B.2.2.16.
VỊ LỢI ÐẢO THUYẾT GIỚI
(giới
cấm vì lợi mà nói pháp điên đảo, lộn lạo)
Kinh
văn:
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử ưng hảo tâm tuyên học Ðại Thừa
oai nghi kinh luật...” cho đến câu “...phạm khinh cấu tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
Phật tử tận tâm học kinh luật oai nghi Ðại Thừa, thông
hiểu nghĩa lý, khi thấy có hàng tân học Bồ Tát từ xa trăm
nghìn dặm đến cầu họckinh luật Ðại Thừa, Phật tử này
nên đúng như pháp, giảng giải tất cả khổ hạnh: hoặc
đốt thân, đốt cánh tay, đốt ngón tay. Nếu không đốt thân
hay cánh tay, ngón tay cúng dường chư Phật, thời không phải
là hạng Bồ Tát xuất gia. Nhẫn đến xả thịt nơi thân mình
cùng tay chân mà bố thí cho tất cả những cọp sói, sư tử
đói cùng tất cả loài quỷ đói. Rồi sau đó mới căn cứ
theo từng căn cơ của mỗi người mà tuần tự giảng pháp
cho hàng tân học ấy được mở thông tâm trí. Nếu Phật
tử vì quyền lợi cá nhân, trường hợp nên dạy mà không
dạy, lại giảng kinh luật một cách điên đảo, văn tự lộn
xộn, không theo thứ tự trước sau, thuyết pháp có tính cách
hủy báng Tam Bảo, Phật tử này phạm khinh cấu tội!
Lời
giảng:
Giới
“giảng nói pháp tà tịch” phía trước là nói về trường
hợp nên giảng dạy mà không chịu dạy, hoặc không nên dạy
mà lại dạy. Giới “vì lợi giảng pháp lộn xộn” này
là lỗi xan lẫn chánh pháp, mong cầu tài lợi, không ứng hợp
theo thời nghi mà giảng nói, cho nên Ðức Phật cấm.
Là
một hành giả Bồ Tát, lẽ ra nên học tập tất cả những
điều cần phải học tập để tạo cho mình được đầy
đủ tri kiến. Khi đã có đủ khả năng giáo hóa người thì
phải đem tất cả chỗ hiểu biết của mình đã học tập
ra để dạy bảo dẫn dắt người, không nên giữ lại mảy
may nào, hầu giúp cho mọi người đều được hưởng thọ
sự lợi ích của chánh pháp Như Lai.
Nhưng
nếu vị Bồ Tát vì tham tâm quá mức, chẳng những không chịu
tự mình vì người giảng nói chánh pháp, mà người khác đến
thỉnh cầu chánh pháp cũng không chịu vì người mà giảng
nói trong tinh thần vô điều kiện. Nói hẳn ra, tức là cần
phải có sự thỏa thuận giá cả mới chịu giảng nói. Tham
tài lợi, xan lẫn chánh pháp dường ấy, làm cho những người
có khả năng kinh tế bị kém thiếu, mất hẳn cơ hội nghe
chánh pháp, nên không thể tiến lên thực hành Bồ Tát đạo,
làm đoạn tuyệt hột giống của chư Phật. Tội lỗi này
lớn biết dường nào!
Ðức Phật đã nhận thức điều này một cách thấu suốt,
nên đặc biệt, Ngài vì chư vị Bồ Tát phát tâm độ sanh,
chế lập giới này để chư vị đồng vâng giữ, sao không
cho trái với Bồ Tát đạo, và cũng giúp cho Phật chủng không
bị đoạn diệt.
Nếu
vì mong cầu tài lợi mà giảng nói chánh pháp lộn xộn, chẳng
những không hợp với phương pháp giáo hóa mà cũng trái với
bổn nguyện hoằng hóa. Cho nên vì lợi mà thuyết pháp là
điều Ðức Phật tuyệt đối không cho phép, huống chi việc
giảng nói chánh pháp của Như Lai một cách lộn lạo?
Trong
kinh Phật Tạng, Ðức Phật dạy: “Ta quyết định không cho
phép một người nào vì cầu lợi mà thuyết pháp. Ta chỉ
cho phép tỳ kheo trì giới thanh tịnh, ngồi trên tòa cao thuyết
pháp. Nếu đối với chánh pháp có tâm xan lẫn, chỉ nghĩ
đến tiền bạc, vật dụng, rồi dần dà biếng nhác, không
đúng như pháp mà thuyết pháp đều quyết định không được.
Là
một vị Bồ Tát chân chánh, phát Bồ Ðề tâm, đối với
đại chúng nghe pháp, không nên có tâm hy vọng và mong cầu
một mảy may gì về quyền lợi. Cần phải thường suy nghĩ
như vầy: ta vì chúng sanh giảng nói chánh pháp, hoàn toàn không
mong cầu một cái gì cả. Chỗ mong cầu duy nhất của ta là
muốn cho chính mình cùng tất cả chúng sanh tương lai đồng
thành Phật đạo. Nếu như đạt được mục đích ấy, thì
công đức thuyết pháp của ta thâu được chính là “tự
cụ an lạc” bậc nhất, ngoài ra, ta không mong cầu gì khác.
Nếu có chỗ mong cầu nào khác là mất hẳn tư cách của người
làm công tác sư phạm.
Cổ
đức cũng dạy rằng: “Nếu không lo lót riêng thì không truyền
trao chánh pháp, có thâu hoạch được tài lợi thì mới đem
hết chỗ hiểu biết của mình giảng nói. Ðó là lối buôn
bán, đâu phải là bản hoài hoằng pháp độ sanh của bậc
đại sĩ?”
Chẳng
những không phải là bản hoài của Ðại Sĩ, mà so với tinh
thần nghiệp vụ của một thầy giáo bình thường ngoài xã
hội cũng không bằng. Như vậy còn nói gì đến việc hoằng
pháp lợi sanh?
Vì
nhiếp hộ hàng tân học Bồ Tát khiến vào chánh pháp Ðại
Thừa, đồng thời chánh hạnh có chỗ y chỉ, nên Ðức Phật
chế lập giới điều này.
Vì
muốn hộ trì chánh pháp của Như Lai, cũng như việc truyền
đăng không bị đoạn tuyệt, Ðức Phật chế lập điều giới
này khiến cho những vị thuyết pháp cùng người nghe pháp
đều thành chủng tánh Ðại Thừa.
Vì
muốn bảo hộ những giới cấm cùng giới pháp trong thập
giới trọng, khiến cho hàng Bồ Tát nhận thức nên vì chúng
sanh thuyết pháp, không giữ lại riêng mình một pháp nào,
dù nhỏ đến mảy may, nên Ðức Phật chế lập giới điều
này.
Ðại
Thừa lấy việc lợi tha làm cơ bản, mà phương tiện tối
thắng của việc lợi tha không gì hơn việc phát tâm hoan hỷ,
sốt sắng, khoái lạc để giảng nói chánh pháp của đức
Như Lai đã chứng đắc cho chúng sanh nghe, không bao giờ sanh
tâm nhàm chán, biếng nhác, khiến chúng sanh từ trong việc
nghe pháp được thọ dụng Phật pháp, cuối cùng thành quả
vô thượng Bồ Ðề tối cao.
Ðức
Phật đối với đại chúng dạy rằng: “Nếu là một vị
Phật tử đã thọ giới Bồ Tát, đáng lẽ phải có hảo tâm
học hỏi kinh luật oai nghi Ðại Thừa, rộng khai nghĩa vị”
(hai câu này dịch ra Việt văn là: “Phải tận tâm học kinh
luật oai nghi Ðại Thừa, thông hiểu nghĩa lý”).
Kinh
văn nói: “Hảo tâm” là điều kiện đầu tiên của việc
học Phật pháp, động cơ phải thuần chánh. Ngược lại,
nếu dùng động cơ không thuần chánh tu học Phật pháp, thì
không bao giờ có kết quả tốt. Nói rõ hơn, đó là sự ôm
ấp tâm niệm lợi dưỡng mà học Phật pháp.
Nên
kinh Lăng Nghiêm dạy: “Nhân địa không chân chánh thì kết
quả bị cong vạy” là ý này.
Trong
Phật pháp, nói đến hảo tâm là nói tâm thượng cầu hạ
hóa, tự tha kiêm lợi.
Sau
khi phát hảo tâm như thế rồi, việc cần làm trước tiên
là cần học kinh luật, oai nghi Ðại Thừa, riêng hành giả
Tiểu Thừa cũng cần phải học tập kinh luật, oai nghi của
Tiểu Thừa.
Theo
trong kinh giải thích:
-
Kinh là thuyên giải về Ðịnh học, thực hành theo đó có
thể thành tựu được các thiện pháp.
-
Luật là thuyên giải về Giới học, thực hành theo đó có
thể biểu hiện oai nghi phép tắc. Ðối với hành giả tu học
Phật pháp, oai nghi là vấn đề hết sức trọng yếu.
Học
Phật là một đại sự siêu phàm nhập thánh. Nếu một người
oai nghi không nghiêm chỉnh và đầy đủ, chẳng những không
thể biểu hiện những nét đặc sắc của người Phật tử,
lại còn tưởng muốn sự tự đi sâu vào Phật pháp, tự tu
để đạt đến chỗ chứng đắc thì không thể được.
Trường
hợp hai chữ “oai nghi”, cổ đức giải thích như sau:
-
Có oai đáng sợ, có nghi đáng kính.
Hành
giả tu học Phật pháp, muốn được sự kính sợ của quần
chúng, điều kiện tiên quyết là tự mình phải có oai. Nếu
hành vi, hoạt động của bạn tự tiện tùy ý thì rất khó
có được sự kính sợ của quần chúng.
Muốn
nhứt cử nhứt động của bạn có thể làm mô phạm cho người,
điều kiện tiên quyết là hạnh nghi của bản thân bạn phải
theo đúng quy, đúng củ. Trái lại, nếu không như vậy thì
rất khó khiến người bắt chước theo.
Theo
kinh luật Ðại Thừa, tu học cần phải có oai nghi. Nhưng đó
chỉ là thể hiện hành vi tốt đẹp bên ngoài, chứ không
thể sánh bằng sự hiểu biết Phật pháp bên trong.
Tiến
lên một bực nữa, người Phật tử phải cầu học để hiểu
rõ kinh luật Ðại Thừa:
-
Kinh luật là văn tự năng thuyên, chỉ thú sở thuyên là nghĩa
lý. Trong nghĩa lý chứa đựng pháp vị vô cùng, đó là vị.
Ðối với nghĩa thú, pháp vị này, cần phải cầu cho hiểu
thật rõ, và hiểu một cách rộng rãi. Cho nên kinh văn nói:
“Rộng khai giải nghĩa vị” (dịch là: “Thông hiểu nghĩa
lý”).
Có
chỗ giải thích rằng Khai là ý thông đạt vô ngại, chữ
Giải là khế ngộ không nghi; chữ Nghĩa là Sự và Lý trong
kinh luật; chữ Vị chỉ chỗ nhiệm mầu, uyên áo bên trong.
Khế
ngộ tông thú của kinh luật, thông đạt ý vị sâu xa của
nghĩa lý, rồi sau mới đem chánh pháp lợi ích quần sanh. Như
thế mới thấy được sự lợi ích của chánh pháp.
“Học
oai nghi Ðại Thừa” là để nghiêm giữ thân tâm mình. Bên
trong thì chứa đức sư tử, bên ngoài thị hiện oai nghi tượng
vương, hoàn thành tịnh hạnh cho chính mình.
“Rộng
khai nghĩa vị” là chứng tỏ sự hiểu biết không phải nông
cạn, mà là thông suốt giáo điển Tam Tạng, minh đạt yếu
nghĩa của các bộ kinh mà đại khai viên giải chơn thường
(chỉ sự hiểu biết trọn vẹn đầy đủ rộng sâu, không
có chướng ngại).
Hạnh
và Giải tương ưng như thế mới có thể làm sư phạm cho
hàng hậu học.
Vì
vậy, làm một vị Bồ Tát hóa độ chúng sanh, không phải
đơn giản như thế nhân thường tưởng tượng, mà cần phải
có đủ Hạnh Giải song toàn mới xứng đáng với tư cách
của vị sư phạm.
Nếu
có Giải mà không có Hạnh vẫn không đáng làm thầy người.
Trái lại, chỉ có Hạnh mà không Giải cũng khó thực hành
việc giáo hóa. Cho nên muốn cầu hạnh lợi mình, lợi người,
điều trước tiên là phải kiện toàn đức hạnh và học
vấn. Oai nghi kinh luật là phép tắc mô phạm hóa đạo của
Ðại Thừa. Thông hiểu nghĩa lý là cửa ngõ tiến tu của
Ðại Thừa. Vì thế, Bồ Tát muốn cầu việc tự hành hóa
tha, trước tiên phải lo học tập cho hoàn bị.
Một
vị Bồ Tát phát Bồ Ðề tâm, nếu đối với oai nghi, kinh
luật Ðại Thừa và sự thông hiểu nghĩa lý, sanh lòng xem
thường, thì chẳng những không thể làm tốt đẹp cho hạnh
lợi sanh mà ngay chính việc tự lợi cũng không thành. Chúng
ta hãy xem trong các kinh điển Ðại Thừa, tất cả các vị
Bồ Tát hành Bồ Tát đạo, không có vị nào mà không thành
tựu oai nghi cũng như tinh thông Phật pháp.
Ở
trong Phật pháp, mình là người tu học, trước nhất cần
phải từ những kinh nghiệm thực tế để thể hội vào những
chỗ sâu xa, hạnh giải không nên riêng bỏ. Nếu đã được
như vậy, hiện tại nếu thấy “hàng tân học Bồ Tát từ
trăm nghìn dặm đến cầu kinh luật Ðại Thừa, nên đúng
như pháp mà giảng giải tất cả khổ hạnh”.
Kinh
văn gọi “hàng tân học Bồ Tát” là chỉ cho hàng Bồ Tát
mới phát tâm, tức là những người mới vào cửa đạo, chưa
hiểu tí gì trong Phật pháp, nhất là kinh luật Ðại Thừa.
Hiện tại, quý vị ấy không nề cực nhọc, khổ sở, có
người từ phương xa hàng trăm dặm, có người từ nghìn dặm,
đến nơi bạn thỉnh cầu học kinh luật Ðại Thừa. Do đó,
chúng ta có thể thấy rõ tâm chân thiết cầu pháp của các
vị ấy.
Là
một vị Bồ Tát đã hiểu rõ kinh luật Ðại Thừa, phụng
hành Phật pháp, bạn cần phải quán xét căn cơ của mỗi
người, đem chỗ hiểu biết của mình dạy bảo, dẫn dắt
cho quý vị ấy hiểu rõ ý nghĩa nội dung và phụng hành theo
oai nghi của kinh luật Ðại Thừa, để thành một vị Bồ
Tát danh phù hợp với thật.
Muốn
như thế thì phải giảng nói những pháp gì?
Trước
tiên là phải đúng theo pháp giảng nói tất cả những hạnh
khổ khó làm của hàng Ðại Thừa Bồ Tát cần phải thực
hành.
Tại
sao trước tiên lại vì hàng tân học giảng nói những khổ
hạnh khó làm, mà không giảng nói một đạo lý nào khác?
Ðối với những người mới phát tâm, nếu giảng nói những
khổ hạnh, có làm cho quý vị ấy thối thất tâm đạo hay
không?
Không!
Chính vì muốn cho tâm chí của quý vị ấy được kiên cố,
nên mới giảng nói những khổ hạnh khó làm, nghĩa là có
thâm ý dạy bảo cho hàng tân học biết rằng: pháp Ðại Thừa
của Như Lai không phải dễ cầu, hay muốn cầu thì sẽ có
ngay liền (vấn đề này cần nên nhớ lại tích của tổ Huệ
Khả cầu pháp với tổ Ðạt Ma thì rõ).
Do
đó, phải hết sức tôn trọng chánh pháp, tôn trọng đến
mức hy sinh thân mạng của mình cũng không bỏ cơ hội cầu
pháp. Nếu không có ý chí quyết liệt như vậy thì trên bước
đường cầu học kinh điển Ðại Thừa của bạn, nếu gặp
duyên thuận lợi thì bạn có thể trường kỳ tu học.
Trái
lại, nếu gặp hoàn cảnh trái nghịch khó khăn thì bạn dễ
thối thất tâm ban đầu. Nhưng nếu ý chí cầu pháp của bạn
cương quyết phi thường thì dù gặp những hoàn cảnh khó
khăn đến đâu, bạn cũng đều dũng cảm thẳng tiến.
Nói
“tất cả khổ hạnh” là gồm những gì?
Việc
ấy nói ra thì rất nhiều, nhưng nói một cách đơn giản và
trọng yếu thì theo trong kinh dạy như sau: “Hoặc đốt thân,
đốt cánh tay, đốt ngón tay” để cúng dường chư Phật.
Nên lưu ý, cúng dường bằng những khổ hạnh khó làm này
không có nghĩa là chư Phật muốn thọ sự cúng dường ấy
của bạn, hay cố ý muốn cho bạn phải thọ sự thống khổ
tột độ như vậy. Nhưng chính vì muốn bạn chứng tỏ tâm
thượng cầu Phật đạo của mình đến mức tuyệt đỉnh.
Lại
nữa, nên biết nghiệp chướng của bạn thời quá khứ rất
sâu rộng. Hiện tại, nếu muốn cầu học kinh luật Ðại
Thừa, muốn nghe pháp cho tâm ý được sáng tỏ, điều kiện
tiên quyết là phải tiêu trừ nghiệp chướng thâm trọng từ
vô thỉ ấy. Muốn tội nghiệp được tiêu trừ, thì không
việc làm nào có thể nhanh chóng hơn là đốt thân, đốt cánh
tay. Những việc này không phải là khó khăn đến mức độ
hoàn toàn không thể thực hiện được. Ðức Dược Vương
Bồ Tát đốt cánh tay. Ðức Hỷ Kiến Bồ Tát thiêu thân.
Cho đến chính ngay đức Bổn Sư Thích Ca đốt đèn trên thân
để cầu một bài kệ v.v... là những bằng chứng hết sức
hùng hồn và cụ thể.
Một
điểm cần phải biết nữa là việc đốt thân, đốt cánh
tay, ngón tay, không có nghĩa muốn bạn phải hy sinh thân mạng
tức khắc, mà là giúp cho tâm chí của bạn được mở rộng,
và làm cho thệ nguyện của bạn thêm kiên cường mà thôi.
Nếu
nói rằng muốn cho bạn xả thân thì thử hỏi về sau lấy
ai là người giảng nói kinh pháp?
Thông
thường, những người không hiểu rốt ráo được ý nghĩa
này, khi vừa mới nghe phải đốt thân, cánh tay, ngón tay...
liền sanh tâm sợ hãi, khủng khiếp, cho là nếu làm như vậy
thì thân mạng không còn.
Trái
lại, nếu không thể đốt thân, cánh tay, ngón tay cúng dường
Phật, thì chứng tỏ bạn chỉ là kẻ phàm phu quá quan tâm
luyến trước tướng. Với thân tướng chưa thể thực hiện
chữ Không thì nhân ngã quá rõ ràng, không có một chút căn
khí Ðại Thừa. Do đó, kinh dạy chẳng phải là Bồ Tát xuất
gia thực hành Bồ Tát đạo. Nếu tư cách Bồ Tát chưa có,
thì còn cầu kinh luật Ðại Thừa làm chi?
Tiến
thêm một bậc nữa, chẳng những đốt thân, cánh tay, ngón
tay để cúng dường chư Phật là bổn phận của hàng tân
học Bồ Tát, mà còn phải tận lực thực hành, cho đến khi
gặp cọp, chó sói, sư tử đói, hoặc tất cả loài quỷ đói,
đều phải xả thịt trên thân và tay chân mà bố thí. Việc
này không phải muốn bạn phải hy sinh thân mạng làm lợi
ích chúng sanh, khi bạn vừa mới bắt đầu học Phật. Thật
ra đó chỉ là thể hiện tâm hạ hóa chúng sanh của bạn đến
mức tuyệt đỉnh mà thôi.
Ðồng
thời cũng để khảo nghiệm lòng cầu pháp của bạn có chân
thiết hay không. Nếu tâm cầu pháp của bạn chân thiết thì
đối với việc đem thịt của thân và tay chân bố thí cho
cọp, chó sói, sư tử đói, ngạ quỷ đói, vẫn không thấy
gì là khó khăn.
Nên
biết, sở dĩ chúng sanh từ vô thỉ chìm đắm trong sanh tử
luân hồi, không được giải thoát, nguyên nhân là do đời
đời, kiếp kiếp tham đắm yêu tiếc sanh mạng nhục thể
này, cho là thật sự của mình. Nên một khi có ai xâm phạm
đến tánh mạng, tức thời quyết liệt tranh đấu với họ
để bảo tồn sanh mạng của mình.
Nơi
đây, khuyên bảo hàng tân học Bồ Tát cầu pháp nên xả thí
sanh mạng nhục thể, mục đích là muốn cho quý vị không
chấp thân này là thật có, để không sanh tâm yêu tiếc. Nhờ
đó, mới có thể chịu đem sinh mạng của mình, hy sinh làm
lợi ích cho chúng sanh, mới biểu thị được tinh thần của
vị Ðại Thừa Bồ Tát.
Như
trong kinh kể sự tích Ma Ha Tát Ðỏa Vương Tử (tiền thân
của Bổn Sư Thích Ca) đem thân mình nuôi cọp đói là để
chứng minh tinh thần trên.
Lại
nữa, chúng ta thấy trong kinh thường dạy: “Ở thế giới
Ta Bà này, không có một chỗ nào chừng bằng một hạt cải
mà chẳng phải là nơi Bổn Sư Thích Ca xả thí đầu, mắt,
tủy, não làm lợi ích chúng sanh trong thời quá khứ của Ngài”.
Với
việc khuyên hàng tân học Bồ Tát đốt thân, cánh tay, ngón
tay cúng dường chư Phật, hoặc xả thịt trên thân mình và
tay chân để bố thí cho chúng sanh. Hành động này tác hại
đến sự sinh tồn của thân mạng, nhưng tại sao lại khuyên
những hàng tân học phải làm như thế lúc mới bắt đầu
học Phật?
Nên
biết: mục đích chủ yếu của vấn đề này là muốn phá
trừ vọng chấp của chúng sanh, giúp hàng tân học Bồ Tát
thực sự hiểu rõ sinh mạng nhục thể này là hư giả, không
thực có. Ðối với việc hy sinh thân mạng, chẳng khác nào
bỏ đôi dép rách, hoàn toàn không có giá trị gì để phải
đem tâm lưu luyến.
Ðối
với sanh mạng còn không được có một niệm yêu tiếc, huống
gì đối với những tài vật ở ngoài thân, dĩ nhiên không
cần phải nói đến. Như thế, việc tu học Ðàn Ba La Mật
không có gì là khó khăn đối với người Phật tử.
Bồ
Tát khi thực hành bố thí, chủ yếu là bên trong xả thí sinh
mạng, bên ngoài xả thí tiền tài, bảo vật. Nếu thực hành
được như thế thì mới có thể vững chắc bước lên con
đường lớn vô thượng Bồ Ðề.
Như
trên đã giảng, tất cả khổ hạnh khó làm, mục đích cốt
yếu là làm cho tâm chí của hàng sơ học được kiên cố.
Tiếp theo, giảng nói chánh pháp là cốt ý muốn cho trí huệ
của hàng tân học được tăng tiến. Vì thế, nếu không giảng
nói rõ chỗ Bồ Tát hạnh phải thực thi như thế nào, đương
nhiên sẽ khiến hàng tân học Bồ Tát cảm thấy việc tu khổ
hạnh của mình không có ý nghĩa gì cả.
Cho
nên “trước phải khai thị các khổ hạnh khó làm, rồi sau
mới tuần tự theo thứ lớp mỗi việc mà giảng nói chánh
pháp, khiến cho hàng tân học được thông mở tâm ý”.
Tuyên
thuyết chánh pháp không phải là việc dễ dàng, tùy ý muốn
nói gì thì nói, mà là phải tuần tự theo thứ lớp nhất
định. Nghĩa là, trước tiên giảng nói những pháp thô thiển
dễ hiểu, sau đó sẽ dần dần vì người giảng nói những
pháp thâm áo khó hiểu. Tuyên thuyết chánh pháp từ cạn đến
sâu như vậy, chúng sanh mới tiếp thọ được và người đến
cầu học cũng đuợc sự hứng thú.
Trái
lại, nếu đầu tiên đã vì người giảng nói pháp thậm thâm
vi diệu khiến người nghe không hiểu gì cả, không biết được
pháp của bạn nói là cái gì. Như thế, việc thuyết pháp
của bạn chẳng những không đạt được mục đích gì, lại
còn làm cho người sanh tâm sợ sệt, không dám đến nghe bạn
nói kinh pháp nữa.
Do
vậy, phải tuần tự giảng nói. Chẳng những vị Bồ Tát
đi trước cần phải tuần tự giảng nói cho hàng hậu học
như vậy, mà ngay cả Thánh giáo của Ðức Phật trong lúc sinh
thời, Ngài cũng tuần tự tuyên thuyết từ cạn đến sâu.
Lại
nữa, đối với ba môn Vô Lậu học: Giới, Ðịnh và Huệ,
đó là cương lãnh của Phật pháp, là kim chỉ nam của người
tu hành. Vì thế, nếu khai thị cho hàng tân học, cũng phải
tuần tự mà giảng nói. Nghĩa là trước nhất giảng Giới
học, kế giảng Ðịnh học, sau cùng giảng Huệ học.
Tuyệt
đối không được giảng nói lộn xộn không thứ lớp. Chẳng
những về phương diện nghĩa lý phải giảng nói như vậy,
mà đối với các giai cấp, địa vị tu hành cũng phải nói
theo thứ tự rõ ràng.
Như
trước tiên, giảng nói địa vị Thập Tín như thế nào, sau
đến các địa vị kế tiếp là Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập
Hồi Hướng, Thập Ðịa, mỗi mỗi tuần tự giảng nói như
vậy, không đuợc lộn xộn, điên đảo.
Giảng
nói chánh pháp có thứ tự như thế, trước tiên nhờ Văn
Huệ mà mở tỏ tâm hàng sơ học, khiến họ đối với tâm
không bị trệ ngại. Kế đó, dùng Tu Huệ khiến cho ý nghĩa
được hiển rõ và giúp cho ý của hàng tân học không bị
trệ phược.
Tâm
mở tỏ mới thấy được bổn nguyên tâm địa. Ý hiểu rõ
thì biết được nghĩa vị vô cùng. Tâm ý được mở thông
nhờ vậy đối với việc đăng vị chứng quả sẽ không khó
khăn. Ðây là đường lối thuyết pháp thuận theo chánh lý,
không phải theo cách lộn xộn, điên đảo.
Quên
mình lợi người đó là bản hoài của đại sĩ. Thuận theo
chánh giáo của Như Lai mà tuyên dương, ấy là bổn phận của
Bồ Tát. Nhưng nếu vị Bồ Tát học Phật pháp trước này
lại vì duyên sự lợi dưỡng hoặc vì quyền lợi không tuân
theo thứ tự, giảng nói lý chân thường một cách điên đảo,
lộn xộn, hoặc giảng giải Phật pháp một cách hư vọng
thì không thể được.
Hành
giả biết rõ giảng nói chánh pháp một cách điên đảo, lộn
xộn là trái với đạo giáo huấn, nhưng tại sao vẫn làm
như vậy?
Nguyên
nhân chỉ vì Bồ Tát phàm phu sẵn có tâm niệm tật đố ẩn
chứa bên trong, nên nghĩ rằng nếu đúng như chánh pháp mà
giảng thì tương lai, các vị nghe giảng sẽ hiểu giáo lý
hơn mình, như vậy là không thể được.
Vì
sợ người hơn mình nên mới giảng nói lộn xộn, điên đảo
để cho người nghe vĩnh viễn không bằng mình về phương
diện lý giải Phật pháp.
Hoặc
là vị Bồ Tát ấy có tâm mong cầu danh lợi, nếu những người
nghe pháp cung cấp lợi dưỡng đầy đủ cho mình thì mới
vì họ tuần tự giảng nói chu đáo. Nhưng nếu thấy sự mong
cầu danh lợi không được toại ý liền khởi tâm niệm không
tốt, chẳng hạn trường hợp cần trả lời thì không trả
lời, hoặc dù giải đáp cho người, nhưng cũng không giải
đáp thuận theo chánh lý, không hợp với chỗ người hỏi,
khiến họ không lãnh hội được lời giải đáp.
Ðây
là tội lẫn pháp, giảng nói nghĩa lý một cách mập mờ,
không rõ ràng. Chỉ vì mong cầu danh lợi nên “trường hợp
nên đáp mà không đáp, đáng dạy mà mà không dạy”, lại
thêm giảng nói kinh luật một cách điên đảo, văn tự lộn
xộn không có trước sau. Nghĩa là, vị Bồ Tát đã học chánh
pháp trước, đến lúc vì hàng tân học thuyết pháp, lẽ ra
phải giảng giải hợp với đạo lý, nhưng trái lại, giảng
nói kinh luật cũng như văn tự lộn xộn, điên đảo, tự
ý chuyển cải văn nghĩa trong kinh luật.
Chẳng
hạn phần đáng để phía trước lại đem để phía sau, đáng
để phía sau lại đem để phía trước, đáng để ở chặng
giữa lại đem để ở trước hoặc sau, làm cho ý nghĩa trong
kinh luật không thể quán thông lẫn nhau, mất hẳn thứ lớp
trước sau, thiếu sự liên tục và mạch lạc.
Theo
kinh Phạm Võng này, khi giảng pháp, trước tiên phải vì hàng
sơ học giảng nói khổ hạnh trì giới, kế đó nói chánh
pháp của Như Lai. Nếu không như vậy, mới vừa bắt đầu
nói pháp đã giảng nói “Không lý” khiến cho hàng sơ tâm
mất hẳn chánh hạnh, ấy gọi là “thuyết pháp điên đảo,
lộn xộn”.
Giảng
nói kinh luật văn tự điên đảo, lộn lạo, không có thứ
lớp trước sau như vậy, trên thì trái với từ ý của chư
Phật vì chư Phật không nói như vậy mà dám vọng ngôn, nói
chính chư Phật nói như thế. Ấy gọi là báng Phật. Giữa
thì trái với chỉ thú của kinh luật, vì kinh luật vốn không
tuyên giải điên đảo như thế, mà vọng ngôn nói chính kinh
luật tuyên giải như thế. Ðây là thuộc về báng pháp. Dưới
thì trái với yêu cầu của người đến cầu pháp. Vì người
đến cầu pháp, vốn không phải yêu cầu giảng nói điên
đảo, không có thứ tự, nhưng lại dám vọng ngôn nói người
đến cầu pháp yêu cầu giảng nói như vậy. Ðây là lỗi
báng Tăng. “Thuyết pháp có tính cách hủy báng Tam Bảo”
như thế sẽ mắc tội không nhỏ, nên kinh văn kết luận là
Phật tử này phạm khinh cấu tội.
Theo
như trên đã nói thì rõ ràng đây là giới hủy báng Tam Bảo,
như thế phải liệt kê vào giới “hủy báng Tam Bảo” trong
phần mười giới trọng phía trước, tại sao ở đây lại
sắp vào loại tội khinh cấu?
Nên
biết rằng giữa giới “hủy báng Tam Bảo” và “vị lợi
đảo thuyết” có chỗ bất đồng. Giới “hủy báng Tam Bảo"
thứ mười trong mười giới trọng là do tội hoàn toàn phủ
nhận không có Tam Bảo, không thừa nhận có Tam Bảo tồn tại
trong thế gian. Cho nên tội này thuộc về giới trọng.
Còn
giới này tuy nói rằng không hủy báng Tam Bảo, nhưng do ở
lỗi giảng nói kinh luật sai lầm, hư vọng luận bàn, chứ
hoàn toàn không phải không thừa nhận có Tam Bảo, cho nên
chỉ kết tội khinh cấu.
Do
đó, vị Bồ Tát tu học Phật pháp, trước khi vì hàng tân
học Bồ Tát thuyết pháp, phải làm cho tâm chí của họ được
kiên cố, rồi sau mới đem hết chỗ hiểu biết của mình
đã học, tuần tự trước sau giảng nói như thế mới đúng
luật.
Nếu
không thực hành như vậy, mà chỉ vì mong cầu lợi dưỡng
nói pháp một cách điên đảo, hay nói pháp có tánh cách hủy
báng Tam Bảo, thì tội lỗi ấy không thể tránh khỏi.
Cho
nên trong Du Già Bồ Tát Giới Bổn dạy rằng: “Một vị Bồ
Tát an trụ tịnh giới, khi có người đến cầu thỉnh chánh
pháp, phải tùy theo khả năng của mình, đem chánh pháp của
mình đã biết bố thí cho người, khiến cho người được
sự lợi ích khi nghe chánh pháp của Phật. Nếu ôm tâm giận
ghét, hoặc buồn bực, không vì người giảng nói chánh pháp,
hoặc có tâm tật đố, sợ rằng người ấy sau khi nghe pháp
sẽ phát sanh trí huệ thù thắng, sẽ được lợi dưỡng rất
nhiều, nên không vì người thuyết pháp. Hay dù có nói, cũng
không nói rốt ráo, khiến người đến cầu pháp cảm thấy
thường không được mãn nguyện, thậm chí còn sanh nhiệt
não. Như thế, vị Bồ Tát an trụ tịnh giới, đối với tịnh
giới của mình cần phải vâng giữ mà không vâng giữ là
có chỗ trái phạm”.
Với
giới này phải làm thế nào mới không trái phạm?
Như
biết kẻ ấy không phải là người căn cơ nghe pháp nên bạn
không nói pháp thì không trái phạm. Hoặc nhận thấy hàng
tân học Bồ Tát kia làm những việc thuộc về tà kiến, không
phải chánh kiến như trong Phật pháp. Vì muốn đoạn trừ
tà kiến, nên vị Bồ Tát chẳng những không vì họ giảng
nói tất cả khổ hạnh khó làm, lại còn cực lực bài xích
những khổ hạnh, trường hợp này cũng không trái phạm tịnh
giới.
Hoặc
vì muốn phá trừ sự ngu si, vọng chấp của hàng tân học,
nên chuyên vì họ giảng nói ý nghĩa của lý hạnh, nhưng không
tuần tự giảng nói chánh pháp. Như thế vẫn không phạm tội
khinh cấu (lý hạnh là đối lại với sự hạnh, sự thuộc
về hữu tướng, lý thuộc về vô hình).
Theo
Du Già Bồ Tát Giới Bổn có nói tám nhân duyên không vì người
giảng nói chánh pháp mà không trái phạm tịnh giới của Bồ
Tát. Nơi đây xin nêu ra vài nhân duyên tiêu biểu như sau:
-
Nếu như người đến cầu pháp vốn là kẻ ngoại đạo hung
ác, không phải thật tâm vì pháp mà đến, mà chỉ vì muốn
tìm những lỗi lầm, hoặc có chỗ sở đoản trong Phật pháp,
nên giả dối đến cầu pháp. Bồ Tát biết rõ như vậy nên
không vì người ấy thuyết pháp thì không trái phạm giới
này.
-
Hoặc người đến cầu pháp giữa lúc thân Bồ Tát đang mang
trọng bịnh, không đủ khí lực thuyết pháp cũng không có
tội.
-
Hoặc thấy người đến cầu pháp không có tâm cung kính chánh
pháp của Như Lai, không có lòng hổ thẹn, oai nghi, cử chỉ
không đúng tư cách của người đến cầu thỉnh thuyết pháp.
Vì thế, Bồ Tát không vì người ấy nói pháp cũng không có
lỗi.
Như
trên là nêu ra những nhân duyên làm tiêu biểu. Cho nên vấn
đề giảng nói hay không giảng nói, tùy thuộc vào động cơ
và thái độ của người đến cầu pháp mà quyết định.
Không phải là bất cứ người nào đến cầu pháp nếu không
vì họ giảng nói, thì đều kết thành tội.
Giới
này thường áp dụng cho toàn thể thất chúng Phật tử, nhưng
Ðại và Tiểu Thừa không hoàn toàn giống nhau.
Ðại
Thừa phải vì tất cả chúng sanh thuyết pháp. Nếu không thuyết
pháp hoặc thuyết pháp điên đảo, lộn xộn thì đối với
Bồ Tát giới có chỗ trái phạm.
Tiểu
Thừa là y cứ theo pháp Tiểu Thừa giảng dạy cho người.
Nhưng nếu nói pháp điên đảo, lộn xộn, không thứ lớp
trước sau, hoặc vì mong cầu tài lợi giảng nói làm cho ý
nghĩa bị mất mát, không rõ ràng, cũng phạm giới Thanh Văn.
Nhưng trường hợp không vì người giảng nói pháp Ðại Thừa
thì không phạm tội, vì hành giả Tiểu Thừa không gánh vác
trách nhiệm ấy.
