B.2.2.19.
LƯỠNG THIỆT GIỚI
(giới
lưỡng thiệt: lưỡi đôi chiều)
Kinh
văn:
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử dĩ ác tâm cố...” cho đến câu: “...phạm
khinh cấu tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
Phật tử vì ác tâm thấy thầy tỳ kheo trì giới hay bưng
lư hương, tu hạnh Bồ Tát, lại đi nói năng đâm thọc hai
đầu, khiến cho sanh sự bất hòa, còn thêm khinh khi người
hiền tạo nhiều tội ác. Phật tử này phạm khinh cấu tội.
Lời
giảng:
Giới
thứ mười tám phía trước chỉ giải rõ lỗi sự chính mình
không hiểu biết mà thích đi làm thầy cho người. Giới này
giải rõ lỗi đối với những bậc đức hạnh lại sanh tâm
khinh khi, hủy báng.
Là
một Bồ Tát, đối với những vị Bồ Tát đồng hạnh nguyện
với mình, đáng lý phải cực lực mỹ tán, tuyên nói vị
Bồ Tát ấy có khả năng truyền pháp độ sanh, khiến cho mỹ
danh của vị ấy được truyền bá khắp nơi để cho vô lượng
chúng sanh hướng về vị ấy học tập Phật pháp, tạo nên
không khí hài hòa an lạc giữa đôi bên. Như thế thật không
phải là điều dễ làm.
Nếu
khi nhận thấy giữa mình và bạn đồng hạnh nguyện phát
sanh ý kiến trái nhau, đưa đến việc tranh tụng, cần phải
vận dụng hết sự khéo léo của mình để cho đôi bên được
hòa hợp trở lại, không bị đoạn giao. Như vậy mới là
hành động cần có của một vị Bồ Tát.
Nhưng
hiện tại nếu chẳng những bạn không thực hành như vậy,
lại còn đứng trung gian khiêu khích, lập bày mưu kế, dùng
lời nói hoặc việc làm khiêu chọc mối hiềm khiêu khích
của hai bên, tạo cảnh ly gián, đấu tranh v.v... phá hoại
sự hòa hợp của người, làm cho thiện pháp mỗi ngày một
tổn giảm, ác pháp mỗi ngày một gia tăng, đến nỗi tạo
nên sự chướng ngại, bỏ bê việc tu chính của mình. Thật
là một tội rất lớn. Vì nhận thấy điều ấy nên Ðức
Phật đặc biệt chế lập ra giới này.
Lời
nói là một công cụ làm môi giới cho nhân loại truyền đạt
hữu hiệu ý kiến với nhau. Nhưng nếu giữa người và người
suốt ngày chỉ lo đào bới những việc phải quấy, khiêu
bát, tạo nên sự ly gián không dứt. Thử hỏi sự hòa hợp
của nhân loại làm sao kiến tạo được?
Vì
thế lựa chọn lời nói là điều vô cùng quan trọng. Nếu
chỉ cần thiếu thận trọng một chút, sẽ đánh mất sự
hòa vui giữa người và người. Nhất là việc nói Ðông, nói
Tây, ở bên này nói theo bên này, sang bên kia nói theo bên kia.
Làm cho đôi bên phát sanh việc gây gổ lộn xộn không cần
thiết. Ði đến đâu cũng làm như thế, tạo không khí thù
nghịch đầy dẫy.
Vì
trái với hạnh hòa hợp nên không có tội nào hơn tội này.
Do đó, việc đứng thế trung gian gây tạo sự ly gián giữa
hai bên là việc quyết định không được làm. Ðức Phật
đối với đại chúng dạy rằng: “Nếu là một Phật tử
đã thọ giới Bồ Tát rồi, nếu vì sanh ác tâm, thấy thầy
tỳ kheo, tay bưng lư hương, tu hạnh Bồ Tát. Nếu chẳng những
không làm cho người tăng phần tốt đẹp, để cùng nhau chuyển
pháp luân của Như Lai. Trái lại, tự đi đâm thọc hai chiều,
làm cho sanh sự bất hòa, khinh khi người hiền, tạo nhiều
điều tội ác. Phật tử này phạm khinh cấu tội”.
Ác
tâm bao gồm những tâm hạnh không chánh đáng, thí dụ như
khi thấy vị Bồ Tát tỳ kheo nghiêm trì mười giới trọng,
bốn mươi tám giới khinh, cho rằng những hành vi đúng pháp,
đúng luật của vị ấy hoàn toàn không đồng với tác phong
của mình bèn sanh tâm tật đố, dùng nhiều biện pháp cực
lực đả kích.
Hoặc
thấy mọi người thường tán thán, cúng dường vị Bồ Tát
tỳ kheo ấy, trong khi mình cũng là người thực hành hạnh
Bồ Tát, tại sao lại không được ai tán thán, cúng dường
mình? Bấy giờ liền sanh tâm tạo sự chướng ngại cho vị
Bồ Tát tỳ kheo ấy. Dùng nhiều biện pháp khiến cho mọi
người không còn ai đến tán thán, cúng dường vị ấy nữa.
Hoặc
thấy có người thực hành Bồ Tát đạo, chỉ rập khuôn theo
những hành động của Bồ Tát mà bắt chước, hoàn toàn không
biểu lộ được một nét đặc sắc của riêng mình, nên sanh
tâm khinh khi, lăng nhục, dùng nhiều biện pháp nếu không lăng
nhục thì cũng khinh khi, khiến người ấy không còn thể diện
với mọi người. Hoặc thấy mọi người tất cả đều tầm
thường không có gì hơn mình nên khởi tâm kiêu mạn, muốn
so tài với người ấy để xem ai hơn, ai thua.
Hoặc
cùng với những kẻ cùng phe phái của mình lại cực lực
ủng hộ mọi mặt, không đúng cũng cho là đúng. Còn với
những người không cùng phe với mình, lại cực lực bài xích,
việc đúng cũng cho là không đúng. Lại có trường hợp luôn
luôn rao nói chỗ sở đoản của người. Cho rằng người đó
trăm việc đều sai, không có một việc phải...
Những
tâm phiền trược, phiền não như vậy đều thuộc về loại
Ác Tâm mà ở đây đã nói. “Thầy tỳ kheo trì giới” chỉ
vị tỳ kheo hiền thiện bị nói đâm thọc.
“Có
thể nghiêm trì cấm giới” chỉ việc không vi phạm một
giới nào, dù trọng cũng như khinh. Ðây không phải đơn thuần
là danh từ “tỳ kheo” (1) như trong Luật nói, mà là vị
Bồ Tát tỳ kheo có đầy đủ đức hạnh.
Với
một vị tỳ kheo nghiêm trì cấm giới như vậy, đáng lý phải
hết lòng cung kính ủng hộ để cho vị ấy được an tâm
thực hành hạnh “vì pháp vì người”. Nhưng vị Bồ Tát
này lại do tâm tật đố v.v... sai khiến, không thích thấy
những vị tu hành thuần khiết như vậy, nên đem lời nói
của vị này đến nói với vị kia, đem lời của vị kia đến
nói với vị này, khiến cho hai bên không còn an vui hòa hợp
lẫn nhau, không thể tiếp tục cùng nhau thực hiện việc vì
pháp, vì người. Việc làm này nhất định không thể được.
Dùng
lời nói đâm thọc những kẻ thông thường tội còn rất
lớn, huống chi đâm thọc vị Bồ Tát tỳ kheo trì giới, thực
hành công hạnh vì pháp vì người, thì tội ấy đương nhiên
phải nặng hơn nhiều.
“Tay
bưng lư hương” là nói một hạnh trong số mười tám hạnh
của người tu hạnh Ðầu Ðà. Hạnh này dùng để tượng
trưng vị Bồ Tát, dù tu Lục Ðộ Vạn Hạnh, dù đi khắp
nơi hóa độ chúng sanh, vẫn không bao giờ quên cung kính, cúng
dường chư Phật.
Có
nơi giải thích thành ngữ “tay bưng lư hương” theo hai nghĩa:
1.
Dùng lư hương biểu lộ tín căn. Nghĩa là Bồ Tát phát tâm
muốn thâm nhập pháp giới phải lấy Tín làm đầu. Nếu không
có tín tâm thì không thể thâm nhập giới tánh.
2.
Dùng lư hương tượng trưng cho tịnh hạnh, tức là Bồ Tát
phát tâm muốn viên mãn ngũ phần Pháp Thân (giới, định,
huệ...) cần phải tu học tịnh hạnh. Nếu không có tịnh
hạnh thì không thể viên chứng ngũ phần pháp thân. Thiện
hạnh của Bồ Tát thật là rất nhiều, nhưng ở đây nói
“tay bưng lư hương” chẳng qua ý muốn nêu một trong nhiều
thứ thiện hạnh mà thôi.
“Hành
Bồ Tát hạnh” chứng tỏ đây là vị Bồ Tát tỳ kheo Ðại
Thừa, không phải tỳ kheo Thanh Văn tu hạnh Tiểu Thừa. Hành
giả Ðại Thừa chỉ có một lòng thực tiễn tu hành Bồ Tát
hạnh không gián đoạn, mới có thể đạt đến mục đích
thành Phật. Vì tất cả Bồ Tát rốt sau được thành Phật
đều do hành Bồ Tát hạnh mà hoàn thành Phật quả.
Vị
ấy là Bồ Tát tu hành Bồ Tát hạnh, ta cũng là Bồ Tát hành
Bồ Tát hạnh. Cả hai chí đồng, đạo hợp, cần phải nương
nhau cùng tiến, chung nhau thực hành sự nghiệp độ sanh, cùng
nhau thú hướng quả vô thượng Bồ Ðề.
Trái
lại, nếu bạn đi đâm thọc hai đầu, rồi đứng ở giữa
nhận lấy sự khoái lạc hoặc thu lấy tài lợi v.v... như
thế thì đâu còn tư cách gì gọi là Bồ Tát?
“Ðứng
trung gian nhận lấy sự khoái lạc” là như thế nào?
Vì
lúc đâm thọc hai đầu, tự nhiên làm cho hai bên sanh ra bất
hòa, tức là đạt đến mục đích khiêu bát, ly gián của
mình. Do đó, trong tâm cảm thấy khoái lạc vô cùng. Cho nên
nói rằng “đứng trung gian nhận lấy sự khoái lạc”.
“Ðứng
trung gian được tài lợi” là thế nào? Là lúc đâm thọc
hai đầu, sau khi mọi người sanh ra bất hòa, lúc ấy đứng
bên ngoài, mình chộp lấy cơ hội thu tiền bên này, đoạt
tiền bên kia, nên gọi là “đứng trung gian thủ tài lợi”.
Phá hoại sự hòa hợp của người như thế không khác gì
tự làm cho pháp môn bị bại hoại. Hành động ấy không phải
là tâm từ thiện của người Phật tử nên làm.
“Ðâm
thọc hai đầu”: làm cho hai bên sanh ác cảm, từ đó phát
sanh ra việc phải quấy. “Hai đầu” là nói lời hai chiều,
các vị Bồ Tát kia vốn không bất hòa, nhưng vì bạn muốn
cho họ sanh việc gây gổ tranh cãi. Hoặc vì bạn tật đố
các bậc hiền thiện, muốn làm chướng ngại, não hại. Bấy
giờ bạn đứng trung gian, khêu dấy lên những việc phải
quấy. Ðem lời nói người này truyền sang người kia, đem
lời người kia truyền sang người này, làm cho hai bên sanh
ác cảm nhau, tranh chấp, gây gổ nhau. Bạn không nhường tôi
một bước, tôi cũng không nhường bạn một bước, đến
nỗi phát sanh nhân ngã, thị phi suốt ngày, gác bỏ mọi việc
độ sanh cần phải thực hành qua một bên. Thử hỏi việc
làm này gây tổn hại thật lớn lao cho Phật pháp biết dường
nào? Thật là một tội nhân phá hoại Phật pháp vậy!
“Khinh
khi người hiền” chỉ cho quý vị Bồ Tát tỳ kheo nghiêm
trì cấm giới, thuộc về bậc hiền thánh tăng. Do ác tâm,
tật đố của bạn xúc giục, bạn dùng những lời không căn
cứ, hư vọng, báng bổ những bậc hiền thánh tăng. Các vị
này vốn không có lỗi gì, mà bạn lại dùng lời hư vọng
tạo thành thị phi, nói vị ấy như thế này không đúng, như
thế kia không đúng, để làm mất danh dự tốt lành của các
ngài.
“Tạo
nhiều tội ác” có hai lối giải thích:
1.
Phỉ báng những bậc hiền thánh tăng nghiêm trì cấm giới
đúng pháp, đúng luật, bằng cách đi đâm thọc hai đầu.
Ðối với các bậc hiền thánh tăng mà bạn còn có thể phỉ
báng, thì dĩ nhiên đối với bất cứ tội ác gì, bạn cũng
đều có thể gây tạo. Cho nên nói là “tạo nhiều tội ác”.
2.
Các bậc hiền thánh tăng đúng pháp, đúng luật nghiêm trì
cấm giới. Chính bản thân các ngài không có lỗi chi, nhưng
chỉ do bạn đâm thọc hai đầu, dùng những tội vô căn cứ
khi báng các Ngài, nói các ngài không phải là vị Bồ Tát
tỳ kheo chân chính trì giới, mà là một tăng nhân mọi tội
ác đều có thể gây tạo. Cho nên điều này gọi là tạo
nhiều tội ác.
Với
hai lối giải thích trên, lối trước nói về chính bản thân
gây tạo tội ác, lối sau nói về việc hủy báng người mà
tạo ra các tội ác. Hai lối giải thích này đều đúng và
tùy theo bạn ở vào trường hợp nào mà luận tội.
Giới
hủy báng thứ 13 ở trước và giới lưỡng thiệt thứ 19
này có những điểm nào khác nhau?
Về
tội hủy báng người tốt, người lành, hoặc khinh khi người
hiền, giữa hai giới không có gì khác nhau lắm. Có thể nói
là tương đồng. Nhưng sở dĩ có sự phân biệt chế thành
hai giới vì chư thượng đức cho rằng sự dụng tâm có phần
sai biệt:
Giới
hủy báng là luận về sự dụng tâm hãm hại người, tức
là làm cho người mất danh dự. Trong khi giới lưỡng thiệt
dụng tâm ở chỗ ly gián người. Lý do Phật chế lập thành
hai giới khác nhau chính do nơi chỗ sai biệt của hai giới
này vậy.
Ngoài
ra, sự ly gián tình cốt nhục của người, làm cho gia đình
người sinh chuyện bất hòa. Thậm chí làm cho táng gia bại
sản, thiệt hại nhân mạng, cũng đều thuộc về giới này.
Lại
nữa, trong xã hội, mọi người đang hòa thuận, vui vẻ, bỗng
do sự đâm thọc đông tây, khiến cho mọi người sanh nghi
kỵ lẫn nhau. Bạn không tín nhiệm tôi, tôi không tín nhiệm
bạn, khiến xã hội không được an hòa, thậm chí phát sanh
đấu tranh. Tất cả đều là do nói lưỡi đôi chiều, đâm
thọc hai đầu mà ra.
Thực
tế thì giữa con người với nhau khó lòng tránh khỏi sự
thương ghét, nhưng điều cốt yếu là đừng để tâm lay chuyển
vì sự ghét thương. Ðiều này chỉ có những bậc hiển đạt
cao minh mới có thể thực hành được.
Như
trường hợp hai vị cao tăng là Viên Ngộ Phật Quả Khắc
Cần thiền sư và Cao Am Thiện Ngộ thiền sư. Ðương thời,
đại danh của hai Ngài lan rộng khắp tăng giới, nhưng tình
cảm của người đời đối với hai Ngài không đồng nhau.
Những người kính mến Viên Ngộ thiền sư, lại sanh tâm bất
mãn đối với Cao Am thiền sư, và ngược lại những người
kính mến Cao Am thiền sư lại bất mãn thiền sư Viên Ngộ.
Khi Viên Ngộ trụ nơi Vân Cư thì Cao Am lại thối lui về Ðông
Ðường.
Bấy
giờ, khắp các tòng lâm trong nước đâu đâu cũng nghe chuyện
rối ren, lộn xộn giữa các đồ đệ của hai danh tăng, nhưng
thực sự thì giữa cá nhân hai ngài hết sức hòa hợp, hoàn
toàn không có điều gì bất hợp ý. Trong lúc Cao Am thối lui
về Ðông Ðường, Viên Ngộ hết sức thương mến và ưu đãi.
Ngài đem am Ngọa Long do Phật Ấn thiền sư sáng tạo và tu
bổ để cúng dường Cao Am thiền sư để thiền sư có chỗ
an nhàn tu niệm dưỡng lão. Ðiều này chứng tỏ rằng hai
ngài rất hòa hiệp kính mến nhau.
Như
thế vì trường hợp đặc biệt nào mà một vị Bồ Tát lại
có thể vận dụng lưỡi đôi chiều, nói lời ly gián mà chẳng
những không trái phạm giới luật, còn được sanh rất nhiều
công đức?
Ðó
là trong trường hợp có người vì không có trí huệ, biện
biệt được điều phải, quấy, xấu, tốt, bị những bằng
hữu bất lương dẫn dắt lầm đường. Trải qua lâu ngày
chầy tháng, người ấy bị ác hữu dắt vào con đường tội
lỗi và gây lắm tội ác.
Bồ
Tát biết rõ chuyện này, nên thấy rằng nếu để cho người
ấy mãi mãi giao tiếp với ác hữu thì hậu quả sẽ không
thể nào nhận lãnh được, Ngài bèn khởi tâm từ mẫn, muốn
đem lại lợi ích cho người, nên dùng phương tiện khéo léo,
nói những lời ly gián giữa hai bên, khiến cho người ấy
dần dần ly khai bọn ác hữu, để cuối cùng không còn quan
hệ với bọn ác hữu nữa và tương lai khỏi phải chịu đại
khổ vô tận vô biên. Nói lời ly gián như vậy thì không có
gì là tội lỗi.
Chú
thích:
(1)
Danh tự tỳ kheo: một trong tám loại tỳ kheo. “Danh tự tỳ
kheo" là ám chỉ những người tu chỉ mang danh từ “tỳ kheo"
suông, mà thực chất không thọ giới pháp. Nhiều người tự
xưng mình là tỳ kheo hay tỳ kheo ni, mà không thọ trì giới
pháp thì đó chỉ là tỳ kheo trên danh nghĩa, không phải vị
tỳ kheo chân thật.
(2)
Tương tợ tỳ kheo - tỳ kheo ni: là những người tuy cạo bỏ
râu tóc nhưng không thọ giới pháp của Phật. Hình dáng, oai
nghi, cử chỉ bắt chước theo tỳ kheo và tỳ kheo ni rất giống.
Nhưng sự thật thì không phải là tỳ kheo và tỳ kheo ni. Vào
thời Mạt Pháp có rất nhiều vị “tương tợ tỳ kheo, tỳ
kheo ni” vẫn cạo râu tóc, mặc áo ca sa (không phải y điều,
mà chỉ mặc y phục hoại sắc), nhưng không thọ giới pháp
do bạch Tứ Yết Ma. Các vị này chuyên đi làm các việc công
đức lớn nhỏ. Tại Nam Mỹ, có chủng tộc người Thổ, bất
luận nam hay nữ đều cạo tóc, cho nên gọi là chủng tộc
trọc đầu. Hiện nay phong tục của chủng tộc này vẫn còn.
(3)
Tự xưng tỳ kheo, tỳ kheo ni: là những người tự mình cạo
râu tóc, sanh tâm cống cao ngã mạn, không thực hành theo luật
nghi của Phật dạy, không thọ Cụ Túc Giới và tự mặc y
điều, rồi ở trong Tăng giới, tự xưng mình là tỳ kheo,
tỳ kheo ni. Ðây là hạng người tặc trụ, cần phải diệt
tẫn, không cho ở trong giới xuất gia, cũng không cho được
thọ giới.
(4)
Thiện lai tỳ kheo, tỳ kheo ni: trong luật Thiện Kiến, quyển
7 nói:
“Thiện
lai tỳ kheo số ấy được bao nhiêu?
-
Có một ngàn ba trăm bốn mươi mốt người.
Xin
kể danh tự của quý tỳ kheo ấy?
-
Năm anh em A Nhã Kiều Trần Như và năm mươi bốn người gồm
con của Da Xá trưởng giả cùng các vị thiện tri thức bao
gồm:
-
Bạc Quần có ba mươi người.
-
Xà Trí La có một ngàn người.
-
Tôn giả Mục Liên và Xá Lợi Phất có hai trăm năm mươi người
và Ương Quật Ma La một người.
Trong
Luật dùng kệ tán thán một ngàn ba trăm bốn mươi mốt vị
Thiện Lai tỳ kheo như sau:
Một
ngàn ba trăm bốn mươi mốt người.
Có
đại tín tâm,
Ðồng
đến chỗ Phật.
Như
Lai mở lượng,
Ðại
từ đại bi.
Ðưa
tay sắc vàng,
Dùng
tiếng phạm âm,
Gọi
rằng “thiện lai”,
Ngay
trong lúc ấy,
Ðược
độ xuất gia,
Y
bát có đủ,
Ðều
là Thiện Lai.
Những
bậc có đại trí huệ đều được gọi là Thiện Lai Tỳ
Kheo.
Ngoài
số Thiện Lai vừa kể trên, lại còn có Tư Lâu bà la môn
cùng ba trăm người đồng đến chỗ Phật xuất gia.
Tôn
giả Ma Ha Kiếp Tân Na cùng một ngàn đồng đến chỗ Phật
để xuất gia. Tại Ca Tỳ La Vệ có một vạn người cùng
đến chỗ Phật để xuất gia.
Bà
la môn Ba La Dạ Ni cùng một vạn sáu nghìn người tại Xá
Vệ cũng đến chỗ Phật xin xuất gia. Quý Thiện Lai tỳ kheo
này ở trong Tu Ða La có nói tên, nhưng trong Luật Tạng không
thấy nói.
Quý
Thiện Lai tỳ kheo này đều là bậc lợi căn, khi đến Phật
vừa nghe lời dạy từ kim khẩu của Phật: “Thiện lai tỳ
kheo! Các ông nên tu phạm hạnh để được hết nguồn gốc
khổ não!” tức thời râu tóc tự rụng, có cà sa mặc liền
trên thân. Quý vị này từ kim khẩu của Phật mà đắc giới,
nên gọi là “thiện lai đắc giới”.
Như
trong Luật nói: “Thiện lai tỳ kheo liền đắc giới Cụ Túc”.
Có
vị do thọ giáo mà đắc giới Cụ Túc, như Ðức Phật bảo
tôn giả Ðại Ca Diếp rằng: “Không nên học như thế, nên
thường nhớ nghĩ nơi tâm đừng quên mất. Ca Diếp! Ông nên
học như vậy”.
Ðại
đức Ca Diếp do sự dạy bảo của Như Lai mà được đắc
giới Cụ Túc.
Lại
có vị do đáp lời hỏi mà đắc giới, như tại chùa Phú
La Di có ngài Tu Ba Ca sa di. Khi Ðức Phật căn cứ vào mười
pháp Quán Bất Tịnh để hỏi từ “sình chương” hay “sắc
thân” là đồng nhất hay sai khác, Tu Ba Ca lập tức đáp ngay.
Ðức Phật tán thán rằng: “Hay lắm”, rồi hỏi tiếp:
-
Ông năm nay được mấy tuổi?
-
Bạch Thế Tôn! Con được bảy tuổi.
Ðức
Thế Tôn nói: - Ông mới bảy tuổi mà giỏi quá, có thể dùng
chánh tâm cùng với bậc Nhất Thiết Trí khéo léo đáp lời
hỏi. Ta sẽ cho ông thọ Cụ Túc giới.
Như
trên là quý thiện lai tỳ kheo, nên giới ni chúng cũng có quý
thiện lai tỳ kheo ni. Như người đầu tiên thọ Bát Kỉnh
Pháp mà đắc giới là Di Mẫu Ma Ha Ba Xà Ba Ðề tỳ kheo ni.
Lại
có trường hợp nhờ người đến chỗ Thế Tôn thọ Cụ Túc
giới là Bán Ca Thi nữ nhân. Vì vị này dung nhân tuyệt đẹp
trên đời có một không hai, nên sợ bị ác nhân cướp giựt
phá rối khi đi đường. Vì vậy, đức Thế Tôn cho phép nhờ
người khác đến thọ giới Cụ Túc.
Lại
có trường hợp một nữ hài nhi vừa ra khỏi thai, trên thân
đã mặc chiếc bạch y. Trong kinh Bách Duyên quyển 8, kể rằng:
“Nữ
đồng nhi ấy đến chỗ Phật cầu xin xuất gia. Ðức Phật
dạy rằng: “Thiện lai tỳ kheo ni!” Tức thời tóc của nữ
tử ấy tự rụng. Chiếc bạch y đang mặc hóa thành ca sa.
Sau
đó, nữ đồng nhi tinh tấn tu hành, chỉ trong một thời gian
ngắn chứng đắc quả A La Hán.
Ngoài
ra còn có ba vị tỳ kheo ni khác là Thanh Liên Hoa, Ca Thi Tôn
Ðà Lợi và Tu Man, vừa mới sanh ra trên cổ đã có đeo tràng
chuỗi ngọc. Cả ba đều là bực lợi căn, lại gặp thời
Phật xuất thế nên mới được gọi là thiện lai tỳ kheo
ni, hiện đời không dễ gì có được như vậy.
(5)
Khất cầu tỳ kheo, tỳ kheo ni: Hai chữ tỳ kheo vốn có nghĩa
là “khất cầu”. Có 2 nghĩa khất cầu:
-
Khất cầu thức ăn của thí chủ để tư dưỡng thân hình.
-
Khất cầu chánh pháp của Như Lai để tư dưỡng huệ mạng.
Hạng
tỳ kheo, tỳ kheo ni này có những ngoại đạo hay thế tục
cũng mang hình thức như vậy, nhưng hoàn toàn không phải là
tỳ kheo, tỳ kheo ni. Họ không thọ giới Cụ Túc, chỉ lấy
sự tham cầu làm mục đích chính. Chuyên đến nhà thế tục
khất cầu tài lợi hoặc coi bói những việc kiết hung, hoặc
khoe khoang, rao nói công đức của mình, hoặc dối hiện tướng
khác lạ, hoặc cao tiếng hiện oai làm cho người kinh sợ,
hoặc tự nói mình được thấy Phật, hoặc nói thấy hoa sen
bên Cực Lạc thế giới có tên mình v.v... Dùng các hình thức
trên để dối gạt người, kích động tâm lý mọi người
để họ bố thí. Những hạng người này gọi là khất cầu
tỳ kheo, tỳ kheo ni. Họ thuộc về hạng người sống theo
tà mạng.
(6)
Trước cát triệt y tỳ kheo, tỳ kheo ni: Theo quy định, tỳ
kheo có ba y, tỳ kheo ni có năm y. Khi được thí chủ bố thí,
dù chiếc y có giá trị đến độ nào cũng phải cắt rọc
ra thành từng mảnh, rồi may lại mới được thọ trì. Ngoài
ra, còn phải dùng vỏ cây nhuộm cho biến màu đi gọi là hoại
sắc. Do đó gọi là “cát triệt y” (cát: cắt).
Nhưng
có những hàng ngoại đạo, thế tục không thọ đại giới
của Phật, lại tự ý đắp và mặc cát triệt y để đi làm
các pháp sự công đức, nên gọi là cát triệt y tỳ kheo,
tỳ kheo ni, thực không phải là pháp chúng.
(7)
Phát kiết sử tỳ kheo, tỳ kheo ni: tất cả phiền não gọi
là “kiết sử”. Vì chữ Kiết có nghĩa là trói cột. Sử
là sai sử. Ý nói phiền não có khả năng trói cột, sai sử
chúng sanh, khiến chúng sanh trôi lăn trong tam giới. Nếu tỳ
kheo hay tỳ kheo ni nào tu phạm hạnh thanh tịnh, tinh tấn phá
trừ kiết sử phiền não, chứng quả A La Hán thì được gọi
là phá kiết sử tỳ kheo, tỳ kheo ni.
(8)
Thọ đại giới, bạch yết ma tỳ kheo, tỳ kheo ni: Những vị
phát tâm xuất gia, mong cầu thọ giới Cụ Túc, phát chí Tăng
Thượng. Ðối với hàng tỳ kheo, trước tiên phải ở trong
tăng giới, trải qua bạch tứ Yết Ma mà thọ đại giới (bạch
tứ Yết Ma là một lần tác bạch, ba lần yết ma). Ðối với
tỳ kheo ni, trước tiên phải ở trước đại tỳ kheo ni bạch
tứ Yết Ma, đoạn đối với trước tỳ kheo tăng ba lần khất
cầu. Ðại tỳ kheo tăng mới bạch tứ Yết Ma và cho phép
thọ đại giới thành tánh tỳ kheo ni. Trong Luật nói tỳ kheo,
tỳ kheo ni chỉ loại thứ tám này vậy.
Lời
phụ:
Y
theo kinh luật, dịch giả cung kính thuật lại ý nghĩa danh
từ Thiện Lai tỳ kheo, tỳ kheo ni nhằm cống hiến cho quý
đại sĩ không đủ duyên đọc kinh luật Hán Văn, có thể
biết rõ quý thánh giả thiện lai tỳ kheo, tỳ kheo ni (riêng
quý thượng đức từng đọc kinh luật Hán văn thì chúng tôi
không dám nói).
Quý
thánh giả này đều là những bậc đã gieo trồng thiện căn
xuất thế rất sâu dày từ nhiều đời, mới gặp được
Như Lai xuất thế, và được chiêm bái kim thân Ðức Phật
và từ nơi kim khẩu của Thế Tôn nghe pháp mà đắc giới.
Ðã biết được như vậy thì chúng ta hãy cùng nhau cố gắng
sách tấn tiến tu để tương lai sẽ được như quý ngài.
Ðiều
cần lưu ý là quý nữ đại sĩ khi xem đến tôn hiệu của
thiện lai tỳ kheo, tỳ kheo ni thì nên sanh tâm hổ thẹn thật
nhiều. Vì số thiện lai tỳ kheo, tỳ kheo ni có đến mấy
vạn vị, trong khi số thiện lai tỳ kheo ni chỉ không đầy
mười vị. Tuy nhiên, nếu chỉ hổ thẹn suông thì không ích
lợi gì. Như trong kinh có đề một bài kệ:
Phật
tại thế thời ngã trầm luân,
Kim
đắc nhân thân Phật diệt độ,
Áo
não tự thân đa nghiệp chướng.
Bất
kiến Như Lai kim sắc thân.
Dịch:
Khi
Phật tại thế, ta trầm luân,
Nay
được thân người Phật diệt độ.
Buồn
thay cho mình nhiều nghiệp chướng.
Không
được thấy thân kim sắc của Như Lai.
Ðức
Liên Tông Bát Tổ Liên Trì đại sư cho rằng những lời than
vãn ấy chỉ là sự buồn thương đau đớn một cách hư dối,
không lợi ích gì trên thực tế. Chi bằng ta biết nghiệp
chướng nặng nề nên không gặp được Phật, ngay bây giờ
đã có phước duyên được thân người, nên vâng theo lời
đức Bổn Sư Thích Ca, nhất tâm niệm danh hiệu Từ Phụ A
Di Ðà thì sẽ được thấy Phật đời vị lai.
Nếu
niệm Phật đến chỗ nhất tâm bất loạn thì không cần phải
đợi đến lúc xả báo thân này vãng sanh Cực Lạc mới thấy
được Phật, mà ngay hiện đời vẫn được thấy Phật. Như
thế sẽ có lợi ích thiết thực hơn là chỉ buồn than suông.
Quý
đại sĩ nữ giới cũng vậy, nếu chỉ sanh tâm hổ thẹn suông
thì không ích lợi gì. Cần phải phát tâm dõng mãnh, lập
nguyện kiên cố như đức Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát nhất
tâm niệm Phật cầu sanh Tây Phương. Khi sanh mạng này kết
thúc, nếu được vãng sanh thì chẳng những ngang hàng với
quý thánh giả thiện lai tỳ kheo, tỳ kheo ni, thoát hẳn khỏi
sự luân hồi, không còn thọ thân trong sanh tử, mà lại còn
hơn quý ngài ở chỗ một mặt tiến tu cho đến ngày viên
mãn Phật Quả, thừa sức đại bi nguyện lực, phân thân khắp
mười phương thế giới hóa độ chúng sanh.
Ðức
Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát tự thẹn mình là người nghiệp
chướng sâu dày mới bị cảm thọ thân người trong cảnh
nghèo cùng, khốn khổ, ngài nguyện niệm Phật suốt ngày đêm,
nếu không thấy được Phật A Di Ðà thì thân này dù tan rã
cũng không ngừng lại để nghỉ ngơi.
Xin
quý đại sĩ lưu ý điều này, theo như trong Thập Trụ Tỳ
Bà Sa Luận của Long Thọ Bồ Tát nói: “Bồ Tát muốn cầu
chứng đắc a tỳ bạt trí (bất thối chuyển đối với quả
vô thượng Bồ Ðề) có thể theo một trong hai lối hành đạo:
1.
Nan Hành Ðạo:
Là
lối hành đạo rất khó đạt kết quả. Người sanh trong đời
ngũ trược này, gặp lúc không có Phật xuất thế mà mong
cầu chứng a tỳ bạt trí là điều vô cùng khó khăn. Sự
khó khăn rất nhiều, nơi đây chỉ lược kể năm thứ, để
thấy rõ sự khó khăn ra sao:
-
Những thiện pháp tương tự của ngoại đạo phá hoại Bồ
Tát.
-
Tự lợi Thanh Văn rất chướng ngại tâm đại từ, đại bi
của Bồ Tát.
-
Những người ác không có tín tâm đối với Tam Bảo có thể
phá hoại công đức thù thắng của người tu.
-
Ðiên đảo thiện quả có thể phá hoại phạm hạnh của người
tu.
-
Chỉ nương nhờ sự tự lực, không có tha lực của Phật
hộ trì v.v...
Những
việc khó khăn như thế mỗi khi chạm mặt đều là như vậy.
Loại hành đạo khó khăn này có thể tạm ví dụ như người
đi đường xa nghìn dặm, nếu tự mình đi bộ thì chẳng những
khó mong tới chỗ, lại phải chịu không biết bao nhiêu nỗi
cực khổ, đắng cay.
2.
Dị hành đạo:
Là
lối hành đạo rất dễ dàng. Hành giả do nhân duyên tin theo
lời Phật dạy, nhất tâm niệm Phật cầu sanh Tây Phương
Tịnh Ðộ, nương nhờ nguyện lực của Từ Phụ A Di Ðà liền
được vãng sanh vào cõi thanh tịnh ấy. Khi được vãng sanh
rồi, nhờ Phật lực hộ trì, liền được dự vào trong nhóm
Ðại Thừa chánh định.
Lối
tu hành dễ dàng này tạm ví dụ như hành khách đi trên thuyền,
chỉ cần ngồi trong thuyền nhờ sức gió thuận nước xuôi,
lại thêm trương buồm thì có thể đi đến nơi rất mau, lại
khỏi cực nhọc. Vì thế, Liên Tông Thập Tam Tổ Ấn Quang
đại sư dạy rằng: “Toàn thể Phật tử phải nhận chân
được sự sanh tử là đại sự của chúng ta. Pháp môn Tịnh
Ðộ là pháp mầu vô thượng liễu thoát sanh tử”.
Thánh
giáo của Như Lai tuyên thuyết thênh thang dường như bể cả.
Nhưng thông suốt với bản hoài phổ độ chúng sanh của Phật,
rốt ráo chỉ có pháp môn Tịnh Ðộ này mà thôi.
Tại
sao vậy? Vì nhằm vào những kẻ hạ phàm mà nói, chỉ cần
ba sự kiện là Tín sâu, Nguyện thiết, nhất tâm niệm Phật,
thì có thể đới nghiệp vãng sanh. Nói về bực thượng thánh,
nếu chịu đem công đức tu hành hồi hướng về Cực Lạc
thì mau chứng quả vô thượng Bồ Ðề. Nếu so sánh việc
nương nhờ từ lực của Phật cùng với tự lực của cá
nhân mình thì mức chênh lệch khó dễ gấp bội lần. Ví như
một ngày so với một kiếp (một đại kiếp có 1.344.000 vạn
năm). Nếu là người trí, cứ xem số đó mà tự chọn cho
mình con đường hành đạo.
*
Mười pháp quán bất tịnh:
1.
Tử tưởng: quán tưởng sau khi chết, tử thi nằm bất động
như khúc gỗ rất ghê sợ.
2.
Trướng tưởng: quán tưởng sau khi chết quá 24 giờ, tử thi
sình chướng lên như bao bố.,
3.
Thanh ứ tưởng: quán tưởng lúc bấy giờ tử thi chẳng những
sình chướng mà còn hiện màu xanh tím rất đáng sợ.
4.
Hoại tưởng: quán tưởng sau khi chết 78 ngày, tử thi mục
rã, hư hoại, ai trông thấy cũng đều phải bịt mũi, muốn
nôn mửa.
5.
Huyết đồ tưởng: quán tưởng sau khi chết, tử thi bị hư
hoại, máu mủ từ nơi chín lỗ chảy ra trông rất dơ nhớp.
Người còn sống ngửi mùi hơi ấy tưởng có thể chết ngất
được.
6.
Nùng lãng tưởng: quán tưởng tử thi nếu không chôn cất,
trong 10 ngày trở lên sẽ dần dần hư rã, các loài côn trùng,
giòi xúm nhau đục rút, trông thấy hết sức ghê tởm.
7.
Ðạm tưởng: quán tưởng tử thi bị đem bỏ vào rừng thì
gọi là “thi lâm táng”. Lúc ấy, không đợi tử thi mục
rã, các loài thú xúm nhau đến xé thịt.
8.
Tán tưởng: quán tưởng tất cả da thịt tử thi đều tiêu
tán, xương cốt mỗi nơi một chiếc.
9.
Cốt tưởng: quán tưởng tử thi chỉ còn bột xương trắng,
da thịt đều tiêu mất, tủy não không còn. Chỉ còn bộ xương
màu xám tro và những chiếc răng rơi rụng. Ðầu lâu thì trống
rỗng, mắt, mũi như những hố sâu.
10.
Thiêu tưởng: quán tưởng nếu đem tử thi đốt thì chỉ thấy
những ngọn khói đen xông lên. Trong phút chốc chỉ còn lại
một đống tro tàn.
