
lại, nếu không có lòng hiếu thuận và từ bi, hoàn toàn không
có một chút gì đoái nghĩ và sợ tội, thì bất cứ việc
chi cũng dám làm, không riêng gì việc hủy báng người! Nếu
sanh khởi tâm từ bi và hiếu thuận thì những việc hủy báng,
trái nghịch chắc không bao giờ dám làm, nên đời hiện tại
tự nhiên được thành tựu phúc quả, tương lai sẽ được
thụ hưởng vô cùng.
Là
một vị Bồ Tát:
-
Ðối với sư tăng, đáng lẽ phải sanh tâm hiếu thuận mà
không hiếu thuận, trở lại vu khống là ngỗ nghịch và bất
hiếu.
-
Ðối với người lương thiện, lẽ ra phải có tâm từ bi
mà không từ bi, trở lại vu oan là hung hiểm, bất từ.
-
Ðối với kẻ bề trên mà hủy báng là ác nghịch, người
bên dưới hủy báng là hung hiểm.
Dù
sự thật không phải như vậy, nhưng người bị hủy báng
khi nghe rồi, vì nỗi oan ức không thể tỏ bày vào đâu nên
thân tâm thống khổ, bất an, suốt ngày buồn bực không vui.
Thậm chí đối với cảnh đời, lòng họ chất đầy nỗi
giận ghét, cảm thấy người trên thế gian này không thể
sống chung, do đó muốn đi vào con đường tự tận.
Hoặc
vì bị bạn hủy báng, nên bao nhiêu danh lợi của đều tiêu
tán, mọi việc đều không vừa lòng, đẹp ý, nội tâm do
vậy buồn phiền, áo não không nguôi. Phá hoại danh dự của
người như vậy là làm cho người sa vào cảnh bất như ý.
Vì thế, Phật tử này phạm khinh cấu tội.
Tội
dù thuộc hạng khinh cấu, nhưng sự chiêu cảm khổ báo không
phải nhẹ. Chẳng những hủy báng sư trưởng... các bậc ân
đức của mình, mắc phải tội báo rất lớn, mà ngay cả
hủy báng một vị tỳ kheo cũng mắc tội báo vô cùng.
Trong
kinh có thuật một truyện ngắn như sau:
Vào
thời quá khứ, khi đức Thế Tôn còn tại thế, có một vị
tỳ kheo hiệu Ðại Ca La. Vị này tu khổ hạnh, ngày ngày đi
vào thi lâm (khu rừng dùng chôn người chết), nhặt thức ăn
do quyến thuộc người chết cúng tế.
Một
hôm, có hai mẹ con gia đình nọ, đưa thi hài của chồng và
cha đến thi lâm. Ðứa con là một bé gái vừa lên bảy tuổi,
trông thấy thầy tỳ kheo bèn nói với mẹ rằng: “Mẹ! Mẹ!
Ông này giống như con quạ mù, thường ở đây giữ tử thi
kiếm đồ ăn”.
Quý
tỳ kheo nghe được, đem việc ấy bạch lên Phật. Ðức Phật
dạy rằng: “Ðứa bé dùng lời thô ác khinh hủy vị tỳ
kheo. Do ác nghiệp này, 500 đời thường đọa làm quạ mù!”
Mẹ
bé gái nghe Phật dạy như vậy liền dắt con đến trước
Phật bạch rằng: “Kính bạch Thế Tôn! Cúi xin Ngài thứ
lỗi cho con của con, vì nó nhỏ dại không biết nên mới thốt
ra những lời ấy, chớ không có tâm ác độc”.
Phật
dạy rằng: - Con đừng lầm nghĩ Thế Tôn nguyền rủa cho đứa
bé thọ khổ như thế. Vì bé này thốt lời thô ác khinh dễ
vị tỳ kheo, chỉ mắc tội ác khẩu chớ không phải ác tâm,
nên chỉ đọa làm súc sanh mà thôi. Nếu có ác tâm sẽ phải
đọa vào địa ngục.
Hủy
báng thuộc về tánh tội, không luận là người có thọ giới
hay không, cốt yếu chỉ cần thốt ra lời hủy báng người,
sẽ chiêu cảm quả báo không tốt.
Chúng
ta xem chuyện em bé gái kể trên, dù được mẹ dẫn đến
trước Phật cầu sám hối, vẫn không thoát khỏi quả khổ
báo phải làm quạ mù trong năm trăm đời. Do đây, chúng ta
phải hiểu rằng: Dù chư Phật rất đại từ bi, nhưng có
ba điều các Ngài không làm được là:
1.
Không thể cứu độ những chúng sanh bất tín.
2.
Không thể làm cho chúng sanh giới hết được.
3.
Không thể cứu chúng sanh đã bị định nghiệp.
Bé
gái trong truyện thuộc về định nghiệp, Phật còn không thể
cứu. Căn cứ theo đây thì Phật pháp bao giờ cũng đứng ở
lập trường nhân duyên. Nghĩa là nếu chúng ta muốn được
Phật cứu, điều kiện duy nhất là nhứt tâm tin theo lời
Phật dạy mà thực hành thì mới mong được Phật cứu độ,
chứ không phải chuyên tạo ác nghiệp, rồi lạy Phật, cầu
Phật cứu vớt.
Nói
một việc thực tế hơn: nghe nói pháp môn Niệm Phật dễ
dàng, dù người mắc tội báo thâm trọng đến đâu, Ðức
Phật cũng không bỏ. Lầm nghĩ như vậy nên suốt đời chuyên
lo tạo ác, đợi đến giờ phút lâm chung niệm năm hoặc mười
câu rồi tin rằng Phật sẽ đến tiếp dẫn. Thật là tuyệt
đối sai lầm!
Chúng
ta nên biết: người suốt đời tạo ác nghiệp đến phút
cuối cùng, hồi tâm niệm Phật mà được Phật tiếp dẫn
vãng sanh là do hai nhân duyên:
-
Nhiều đời trước đã gieo trồng căn lành.
-
Ðời hiện tại là dù lúc sinh tiền tạo ác nghiệp, nhưng
đến phút cuối cùng, nhờ thiện nghiệp nhiều đời, tâm
giác ngộ, hối cải mãnh liệt, được gặp thiện tri thức
làm tăng thượng duyên nên mới được như vậy.
Trái
lại, nếu cố tâm suốt đời tạo ác, chờ đến giờ phút
cuối cùng niệm Phật. Chính tâm niệm ấy ngăn cách tâm từ
bi của Phật, nên đến phút cuối cùng bị nghiệp lực lôi
cuốn, che đậy, làm sao cảm được đức từ bi của Phật?
Ví như nước đục tợ như bùn, bóng trăng làm sao hiện ra
được?
Vì
thế, trong kinh dạy: “Thủ khẩu như bình, phòng ý như thành”
(giữ miệng như giữ bình, đề phòng tâm ý như giữ thành
trì, ngăn không cho quân giặc lấn chiếm).
Trong
kinh Báo Ân dạy rằng: “Họa phúc của con người đều từ
nơi miệng mà sinh ra. Vì thế, cần phải giữ gìn khẩu nghiệp
còn hơn giữ gìn lửa dữ. Vì lửa dữ chỉ thiêu đốt trong
một đời, trong khi tội ác khẩu có thể thiêu đốt vô lượng
vô số đời. Hơn nữa, lửa dữ chỉ thiêu đốt tài bảo
trong thế gian, trong khi lời nói ác của khẩu nghiệp có thể
thiêu đốt bảy thứ thánh tài (1). Nên cổ nhân dạy rằng:
“Môi như cung, tâm như giây, âm thanh như tên, trong đêm hôm
tăm tối không được bắn bậy bạ, vì có thể không làm
thương hại cho người mà chỉ tự mình rước vạ vào thân”.
Chính
mình nếu không có những khuyết điểm gì thì không nên sanh
lòng sợ sệt những lời hủy báng của kẻ khác đối với
mình. Theo như lời Phật và Tổ dạy trong kinh, Vĩnh Gia đại
sư cũng có những lời huấn từ rất hay: “Mặc cho người
hủy báng, tha hồ cho người chê bai, khác nào người cầm
lửa đốt trời. Trời không thể đốt đặng, mà chỉ tự
mình chuốc lấy mệt nhọc mà thôi. Ta nghe những lời hủy
báng của người dường như uống vị cam lồ, tiêu dao tự
tại vào cảnh giới bất tư nghì”.
Với
lời nói ác, lời nói hủy báng mà tưởng như được uống
vị cam lồ, nếu người đời thực hiện được như vậy,
tức là đã đạt được chân đạo thọ dụng trong Phật pháp
rồi vậy.
Chú
thích:
(1)
Thất thánh tài: bảy thứ tài bảo của bậc thánh nhân. Các
thánh nhân sau khi đã kiến đạo thì chỉ có bảy thứ thánh
tài. Về bảy thứ thánh tài, triong các giải thích có khác
biệt đôi chút. Như kinh Bảo Tích, quyển 42 nói là:
1.
Tín: tín thọ giới pháp của Như Lai.
2.
Giới: nghiêm trì giới pháp của Phật.
3.
Văn: Tinh tấn nghe chánh giáo của Phật.
4.
Tàm: khi mình có lỗi, tự tâm thấy hổ thẹn.
5.
Quý: khi mình có lỗi, không còn tâm tham luyến nhiễm trước.
6.
Quý: khi mình có lỗi, đối với người khác cảm thấy hổ
thẹn.
7.
Xả: xả bỏ tất cả, không còn tâm tham luyến, nhiễm trước.
8.
Huệ: dùng trí huệ quán sát sự lý một cách minh bạch.
Kinh
Niết Bàn quyển 17 nói: bảy thứ thánh tài, có đủ bảy thứ
này gọi là thánh nhân:
1.
Tín
2.
Giới.
3.
Tàm.
4.
Quý.
5.
Ða văn.
6.
Trí huệ.
7.
Xả ly.
Kinh
Pháp Cú cũng dùng bài kệ thuyết minh Thất Thánh Tài như sau:
Tín
tài, giới tài,
Tàm
quý diệc tài,
Văn
tài, thí tài,
Huệ
vi thất tài.
Kinh
Báo Ân nói Thất Thánh Tài:
1.
Tín
2.
Tinh tấn.
3.
Giới.
4.
Tàm quý.
5.
Văn xả
6.
Nhẫn nhục.
7.
Ðịnh huệ.
Quý
đại sĩ nên nhận chân bảy thứ báu của người tu hành,
được giải thoát thành Phật là nhờ ở thất thánh tài xuất
thế gian. Người tu hành không lấy tài bảo thế gian làm quý.
Biết thế phải nhứt tâm niệm Phật, cầu được vãng sanh
về Cực Lạc thế giới, đầy đủ công đức cho đến thành
Phật độ sanh. Ðây mới là của quý giá chân thật.
Nên
kinh Thập Lục Quán dạy: “Trên thế gian này chỉ có người
niệm Phật là quý hơn hết, cũng như Thanh Liên Hoa đứng trong
bùn”.
