B.2.2.15.
TỊCH GIÁO GIỚI
(giới
không được dạy giáo lý)
Kinh
văn:
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử tự Phật đệ tử cập ngoại đạo
ác nhân...” cho đến câu “...phạm khinh cấu tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
là Phật tử đối với những hạng người từ đệ tử Phật,
lục thân, tất cả thiện tri thức, đến ngoại đạo, ác
nhân, đều phải khuyên bảo họ thọ trì kinh luận Ðại Thừa,
nên giảng cho họ hiểu nghĩa lý, khiến họ phát Bồ Ðề
tâm, Thập Phát Thu Tâm, Thập Trưởng Dưỡng Tâm, Thập Kim
Cương Tâm. Trong ba mươi tâm ấy, giảng cho họ hiểu rõ pháp
dụng và tuần thứ của mỗi món. Nếu Phật tử vì ác tâm,
sân tâm, đem kinh luật của Thanh Văn, Nhị Thừa cùng các bộ
luận của ngoại đạo, tà kiến để dạy cho người một
cách thiếu cân nhắc, Phật tử này phạm khinh cấu tội.
Lời
giảng:
Giới
“phóng hỏa thiêu đốt” ở trước là để phòng ngừa sự
tổn hại ở bên ngoài. Giới cấm giảng dạy “tà tịch”
này khuyên Phật tử phải nên đem Phật pháp giáo hóa, làm
lợi ích, ủng hộ bên trong nội tâm của hành giả tu học
Phật pháp, tránh được những sự độc hại của các tư
tưởng khác, có thể sanh ra những hành vi chống trái. Ðây
là một việc vô cùng trọng yếu.
Bồ
Tát là người tu học theo Ðại Thừa, đã là một hành giả
Ðại Thừa, đáng lẽ phải đem giáo pháp Ðại Thừa truyền
dạy cho chúng sanh, khiến cho chúng sanh noi theo pháp Ðại Thừa
mà tu học, để được sự lợi ích rốt ráo thì mới phù
hợp với tôn chỉ của Bồ Tát, và xứng đáng được gọi
là Bồ Tát. Cho nên trong kinh Duy Ma Cật, phẩm Phương Tiện
nói: “Khi vào những địa phương để diễn giảng, luận
nghị, phải đem giáo pháp Ðại Thừa mà dẫn dắt chúng sanh”
là để biểu lộ tinh thần này.
Kinh
Pháp Hoa cũng dạy: “Nếu đem giáo pháp Tiểu Thừa giáo hóa
chúng sanh thì ta bị lỗi xan tham, việc này là không thể được”.
Lời
dạy trong kinh là khuôn thước gương mẫu mà Phật tử Ðại
Thừa cần phải học tập.
Kinh
Duy Ma Cật, phẩm đệ tứ nói thêm: “Dùng tâm Ðại Bi tán
thán pháp Ðại Thừa, nghĩ nhớ đền đáp thâm ân của Phật,
cần phải làm cho ngôi Tam Bảo không đoạn tuyệt, rồi sau
mới giảng nói chánh pháp”.
Bồ
Tát không thể không nói pháp, mà đã nói pháp thì phải tán
thán công đức thù thắng của Ðại Thừa, khiến cho người
nghe pháp phát tâm tín phụng pháp Ðại Thừa để đạt đến
kết quả cứu cánh thành Phật.
Nếu
người nào có thể thuyết pháp như vậy, chẳng những có
thể đền trả thâm ân của Phật, lại còn làm cho ngôi Tam
Bảo không đoạn tuyệt.
Bằng
cách nào khiến cho ngôi Tam Bảo không đoạn tuyệt?
Thường
thuyết pháp chính là làm cho ngôi Tam Bảo không đoạn tuyệt
vậy!
Người
nghe pháp rồi, phát tâm xuất gia, hành Bồ Tát đạo, chính
là làm cho Tăng Bảo không đoạn tuyệt. Hành giả xuất gia
hành Bồ Tát đạo kia, tương lai quyết sẽ thành Phật, là
làm cho Phật Bảo không đoạn tuyệt. Chúng ta thấy Bồ Tát
đem chánh pháp giáo hóa chúng sanh, cần phải tuyên nói pháp
Ðại Thừa là một điều hết sức trọng yếu. Nếu không
thực hành như thế, mà trái lại, đem giáo pháp Tiểu Thừa
vì chúng sanh thuyết pháp, điều đó, chẳng những trái với
chân lý của Phật pháp, mà cũng trái với bổn nguyện của
chính mình.
Nên
bất luận thế nào, đều không thể làm như vậy được.
Vì người nghe pháp, nghe bạn tuyên thuyết giáo pháp Tiểu
Thừa, sẽ hình thành một thứ thành kiến chủ yếu trước
tiên, gây chướng ngại cho việc tiến bước trên con đường
Bồ Ðề của họ; thậm chí còn làm cho họ khởi tâm hủy
báng pháp Ðại Thừa.
Sự
di hại này không có pháp gì đánh giá được, nên kinh Ðại
Tập nói: “Khuyên dạy chúng sanh tu học pháp Tiểu Thừa,
đấy là ma nghiệp”. Ðối với giáo pháp Tiểu Thừa, còn
không nên vì chúng sanh giảng nói, huống chi giảng nói các
luận ngoại đạo, tà kiến ư?
Người
giảng nói pháp Tiểu Thừa và các bộ luận ngoại đạo, tà
kiến phải mắc tội khinh, trọng như thế nào?
Việc
này cần phải xem xét động cơ thúc đẩy bạn như thế nào
mới quyết định được.
Nếu
động cơ phát xuất từ sự hiểu lầm mà giảng nói, thì
tội này rất nhẹ. Vì bạn không phải cố ý giảng nói những
lý luận ấy cho mọi người. Chỉ vì bạn lầm cho rằng những
pháp Tiểu Thừa hoặc lý luận ngoại đạo ấy đối với
chúng sanh không gây tổn hại chi.
Nếu
do ác tâm mà giảng nói cho người, thì tội có phần nặng
hơn:
-
Như trường hợp nếu bạn biết rõ pháp Tiểu Thừa là không
rốt ráo, các bộ luận của ngoại đạo, tà kiến sẽ đoạn
tuyệt huệ mạng của chúng sanh, nhưng vì tâm tật đố xui
giục, bạn cho rằng nếu người khác tu học Phật pháp Ðại
Thừa, sự tu hành sẽ siêu thắng hơn mình. Vì thế, bạn chỉ
giảng nói pháp Tiểu Thừa để cho người ấy vĩnh viễn không
thể tu học Phật pháp Ðại Thừa, vĩnh viễn phải thua sút
bạn.
-
Hoặc do tâm sân hận sai khiến, vì người kia có nhiều lỗi
lầm đối với bạn, nhưng bạn lại phải giảng nói chánh
pháp cho người ấy, nên nội tâm bạn không thích giảng nói
pháp môn rốt ráo Ðại Thừa. Bạn bèn giảng nói pháp Tiểu
Thừa hay các bộ luận ngoại đạo, tà kiến để cho người
ấy không thể tiến lên con đường thành Phật.
Những
loại thuyết pháp như vậy, tội lỗi đương nhiên sẽ rất
lớn.
Ðức
Phật đối với đại chúng dạy rằng: “Nếu là một Phật
tử thọ Bồ Tát giới, khi muốn giáo hóa chúng sanh, từ bậc
đệ tử Phật nội chúng, đến ngoại đạo, người ác, ngoại
chúng, hoặc lục thân gồm cả nội ngoại chúng, và tất cả
thiện tri thức có quan hệ với mình đều phải mỗi mỗi
khuyên bảo thọ trì kinh luật Ðại Thừa nên giảng dạy cho
hiểu nghĩa lý.
Vì
sao gọi Phật tử là nội chúng? Vì Phật tử học nội giáo
của Phật pháp, chuyên nghiên cứu nội tâm của chính mình,
không theo ngoại cảnh mà dong ruổi tìm cầu.
Vì
sao gọi ngoại đạo là ngoại chúng? Vì một phần trong bộ
phận tư tưởng ngoại đạo không tin hệ thống nhân quả
do trước sau sanh nhau, không thừa nhận lý nhân quả thiện
ác, dụ dẫn chúng sanh vào con đường sai lầm. Cho nên, nếu
không bị trượt té vào hố sâu thường kiến cũng sa vào
ao bùn đoạn kiến. Không thể dùng cáchh gì có thể từ hố
sâu ao bùn ấy mà thoát ra ngoài, đến nỗi đoạn mất hạt
giống Như Lai, vĩnh viễn bị trầm luân không bao giờ siêu
thoát được.
Vì
thế, trong kinh Ðức Phật từng dạy chúng ta rằng: “Tất
cả chúng sanh vốn rất thuần thiện, không có gì gọi là
Tà. Sở dĩ đi vào con đường tà, hoàn toàn do sự dẫn dắt
sai lầm của của Thầy mà không biết, không hay nên bị đọa
vào tam ác đạo. Thật là đáng thương xót biết bao!”
Lục
thân vì sao bao gồm cả nội ngoại chúng? Vì lục thân có
sự tín ngưỡng tôn giáo không đồng nhau. Người thì tin theo
giáo lý của Phật pháp, người lại tín ngưỡng giáo lý của
ngoại đạo. Không phải bản chất tín ngưỡng tôn giáo bất
đồng, nhưng do cơ duyên gặp gỡ của mỗi người một khác
nên mới có sự tín ngưỡng sai khác.
Thiện
tri thức là những người có quan hệ với mình, như lương
bằng, thiện hữu quen biết nhau, nhưng chưa tiến vào trong
Phật pháp, không phải là các vị sư phạm trong pháp môn hay
các vị pháp lữ đồng tu, hoặc các giáo thọ thiện tri thức.
Ðối
với tất cả mọi người, hoặc nội ngoại chúng, hoặc lương
bằng, thiện hữu như thế khi đem Phật pháp giáo hóa, tuyệt
đối không nên đem giáo pháp Tiểu Thừa giảng dạy, dẫn
dắt mà phải tuần tự giáo hóa dẫn dắt họ tu học từng
bước một.
Trước
tiên, phải khuyên bảo họ thọ trì, đọc tụng kinh luật
Ðại Thừa, kế đó giảng dạy cho họ hiểu rõ nghĩa lý trong
kinh luật.
Kinh
luật thuộc về năng thuyên, nghĩa thuộc về sở thuyên.
Kinh
luật Ðại Thừa khi họ chưa đọc tụng, dĩ nhiên phải dạy
họ đọc từng chữ, từng câu. Khi họ đọc tụng được
rồi, phải vì họ giảng nói nghĩa lý trong ấy, giúp họ hiểu
rõ một cách minh bạch nội dung những vấn đề hàm chứa
trong kinh luật một cách rốt ráo.
Nếu
chỉ đọc tụng mà không minh bạch thì không thể thu hoạch
được lợi ích lớn lao. Thông thường, hiện nay các nhân
sĩ tu học Phật pháp, chỉ thọ trì, đọc tụng văn cú trong
kinh luật, còn phần tư tưởng, nội dung thì không cần tìm
hiểu cho thấu đáo. Việc này không được kiện toàn cho lắm!
Tín
giải và thông đạt ý nghĩa kinh luật cũng chưa đủ, cần
phải tiến thêm một bước nữa là giúp người y theo nghĩa
lý Ðại Thừa phát khởi tâm vô thượng Bồ Ðề. Từ đó,
có thể tiến mãi lên từng địa vị và giai cấp khác nhau.
Ở
đây nói phát tâm Bồ Ðề, đối với lập trường tu học
Ðại Thừa Phật pháp là một sự kiện rất trọng yếu. Vì
thế bạn thực sự có trở thành một hành giả Ðại Thừa
hay không, hoàn toàn do bạn đã phát tâm Bồ Ðề hay chưa?
Nếu chưa thì dù bạn có thọ trì kinh luật Ðại Thừa như
thế nào, hoặc bạn thông hiểu nghĩa lý Ðại Thừa rõ ràng
như thế nào, cũng đều không thể gọi bạn là một hành
giả Ðại Thừa.
Do
đây, chúng ta có thể nhận thấy rõ sự trọng yếu của vấn
đề phát Bồ Ðề tâm. Nhưng phát Bồ Ðề tâm cần phải
hiểu rõ nghĩa lý Ðại Thừa mới là thực sự phát Bồ Ðề
tâm. Nếu chưa chân thật hiểu rõ, thì không thể nói là phát
Bồ Ðề tâm. Mà dù có phát Bồ Ðề tâm thì cũng không thể
gọi là chân chính. Vì thế, hiểu rõ phát Bồ Ðề tâm là
một sự kiện hết sức trọng yếu.
Cổ
đức còn giải thích như sau:
-
Nếu chỉ hiểu rõ nghĩa lý Ðại Thừa của kinh luật mà không
phát khởi tâm đại Bồ Ðề, thì dù có trí huệ, chẳng qua
là cuồng huệ mà thôi.
-
Nếu chỉ biết phát Bồ Ðề tâm, mà không hiểu rõ nghĩa
lý kinh luật Ðại Thừa, thì dù có phát đại tâm Bồ Ðề
cũng chỉ làm tăng trưởng thêm vô minh.
Vô
minh tăng trưởng thì không đi lên con đường lớn Bồ Ðề.
Cuồng huệ thì có thể bị đọa lạc trong tam ác đạo.
Vì
thế, hai vấn đề hiểu rõ nghĩa lý và phát tâm đại Bồ
Ðề cần phải trợ giúp lẫn nhau, không được thiên lệch
hay bỏ sót một bên nào.
Khi
đã phát tâm đại Bồ Ðề, cần phải tu theo hạnh Bồ Ðề,
hướng về Phật quả tối cao, và theo thứ tự mà đi lên:
-
Ðầu tiên, hành giả quy hướng về Thập Phát Thú tâm.
-
Kế đó, bước vào Thập Trưởng Dưỡng tâm.
-
Cuối cùng, tiến lên bực Thập Kim Cương Tâm.
Ðối
với sự tu học trong ba mươi tâm này, cần phải giải thích
pháp dụng và tuần thứ của mỗi thứ, tức là giảng dạy
cho hành giả hiểu rõ:
-
Ở địa vị bực hiền hạ phẩm (thập Phát Thu tâm), phải
tu tập quán hạnh như thế nào?
-
Ở địa vị bực hiền trung phẩm (thập trưởng dưỡng tâm),
phải tu tập quán hạnh như thế nào?
-
Ở địa vị bực hiền thượng phẩm (thập kim cương tâm),
phải tu tập quán hạnh như thế nào?
Giảng
dạy rành rẽ như thế mới có thể gọi là Bồ Tát lợi mình,
lợi người.
Vì
sao? Vì ba mươi tâm này là những thứ bậc tu hành đầu tiên
để bước vào địa vị thánh nên mang tính chất trọng yếu
phi thường. Ở giai đoạn này, nếu tu hành sai lệch một chút,
chẳng những không thể chứng đắc quả vô thượng Bồ Ðề,
mà còn không thể bước lên bậc Thập Ðịa. Việc tu tập
của hành giả mới phát tâm đúng theo pháp hay không, đều
tùy thuộc nơi vị đại tâm Bồ Tát giảng giải rõ ràng tuần
thứ của mỗi loại tâm hay không, để cho hành giả mới phát
tâm tuần tự tiến bước khỏi phải lầm lộn.
Nếu
vị đại tâm Bồ Tát không giải thích rành rẽ mỗi tâm để
cho hành giả mới phát tâm cứ tiến bước một cách lầm
đường lạc ngõ, thì sẽ gặp những trở lực không thể
khắc phục, cũng như không thể tránh khỏi những hiểm nguy.
Vì
thế, bổn phận của một vị Bồ Tát có đại tâm là phải
giải thích cặn kẽ để hàng sơ học hiểu thấu đáo, tuần
tự tu hành theo thứ lớp, tránh khỏi sự lộn xộn, sai lầm.
Ðúng
nguyên tắc, một vị Bồ Tát tu học Ðại Thừa phải đem
phương pháp tu thành Phật dạy bảo, dẫn dắt chúng sanh thì
mới đúng là cương vị là Bồ Tát chân chánh. Nhưng trái
lại, nếu vị Bồ Tát lại vì ác tâm, sân tâm, đem kinh luật
của Thanh Văn, Nhị Thừa và các bộ luận của ngoại đạo,
tà kiến dạy cho người, đương nhiên Phật tử này phạm
khinh cấu tội.
Giảng
giải như vậy là vì đối với người sở giáo, bạn có tâm
bất mãn, hoặc không xứng đáng cho bạn dạy bảo, dẫn dắt,
hoặc họ có thể làm giảm sự lợi ích của bạn trong tương
lai. (Năng giáo là người giảng dạy kinh pháp, sở giáo là
người nghe học kinh pháp).
Nếu
vì người mà giảng nói pháp Tiểu Thừa, hoặc các bộ luận
tà kiến, ngoại đạo không hợp với căn cơ của họ, sẽ
khiến căn tánh của họ phát triển theo chiều hướng sai lầm,
như thế sẽ rất luống uổng.
Nếu
do sân tâm mà giảng nói những giáo pháp không mang tính chất
ứng theo bệnh mà phát thuốc, khác nào như cây gỗ thẳng
tốt mà làm cho cong hư, đồ đẹp quý mà dùng chứa những
vật dơ xấu. Nói một cách nghiêm khắc hơn, người có căn
tánh Ðại Thừa mà bạn đem giáo pháp Tiểu Thừa giảng nói
còn không thể được, huống chi lại đem các bộ luận ngoại
đạo, tà kiến giảng dạy cho người.
Bồ
Tát cần phải thực hành hạnh tự lợi, lợi tha mà trái lại,
đi giảng nói pháp tà tịch, làm cho người tu học đi vào
chỗ sai lầm như thế là đoạn huệ mạng của Phật, cả
mình và người đều bị tổn hại, nên không thể tránh khỏi
tội lỗi. Vì thế, trường hợp này kết thành tội khinh cấu.
Ở
đây có người hỏi: Nếu nói như thế vì sao trong luận Du
Già dạy rằng:
“Có
người đến cầu pháp, trước tiên phải hỏi chủng tánh
của họ:
Nếu
người ấy có trí huệ nói rõ căn tánh của mình, thì tùy
theo căn tánh người ấy mà chọn lấy một trong ba thừa thích
hợp để giảng nói.
Nếu
người ấy không tự biết chủng tánh của mình, Bồ Tát nên
vì người ấy nói rõ pháp Tam Thừa. Người ấy nghe xong, sẽ
tùy theo căn tánh của họ, tùy theo chỗ phát tâm mà giảng
nói các giáo pháp, hoặc Thanh Văn, hoặc Duyên Giác hay Bồ
Tát. Tùy theo chỗ thích hợp với căn tánh của mỗi người
mà giúp họ tu học”.
Xin
giải đáp:
Chỗ
cấm chế của giới này là việc sanh khởi ác tâm chứ không
phải là hoàn toàn không nên giảng nói pháp Thanh Văn. Nhưng
trong lúc giảng nói pháp Thanh Văn, nen nhận định đó chỉ
là phương tiện tiếp dẫn mà thôi, không nên xem đó là phát
rốt ráo chân thật. Sau này cần phải tiến thêm bước nữa
là đem pháp Ðại Thừa giảng dạy cho chúng sanh để cùng
tiến lên con đường lớn vô thượng Bồ Ðề, để cuối
cùng đạt đến cứu cánh thành Phật. Cho nên lời kinh này
đối với luận Du Già hoàn toàn không trái nghĩa nhau.
Lại
có trường hợp vì cần phá trừ vọng chấp của học giả
Tiểu Thừa, nên cần phải giảng nói pháp Tiểu Thừa để
họ thấy rõ tôn chỉ của Tiểu Thừa và không còn định
kiến chấp chặt: cho cương vị Tiểu Thừa là mãn túc. Trường
hợp này không trái phạm giới.
Hoặc
trong trường hợp vì thiện ý, muốn cho những hành giả sơ
tâm tu học Phật pháp có nhận thức toàn bộ đối với thánh
giáo trong thời đại của Ðức Phật. Nhưng phải hết sức
khéo léo, tránh cho những người nghe pháp có chỗ đắm nhiễm.
Trường hợp này giảng nói pháp Thanh Văn không bị trái phạm
giới luật.
Ðầu
tiên, Bồ Tát phát tâm Bồ Ðề chính vì thấy Pháp tạng của
Bồ Tát sắp tiêu diệt. Trong tình huống nghiêm trọng phi thường
này, bổn phận người Phật tử phải đứng ra hộ trì để
pháp tạng khỏi bị tiêu diệt trên thế gian.
Vì
pháp tạng của Bồ Tát có lợi ích rất lớn đối với chúng
sanh, có thể trừ diệt vô lượng đại thống khổ cho chúng
sanh, nếu không phát tâm đứng ra hộ trì, để cho pháp tạng
của Bồ Tát bị mai một, thì thật là một đại bất hạnh.
Vì thế Phật tử phải mạnh mẽ nhận thức rằng: nếu mình
không hộ trì pháp tạng của Bồ Tát thì ai hộ trì!
Do
tự mình đã vì hộ trì pháp tạng của Bồ Tát mà phát tâm
Bồ Ðề, giáo hóa tất cả chúng sanh, như vậy có thể nào
lại đem pháp Tiểu Thừa mà hóa độ?
Giới
này thất chúng Phật tử đều phải vâng giữ, nhưng Ðại,
Tiểu Thừa không hoàn toàn giống nhau. Phái Tiểu Thừa vì
học tập theo Tiểu Thừa nên giảng nói pháp Tiểu Thừa. Trường
hợp này không phạm giới luật. Nhưng nếu đem luận ngoại
đạo, tà kiến mà giảng dạy người thì đồng phạm tội
như Ðại Thừa.
