B.2.2.14.
PHÓNG HỎA THIÊU PHẦN GIỚI
(giới
phóng hỏa)
Kinh
văn:
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử dĩ ác tâm cố...” cho đến câu “...phạm
khinh cấu tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
Phật tử vì ác tâm phóng hỏa, thiêu đốt núi rừng, đồng
nội. Từ tháng Tư cho đến tháng Chín, nếu phóng hỏa, làm
cháy lan đến nhà cửa, thành ấp, tăng phường, ruộng rẫy
của người, và cung điện, tài vật của quỷ thần. Tất
cả chỗ có sinh vật không được cố ý thiêu đốt. Nếu
cố ý thiêu đốt, Phật tử này phạm khinh cấu tội.
Lời
giảng:
Giới
“không hủy báng” cốt yếu khuyên chúng ta không nên làm
tổn não người, để cho chánh báo được yên vui, không phải
sống trong niềm lo âu, sợ hãi.
Mục
tiêu chính yếu của giới “không phóng hỏa thiêu đốt”
này là cốt khuyên chúng ta không nên làm thương hại tài vật
kẻ khác, để cho y báo được hoàn toàn không hư hại.
Kinh
Lăng Nghiêm dạy: “Một vị tỳ kheo thanh tịnh hay một vị
Bồ Tát lúc đi trên đường, không được tùy ý dẫm đạp
cỏ tươi”.
Cỏ
tươi còn không được dẫm đạp, huống chi dùng lửa thiêu
đốt núi rừng, đồng nội? Phóng hỏa thiêu đốt bất cứ
nơi nào đều làm tổn hại tài vật, thương hại sinh mạng
chúng sanh. Vì muốn giữ gìn hành động có thể tạo thành
tội sát sanh. Hoặc có thể tạo nên việc phạm giới trộm
cắp nên không được thiêu đốt núi rừng, đồng nội, nhà
cửa v.v... Người tu học Phật pháp, nhất là một hành giả
Bồ Tát, nếu phóng hỏa thiêu đốt núi rừng, đồng nội
v.v... tất nhiên không tránh khỏi sự phê bình, chê trách của
xã hội. Vì thế, việc phóng hỏa thiêu đốt, nhất định
không phải là hành vi của một vị Bồ Tát lợi sanh.
Tục
ngữ có câu: “Tinh tinh chi hỏa, khả dĩ liệu nguyên” (đốm
lửa nhỏ chừng bằng con đom đóm có thể thiêu đốt cả
cánh đồng to rộng).
Lúc
đầu mới phóng hỏa, thấy như không có gì, nhưng nếu sơ
ý một chút thì sẽ cháy lan rộng và sẽ gây nên sự tổn
hại rất lớn. Do đó, sự oán trách, chê bai cũng sẽ vô cùng
tận.
Ðức
Phật vì tâm đại từ, đại bi, thương xót người cũng như
những sanh vật bị hại vì hỏa hoạn, nên đặc biệt chế
lập giới điều này, nghiêm cấm toàn thể Phật tử tu học
theo Phật pháp tuyệt đối không được phóng hỏa. Còn tội
lỗi của việc phóng hỏa thiêu đốt, tùy theo việc tổn thất
sinh mạng và tài vật mà quyết định nặng hay nhẹ. Nếu
mức độ tổn thất nhiều thì tội nặng, tổn thất ít thì
tội nhẹ.
Sát
sanh còn có chỗ chọn lựa, và sanh mạng bị tổn hại cũng
có hạn lượng. Nhưng việc phóng hỏa gây tổn hại sinh mạng
không có hạn lượng và sát sanh không lựa chọn thì tội
lỗi ấy không gì nặng hơn.
Trong
Ðại Trí Ðộ Luận có kể rằng:
Tại
một khu rừng núi lớn, một hôm bỗng nhiên phóng hỏa dữ
dội. Trong khu rừng ấy, có một con chim trĩ thấy vô số chúng
sanh bị vùi mình trong biển lửa. Tâm nó không thể nào cam
lòng an nhẫn, liền bay đến chỗ có nước, nhúng ướt hai
cánh, rồi bay trở lại khu rừng đang bị cơn đại hỏa, đem
nước trên đôi cánh rưới xuống mong dập tắt ngọn lửa
để cứu vãn sanh mạng vô lượng chúng sanh. Dù là việc làm
dùng chén nước tưới lửa muôn xe, hoàn toàn không ích lợi,
nhưng tấm lòng từ bi như vậy thật là khó thấy.
Chúng
ta thử nghĩ: chim trĩ kia dù sức nhỏ bé, hãy còn cố gắng
dùng đôi cánh nhúng nước để cứu chúng sanh bị hỏa hoạn.
Huống chi một vị Bồ Tát lại nỡ lòng trở lại phóng hỏa
thiêu đốt núi rừng, thì còn gì để nói?! Cho nên, dù bất
cứ nhân duyên gì mà phóng hỏa thì tội ấy đều quy về
tội tổn hại người, gây sự hư hoại phá hủy tài vật.
Ðức
Phật dạy đại chúng rằng: “Nếu làm một vị Phật tử,
đã thọ Bồ Tát giới, nếu vì ác tâm phóng đại hỏa, thiêu
đốt núi rừng, đồng nội trong khoảng thời gian từ tháng
Tư cho đến tháng Chín thì tuyệt đối không được”.
Trong
kinh văn nói “ác tâm”, không có nghĩa là người ấy có
ác ý gì, mà ý nói tâm ý người ấy buông lung, không có một
niệm từ bi, thương xót loài vật.
Kinh
văn dùng chữ “phóng đại hỏa” để nhấn mạnh đây không
phải sự lầm lẫn nhỏ nhặt, vô ý để lửa cháy lan mà
là cố tâm, hữu ý phóng hỏa để thiêu đốt.
Kinh
văn nói: “Thiêu đốt núi rừng, đồng nội” là ý muốn
chứng tỏ phạm vi bị thiêu đốt rất lớn, sinh mạng và
tài vật bị tổn thất rất nhiều.
Kinh
văn nói “từ tháng Tư đến tháng Chín” là quy định về
thời gian. Vì ở những quốc gia thuộc khí hậu lạnh, các
loài động vật nhỏ từ những ngày đông miên đã không hoạt
động (tiết Ðông thiên quá lạnh, các côn trùng nhỏ đều
ẩn sâu dưới mặt đất, ngủ yên nên gọi là “đông miên”).
Từ tháng Tư đến tháng Chín, trời hết lạnh, nên chúng tỉnh
lại, trồi lên mặt đất, hoạt động trở lại bình thường,
nên nói là “thức dậy”. Vì vậy, chẳng những núi rừng,
đồng nội rộng lớn là nơi có rất nhiều sinh mạng, mà
một phạm vi rất nhỏ khoảng một tấc vuông, cũng có nhiều
sinh vật ở trong đó sống và hoạt động. Trong khoảng thời
gian này, nếu phóng hỏa thiêu đốt núi rừng, sinh mạng của
chúng sanh bị tổn hại thực không thể xiết kể. Vì vậy,
Ðức Phật cấm ngặt đệ tử không được phóng hỏa đốt
núi rừng, đồng nội trong thời gian này.
Nếu
những quốc gia thuộc vùng nhiệt đới, ít lạnh thì việc
phóng hỏa lại càng phải lưu tâm thận trọng hơn. Vì các
vùng nhiệt đới, các loài sinh vật lớn nhỏ luôn hoạt động
và không có thời kỳ đông miên. Nên chẳng những từ tháng
Tư cho đến tháng Chín, không được phóng hỏa, mà quanh năm
cũng không được phóng hỏa để tránh nạn làm thương tổn
rất nhiều sinh mạng.
Ngay
chính những miền hàn đới quá lạnh, nếu phóng hỏa vào
lúc tháng Chạp, trong Luật đức Phật cũng quy định: hàng
Phật tử trước khi phóng hỏa, toàn chúng phải đi nhiễu
chung quanh khu ấy trì chú, niệm Phật, luôn hướng về các
sinh vật vi tế mà nói rằng: “Chúng tôi hiện tại vì cần
phải thiêu đốt khu rừng này, các người mỗi loại nên tự
di chuyển ra khỏi nơi đây”. Trải qua một thời gian trì
chú, niệm Phật và bảo các loài vật biết như vậy, rồi
sau mới được phóng hỏa thiêu đốt. Như vậy mới không
đến nỗi gây tội. Nếu không trì chú niệm Phật, thông báo
rộng rãi cho các loài sinh vật biết, e rằng sẽ gây sự tổn
thương cho nhiều loại côn trùng.
Cố
nhiên, núi rừng, đồng nội đã không được, nên “thiêu
đốt nhà cửa, thành ấp, tăng phường, ruộng rẫy của người
và cung điện, tài vật của quỷ thần cũng không được”.
Kinh văn nói: “Thiêu đốt nhà cửa của người v.v...” không
có nghĩa là cố ý muốn làm tổn hại của người. Nhưng vì
khi đốt núi rừng, đồng nội, do thiếu cẩn trọng, làm lửa
theo thế gió nên cháy lan rộng ra, gây tai hại đến nhà cửa
v.v...
Việc
này trong luật Thanh Văn có kể một mẫu chuyện như sau:
Khi
Phật còn tại thế, một hôm Ngài ngự đến thành Khoáng Dã.
Thành này ở giữa thành Vương Xá và thành Ba La Nại, thuộc
phía Bắc của sông Hằng. Trước đó, bọn cướp thường
tụ tập nơi đây để cướp phá tài sản dân chúng. Sau chúng
bị vua Bình Sa đánh đuổi đi nơi khác.
Nhà
vua là một Phật tử có tâm từ bi, ngài cho xây dựng kinh
đô nơi ấy, giúp dân chúng an cư lạc nghiệp, không còn bị
bọn cướp nhiễu hại.
Khi
Phật ngự ở trong thành, bấy giờ bọn Lục Quần Tỳ Kheo
bàn với nhau rằng: - Chúng ta bị quý Thượng Tọa rầy la,
câu thúc, không được tự do tự tại chuyện trò. Chi bằng
ra ngồi ở chỗ đất trống ngoài phòng xá, tùy ý nói chuyện,
không bị quở rầy, câu thúc.
Nào
ngờ sau khi ra ngồi nơi đất trống, quý thầy ấy chẳng những
mặc tình cao đàm khoát luận, lại còn nhặt cỏ khô, củi
khô, và các gốc cây lớn đốt lên cho sáng.
Lúc
ấy, trong gốc đại thọ, có một con độc xà vì bị hơi
nóng bức bách nên từ trong bộng cây phóng nhanh ra. Lục Quần
tỳ kheo trông thấy cả kinh, la hoảng lên: “Ðộc xà! Ðộc
xà!”, vừa là các thầy vừa lấy các khúc củi đang cháy
quăng ném tứ tung. Lửa văng tàn ra làm cho Phật đường bị
cháy. Ðây là bằng chứng cho thấy đốt lửa nơi đất trống
làm cháy lan đến phòng xá.
Quý
tỳ kheo biết việc này liền bạch lên Ðức Phật. Do nhân
duyên này, Phật chế định giới điều “không được đốt
lửa chỗ đất trống”. Như thế, giới “không được phóng
hỏa thiêu đốt núi rừng, đồng nội” này cùng với giới
“không được đốt lửa chỗ đất trống” trong luật Thanh
Văn giống nhau. Dù rằng không cố ý thiêu đốt nhà cửa,
chỉ thiêu đốt núi rừng, đồng nội, nhưng nếu gây cháy
lan đến nhà cửa của người, thì không thể tránh khỏi lỗi
lầm sơ ý.
Kinh
văn nói: “Ruộng là nơi trồng tỉa các giống lúa. Nếu thiêu
đốt các giống lúa trong ruộng, chẳng những nhà nông bị
tổn thất lớn, mà còn gây ảnh hưởng tai hại đến sự
sống của nhiều người trong xã hội”.
Trong
kinh văn nói: “Cung điện, tài vật của quỷ thần”. Theo
trong Luật thì có nghĩa tất cả cỏ cây là làng xóm của
quỷ thần (thuật ngữ trong Luật dùng từ “quỷ thần thôn”).
Tất cả quỷ thần đều nương nơi đó mà cư trú, và xem
đó như cung điện, nhà cửa của mình. Vì thế, trong Luật
dạy tỳ kheo không được phá hoại tất cả cỏ cây.
Việc
này có một câu chuyện được thuật lại như sau:
Tại
Ðộng Ðình hồ, có một ngôi miếu thờ thần. Tiền thân
của vị thần này là một xuất gia đã thọ đại giới, lại
được vinh dự kết làm bạn thân với An Thế Cao Pháp Sư
nước Thiên Trúc. Tánh tình thầy ấy ưa sân hận.
Do
sân nghiệp này, sau khi xả thân, chiêu cảm quả báo làm đại
mãng xà, có thần oai dị thường. Tất cả thương nhân đi
đường thủy, khi ghe đi ngang trước miễu đều vào cầu đảo,
thì được vị thần dùng oai lực, phân gió làm hai hướng.
Nếu ghe đi lên thì gió thổi lên, ghe đi xuống thì gió thổi
xuống. Tất cả đều không bị ngược gió, lưu ngại. Chung
quanh miễu ấy có rất nhiều tre.
Một
hôm, có một thương nhân đi ghe ngang qua miễu, cầu xin thần
cho một cây tre. Chưa được sự cho phép của vị thần, thương
nhân ấy tự ý chặt đốn. Ghe lập tức bị chìm. Cây tre
bị chặt kia tự nhiên trở lại dính vào gốc cũ.
Cho
đến ngày nọ, Pháp Sư An Thế Cao có duyên sự đi ngang qua,
ghé vào miễu. Ðại mãng xà biết bạn của mình đến, liền
ở sau điện miếu thờ mình, ló đầu ra nói chuyện với Pháp
Sư. Xà thần buồn rầu, khóc lóc, nước mắt tuôn rơi lã
chã, trông rất thê thảm. Xà thần cho Pháp Sư biết rằng
không bao lâu nữa sẽ xả mạng và bị đọa vào địa ngục
chịu sự thống khổ không sao tả xiết.
Sau
đó, Thần đem trăm xấp lụa của thương nhân cúng trao cho
Pháp Sư và chí thành khẩn thiết cầu xin Pháp Sư vì mình
đem bán những xấp vải ấy lấy tiền tu bổ chùa tháp, để
nhờ phước đức sau này thoát khỏi khổ báo và khỏi đọa
vào địa ngục.
An
Pháp Sư chú nguyện và nhận 100 xấp lụa. Xà thần sau khi
nhờ Pháp Sư vì mình làm việc công đức, liền chết ở trong
đầm lớn tại Sơn Tây, đầu đuôi cách nhau vài dặm.
Chính
ngay hôm Xà thần xả thân, chiều hôm ấy có một thanh niên
hình dung tuấn tú, bước lên ghe của Cao Pháp Sư, quỳ trước
mặt Ngài cung kính chắp tay, cúi đầu biến mất. Cao Pháp
Sư nói với mọi người trong thuyền rằng: “Vị thần ở
trong miếu Ðộng Ðình Hồ đã thoát khỏi ác hình (thân rắn)”.
Theo
truyện kể trên thì biết rằng tất cả tài vật, bất cứ
là của tăng hay tục, minh (của quỷ thần), dương (của thế
gian), công hay tư, đều không được phóng hỏa thiêu đốt
để khỏi bị đắc tội.
Tóm
lại:
Tất
cả chỗ có sinh vật đều không được cố ý thiêu đốt.
Việc phóng hỏa đốt núi rừng, đồng nội, đương nhiên
không phải cố ý làm thương hại sinh mạng của chúng sanh.
Nhưng lúc thế lửa nổi sanh quá mạnh, sẽ làm thương hại
đến sanh mạng của các loài vật. Nên sách Nho có câu: “Thành
nội thất hỏa, ương cập kỳ ngư” (ở trong thành bị hỏa
hoạn, làm hại lây các loài cá trong ao), chính là ý này vậy.
Nói
nghiêm khắc một chút, người Phật tử, dù trường hợp không
gây thương hại đến sinh mạng loài hữu tình, còn không nên
phóng hỏa thiêu đốt núi rừng một cách tùy tiện, huống
là trường hợp làm thương hại đến rất nhiều sinh mạng.
Cho nên, bất luận trường hợp có tổn hại đến sinh mạng
và tài sản của chúng sanh hay không, đều không được cố
ý làm việc thiêu đốt. Vì thế, kinh văn kết thúc: “Nếu
cố ý thiêu đốt, Phật tử này phạm khinh cấu tội”.
Nếu
tâm cố ý giết hại chúng sanh mà làm việc thiêu đốt thì
liệt vào tội đẳng lưu của giới Sát (đẳng là ngang nhau,
lưu là loại. Tức là đồng một loại tội với tội Sát).
Nếu làm tổn hại tài sản của người khác mà cố ý thiêu
đốt thì thuộc về tội đẳng lưu của giới Ðạo.
Ðiểm
chính của giới này là sự thiêu đốt hoàn toàn, nhưng vì
không có tâm sát hại sinh mạng chúng sanh, cho nên chỉ phạm
tội khinh cấu. Dù như vậy, nhưng do nhân duyên thiêu đốt
núi rừng làm thương hại sinh mạng, tổn hại tài vật là
không hợp với tâm từ bi, cũng như trái với tâm hạnh của
Bồ Tát. Nên tốt nhất là không nên phóng hỏa thiêu đốt
núi rừng.
Kinh
văn nói: “Tất cả chỗ có sinh mạng”, tức là chỉ cho
cỏ cây, rừng bụi, gọi chung là “sinh địa”, những nơi
ấy nếu thiêu đốt nhất định sẽ làm thương hại đến
sinh mạng của các loài vật. Cho nên giới phóng hỏa này cả
Ðại lẫn Tiểu Thừa đều đồng ngăn cấm.
Tăng
cũng như Tục đều phải vâng giữ giới phóng hỏa, nhưng
giữa hai giới Tăng, Tục có vài sự khác nhau như:
-
Ðối với năm chúng xuất gia, nói về thời gian, thì bất
kỳ thời gian nào cũng đều không được phóng hỏa thiêu
đốt núi rừng.
-
Luận về không gian, thì không được đốt lửa ở những
chỗ đất trống. Nếu đốt lửa ở những chỗ khuất, tức
là có mái lợp che thì được phép.
-
Hai chúng tại gia, nói về thời gian thì mùa nóng từ tháng
Tư cho đến tháng Chín, tuyệt đối ngăn cấm.
-
Còn thời gian khác do việc nông nghiệp, cày cấy v.v.. có thể
cho phép phóng hỏa. Nói về không gian thì bất luận chỗ đất
trống hay có mái lợp che đều cho phép có thể thiêu đốt.
Nhưng
có một điều cần lưu ý là trong lúc phóng hỏa thiêu đốt,
phải tuyệt đối không được cho lửa cháy quá mạnh, làm
lan rộng gây tổn hại đến nhà cửa v.v... của người. Phải
chú ý trong lúc phóng hỏa phải coi chừng cẩn thận, không
được vì sự thiêu đốt của mình làm tổn hại sinh mạng
chúng sanh và tài sản người khác. Những việc này thật ra
không dễ gì làm được, nên biện pháp tốt nhất là không
nên đốt.
Thiêu
đốt núi rừng, nói về bất cứ phương diện nào, cũng đều
là việc không tốt. Phật tử chẳng những không nên thiêu
đốt núi rừng, mà còn gặp những khi núi rừng bị hỏa hoạn,
phải lập tức tìm cách dập tắt.
Trong
kinh, chính kim khẩu của Ðức Phật dạy rằng:
-
Vào thời quá khứ, có một tiều phu vào rừng đốn củi.
Thấy rừng bị lửa cháy, tiều phu liền tìm cách dập tắt
lửa. Do nhân duyên phước nghiệp này, sau khi xả thân, cảm
được phước báo làm một vị Ðại Phạm Thiên Vương cõi
trời Sắc Giới, thọ mạng dài lâu hơn một kiếp (tức hơn
một đại kiếp).
Cứu
hỏa đuợc phước báo thù thắng như vậy thì tội đốt núi
rừng đương nhiên không phải nhẹ. Như trong kinh dạy: “Thiêu
đốt núi rừng, đồng nội, đào tháo nước trong ao, dùng
lửa nướng gà con, chúng sanh tạo nghiệp này sau khi xả thân,
bị đọa vào trong một thành lửa, bị thiêu đốt từ dưới
chân lên tận tim, rong chạy Ðông Tây, không thể ra được,
bị lửa thiêu đốt mà chết”.
Chúng
ta hãy thử tưởng tượng quả báo ấy thống khổ biết dường
nào?!
Ðến
thời đại này thì núi rừng được các quốc gia xem là một
một quốc sản trọng yếu. Vì thế, nếu phóng hỏa thiêu
đốt làm tài sản quốc gia bị tổn thất rất lớn, thật
là một tội ác rất nặng vậy.
