B.2.2.24.
BẤT HỌC TẬP PHẬT GIỚI
(không
học tập Phật giáo Ðại Thừa)
Kinh
văn
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử hữu Phật kinh luật Ðại Thừa pháp...”
cho đến câu “...phạm khinh cấu tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
Phật tử có kinh luật Ðại Thừa pháp, chánh kiến, chánh
tánh, chánh pháp thân của Phật mà không chịu siêng học,
siêng tu, lại bỏ bảy của báu để học những sách luận
tà kiến của Nhị Thừa, ngoại đạo thế tục. Ðó là làm
mất giống Phật, là nhân duyên chướng đạo, chẳng phải
thật hành đạo Bồ Tát. Nếu cố làm như vậy, Phật tử
này phạm khinh cấu tội.
Lời
giảng
Ðiểm
trọng yếu của giới trước là nói lỗi ỷ mình, mà khinh
thị kẻ khác. Ðiểm trọng yếu của giới này là ngăn ngừa
sự bỏ chân hướng ngụy. Nói một cách khác, giới trước
là nói về lỗi khinh thị người tân học. Còn giới này nói
về lỗi xa lìa pháp Ðại Thừa.
Cả
hai điều này, đối với tinh thần của hành giả Bồ Tát,
đều không thể chấp nhận được.
Phật
pháp lấy Ðại Thừa làm căn bản, vì Ðại Thừa là bản
hoài của Ðức Phật xuất thế, còn Tiểu Thừa chẳng qua
chỉ là phương tiện Ðức Phật vận dụng trong thời gian
nào đó thôi. Vì thế, lẽ ra Bồ Tát phải học tập Ðại
Thừa, nhưng không chịu học tập, mà lại xa lìa, sai lầm
đi học tập những thứ khác. Nếu không học tập Tiểu Thừa
thì cũng học tập theo ngoại đạo ở thế gian. Như thế,
không đúng với tư cách của vị đại sĩ.
Vì
thế, cổ đức dạy rằng: “Bỏ trân báu mà lấy ngói gạch.
Kính di hầu lầm cho là Ðế Thích”.
“
Kính di hầu” là ý nói không biết nhận xét người.
“Lấy
ngói gạch” ám chỉ sự không biết chánh pháp.
Ðó
không phải là chánh kiến của bậc đại sĩ, nhất là làm
mê muội bổn hạnh của Bồ Tát. Sở dĩ Bồ Tát mang danh hiệu
là Bồ Tát vì căn cứ vào cội gốc đã thọ đại giới,
và thực hành Ðại Thừa hạnh.
Nếu
hiện tại đã không thực hành Ðại Thừa hạnh, mà chỉ dùng
những kiến giải khác lạ huân tập nội tâm, thì đâu có
thể chứng đắc quả vô thượng Bồ Ðề? Do đó, sẽ có
sự tổn thất rất lớn đối với Bồ Tát. Ðức Phật biết
rõ tội lỗi ấy, nên đặc biệt vì đệ tử chế định giới
điều này.
Chủ
ý của ngài là muốn cho hành giả Bồ Ðề đúng pháp, đúng
luật, tuân hành theo mà không được phép trái phạm. Nếu
trái phạm là mất đi tư cách của Bồ Tát.
Bồ
Tát đối với vô lượng pháp môn tuy cần phải học tất
cả, nhưng không nên bỏ gốc tìm ngọn, bỏ chân lấy ngụy.
Trong
kinh Pháp Hoa có nói rõ: “Ðối với tất cả ngôn ngữ trị
thế và những việc tư sinh cùng với Thật Tướng không trái
ngược nhau”. Tại sao ở đây nói học tập giáo lý Nhị
Thừa cùng các sách vở của ngoại đạo, thế tục mà lại
phạm khinh cấu tội?
Ðể
giải đáp điều này, trước hết cần phải biết:
Ðối
với giáo lý Nhị Thừa và sách vở ngoại đạo thế tục,
không phải là tuyệt đối không nên học. Nhưng ở đây là
trường hợp đối với những vị sơ tâm Bồ Tát. Vì những
vị tân học và sơ phát tâm Bồ Tát này khả năng trí huệ
còn yếu kém, lực lượng vọng thức còn rất mãnh liệt,
nên không thể ở trong đó phân biệt được phải, quấy,
chánh, tà.
Nếu
lúc mới bắt đầu mà đã cho hàng tân học mọi cái đều
tham cứu thì e rằng lâu ngày chầy tháng, họ sẽ bỏ gốc
theo ngọn, rồi quên hẳn cội nguồn, không trở về bản vị
của mình. Như vậy thật là bất lợi cho hàng sơ tâm Bồ
Tát, nên không thể không hạn chế như vậy.
Nếu
là bậc đại Bồ Tát đăng địa trở lên, đã thể ngộ chân
lý, nên không đến nỗi bị mê hoặc bởi bất cứ loại học
thuyết nào, ngược lại chư vị còn có thể dùng các học
thuyết ấy làm phương tiện lợi sanh. Do vậy, sự học tập
pháp Tiểu Thừa cùng sách vở ngoại đạo thế tục đều
không thành vấn đề.
Nhãn
quan Phật pháp đối với bất cứ vấn đề nào đều tinh
tế phi thường, không có chỗ trệ ngại, không phải khư khư
chấp chặt vấn đề gì, đã như thế thì cứ như thế.
Hàng
tân học Bồ Tát sơ phát tâm chưa đạt đến mức thắng giải
(1), đối với nghĩa lý Ðại Thừa chưa thông được thể
tánh, nên phải luôn luôn lấy pháp Ðại Thừa làm chỗ học
căn bản trong tâm. Không nên học tập theo những học thuyết
khác bên ngoài.
Hành
giả Thanh Văn thừa, nếu chưa đủ năm tuổi hạ, chưa thông
năm pháp (2) đều bị ngăn cấm không được học tập những
lý luận khác. Nhưng nếu đã đủ năm tuổi hạ, đã thông
năm pháp thì không nhất thiết bị bắt buộc phải học những
học thuyết khác. Vì hành giả Thanh Văn không cần học tất
cả pháp, chỉ lấy việc tự tu, tự liễu thoát sanh tử làm
chỗ cứu cánh.
Do
đó, sở học của Ðại Thừa và Tiểu Thừa không đồng nhau.
Ðây cũng là chỗ bất đồng giữa Ðại Thừa và Tiểu Thừa
trong phạm vi giới này. Toàn thể thất chúng Phật tử, nhất
là hàng Bồ Tát đã phát Bồ Tát tâm, cần phải cùng nhau
tuân hành giới này, không được có chỗ trái phạm.
Ðức
Phật dạy đại chúng rằng: “Nếu là một Phật tử đã
thọ Bồ Tát giới, lúc Phật giáo vẫn còn tồn tại trên
thế gian hiện thực này. Tức là có kinh luật Ðại Thừa
pháp của Phật lưu hành, bất cứ là như thế nào, bạn đều
phải nhất định học tập kinh luật Ðại Thừa của Phật
pháp để sự nhận thức về Phật pháp của bạn được sung
mãn. Trái lại, khi bạn đã thọ giới Bồ Tát, trường hợp
trên thế gian hiện thực này đích thật không còn Phật pháp
lưu hành nữa, tức là Phật pháp đã bị hoại diệt hết
trên thế gian, lúc ấy, có thể cho phép bạn học tập ngoại
pháp”.
Tạng
kinh luật của chư Phật là chiếc bảo phiệt (bè báu) vượt
qua biển khổ sanh tử. Nếu không có chiếc bè quý báu ấy,
thì dù bạn có tài năng tột đỉnh, cũng không cách gì ra
khỏi biển khổ sanh tử trong tam giới được. Kinh tức là
Tu Ða La, Luật là Tỳ Nại Da, kinh luật đều gọi là Ðại
Thừa pháp.
Ðức
Phật giảng nói kinh luật, khi thì vì hành giả Thanh Văn, lúc
thì vì vị hành giả Bồ Tát mà giảng nói. Về sau kết tập
lại:
Kinh
luật giảng cho Thanh Văn gọi là Thanh Văn tạng.
Kinh
luật giảng cho Bồ Tát gọi là Bồ Tát tạng.
Từ
ngữ “kinh luật" ở đây đều nói về pháp Ðại Thừa, không
phải Thanh Văn tạng mà là Bồ Tát tạng, tức là chỉ cho
Ðại Thừa giáo pháp.
Ðức
Phật là Bổn Sư của chúng ta. Giáo pháp Ðại Thừa của Ðức
Phật tuyên thuyết là bổn pháp của chúng ta. Ðã là bổn
sư, bổn pháp thì Phật tử phải luôn luôn thân cận và phải
luôn luôn học tập, không được gián đoạn. Chỉ có như
thế mới thật là một vị Bồ Tát noi gương Ðức Phật mà
hành Bồ Tát đạo.
Ðại
Thừa Pháp Tạng đã là pháp chúng ta cần phải học tập,
thì ý thú được tuyên thuyết trong ấy là Chánh Tri, Chánh
Kiến.
Chánh
Kiến thuộc về hạnh pháp Ðại Thừa. Ðại Thừa hạnh tuy
nói là nhiều đến lục độ, vạn hạnh, nhưng cần phải
xem Trí Huệ là chủ yếu, là người chỉ đạo. Cho nên Chánh
Kiến là cơ bản của vạn hạnh, vì vạn hạnh không ra ngoài
Chánh Kiến.
Do
chỗ Chánh Tri, Chánh Kiến được rỗng suốt, tức là lý tánh
“bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh” của tất cả
các pháp. Cho nên Chánh Tánh ở đây là chỉ cho lý pháp của
Ðại Thừa. Triệt ngộ lý tánh bất sanh, bất diệt của các
pháp mới có thể chứng đắc Chánh Pháp Thân, nên Chánh Pháp
Thân là thuộc về Pháp Quả của Ðại Thừa.
Cứ
theo thứ tự Chánh Kiến, Chánh Tánh, Chánh Pháp Thân nói trên,
có thể biết đó là thứ lớp tu học của Ðại Thừa không
thể vượt qua. Tức là y nơi Giáo mà khởi Hạnh, do công hạnh
tu hành mà chứng được Lý Tánh. Lý Tánh viên thì Quả mới
được mãn. Ðây là tuần thứ giáo lý, hạnh quả thông thường
trong kinh từng nói.
Hoặc
có chỗ nói: trước tiên đối với quả giác của Như Lai
có chỗ thâm tín, tiến lên một bậc nữa, đối với ngôn
giáo thanh tịnh từ trong biển Ðại Giác lưu xuất, sanh khởi
tâm cung kính, hâm mộ, nhận chân lời Phật dạy. Thật là
chí lý! Thế nên y theo đó thực sự tu hành, do vậy mà được
khế nhập nơi Thực Lý.
Lại
có một lối giải thích khác nữa: Trước tiên y chỉ nơi
pháp Văn, Huân, Tu Tập mà sanh khởi Chánh Kiến Vô Phân Biệt
Trí. Ðây là thuộc về Ðại Thừa pháp và Chánh Kiến. Ðến
như Chánh Tánh là chỉ cho chánh nhơn Phật tánh tại triền
(3), hoặc là Như Lai Tạng tại triền (4). Chánh Pháp Thân là
ước về Như Lai xuất triền để giảng. Nên chân thường
Ðại Thừa thường nói: “Tại triền gọi là Như Lai Tạng,
xuất triền gọi là Pháp Thân”, chính là ý này vậy.
Có
Phật để quy y, có pháp để tôn sùng, đều là chỗ Bồ Tát
cần phải học. Trái lại, hiện tại đã không thể nhất
tâm, nhất ý quy y, tôn sùng, cần mẫn siêng học, tinh tấn
siêng tu, bỏ bảy của báu lại đi nhặt lấy gạch, ngói,
sạn, đá. Nói rõ hơn là không chịu học theo Chánh Kiến,
Chánh Tri mà lại học theo tà tri, tà kiến. Không chịu học
tập pháp Ðại Thừa, mà trở lại học tập pháp Tiểu Thừa.
Không chịu học Tam Tạng Kinh, Luật, Luận mà trở lại đi
học sách vở ngoại đạo, thế tục. Ðây không phải là bỏ
trân bảo mà nhặt lấy ngói, gạch là gì?
Kinh
văn gọi “bảy báu” tức là Thất Thánh Tài trong kinh thường
đề cập, hoặc chỉ cho kinh luật Ðại Thừa pháp của Phật
đã giảng bên trên. Còn như cụm từ “nhặt ngói gạch”
là chỉ cho tà kiến cùng các sách vở ngoại đạo, thế tục.
Pháp
đáng học mà không chịu học, không đáng học mà đi học,
thật là điên đảo vô cùng, Ðó chính là bỏ gốc theo ngọn,
bỏ chân theo ngụy.
Trên
thế gian cho thất bảo là kim ngân, pha lê, xa cừ, mã não...
là những vật hết sức quý báu, vì nó có khả năng cứu
giúp mọi người thoát khỏi sự nghèo cùng, khốn khổ của
thế gian, có thể làm cho thân tâm của mọi người được
an lạc. Vì thế, mọi người đều yêu tiếc, quý trọng, vì
cho rằng đó là những thứ rất hiếm có và khó được.
Cũng
thế, Ðại Thừa giáo pháp tâm địa cũng là một thứ trân
bảo hết sức thù thắng. Vì nó có thể trừ khử sự thiếu
thốn cho chúng sanh, khiến chúng sanh được công đức pháp
tài trang nghiêm thân vạn đức của đức Lô Xá Na, cho nên
được ví như bảy thứ báu. Pháp bảo thù thắng cùng công
năng lợi tế chúng sanh như vậy mà lại bỏ đi, không chịu
học tập, đó không phải là điều đáng tiếc ư?
Ðại
Thừa chánh pháp của Như Lai, nếu không chịu học tập thì
công đức pháp tài không thể phát sanh. Ðó là một sự tổn
thất rất lớn không thể nào bù đắp được.
Hiện
tại nói xa thêm một bước nữa, trở lại đi học những
điều không nên học, càng làm cho bạn bị đắm chìm vào
vực sâu lỗi lầm... kinh văn nói: “Trở lại đi học” là
học những thứ nào? Chính là bảy thứ như trong kinh có nêu
rõ như sau:
-
Tà kiến: Chỉ cho những tư tưởng sai lầm, trái với chánh
kiến. Tức là chỉ cho những quan niệm không chính xác như
bài bác nhân quả. Thứ tư tưởng sai lầm và quan niệm bất
chính này độc hại cho nhân loại rất lớn. Nếu ai bị tư
tưởng ấy làm thương hại, đầu độc rồi, dù làm con người
trên thế gian này nhưng không còn giống với con người nữa.
-
Nhị Thừa: chỉ cho Thanh Văn và Duyên Giác. Hai bậc này chỉ
chủ trương lấy việc tự lợi làm chủ đích. Tức là hành
giả chỉ mong cầu sự giải thoát sanh tử cho chính mình. Căn
cứ vào lập trường Phật pháp tự lợi thuần túy mà nói,
pháp Nhị Thừa này không phải là không nên học tập. Nhưng
hiện tại, đứng về quan điểm Ðại Thừa lợi tha mà xét,
vì quan điểm không lợi tha của Nhị Thừa không thể nào
khế hợp với tinh thần lợi tha của Ðại Thừa Bồ Tát,
cho nên đây không phải là chỗ Bồ Tát nên học.
-
Ngoại đạo: Chỉ cho các thứ tư tưởng, học thuyết ngoài
Phật pháp. Như các bộ luận Tăng Già, Vệ Thế Sự v.v...
Những lý luận của ngoại đạo trái với chân lý. Ngoài ra
còn có những lý thuyết sai khác linh tinh. Ai cũng cho mình là
đúng, người khác là sai, khiến cho học giả rất hoang mang,
không biết nên theo bên nào. Lại nữa, ngoại đạo chỉ ở
ngoài tâm mà cầu pháp. Xưa nay, chưa bao giờ biết phản quán
tự tâm là như thế nào, cho nên mới gọi là ngoại đạo.
-
Sách vở thế tục: Những sách vở của các học giả thông
thường ở thế gian trước tác, như những sách khoa học,
triết học, động vật học, thực vật học, chính trị học,
pháp luật học, cùng với thi thơ, văn chương v.v... Nội dung
chỉ toàn nói việc thế sự, dù trong đó cũng có đạo lý
của nó, nhưng nếu hành giả Bồ Tát học tập các thứ ấy
sẽ bị chướng ngại cho đạo Bồ Tát chân chánh của mình
đang tu học.
-
A Tỳ Ðàm: Trung Hoa dịch là Ðối Pháp hoặc Vô Úy, hoặc
Phân Biệt Huệ, chỉ cho các luận điểm của các học phái
bên Tiểu Thừa tạo ra. Các bộ luận này còn gọi là A Tỳ
Ðạt Ma, đều là căn cứ nơi bộ A Hàm của Ðức Phật tuyên
thuyết mà phóng tác ra. Nhưng vì tư tưởng của các học giả
bên Tiểu Thừa không thống nhất, sự truyền thừa cũng sai
khác, bối cảnh văn hóa bất đồng v.v... nên đưa đến việc
bài xích, chống đối nhau. Mọi người đều chỉ trích nhau
là không đúng với lời Phật dạy, nên tinh thần các bộ
luận đều mâu thuẫn lẫn nhau, tạo nên sự tổn hại cho
việc tu học Ðại Thừa pháp. Vì thế, hành giả Bồ Tát không
nên học.
-
Tạp Luận: chỉ các luận điểm, tư tưởng học thuyết xen
tạp. Nghĩa là thuyết minh các sự việc tạp nhạp hay tạp
luận. Chẳng hạn các bộ luận của ngoại đạo, tứ Vi Ðà
luận (6) của tôn vi Thiên Khải trong Bà La Môn giáo.
-
Tất cả những sách vở biên chép: chỉ những bộ sách ghi
chép về mặt trăng khi tròn, khi khuyết, mặt trời lúc bị
nguyệt thực, mặt trăng lúc bị nhật thực và các hành độ
của tinh tú, toán số v.v... (phần giải thích này dịch y theo
kinh văn của bản Hán văn. Bản Việt văn dịch tóm tắt là:
“Sách luận tà kiến của Nhị Thừa, ngoại đạo, thế tục
v.v...)
Bảy
thứ học thuyết nói trên với những lối luận thuyết trong
đó, nếu không phải là văn nghĩa thiển cận thì cũng là
dị kiến lung tung, so với nghĩa lý thậm thâm và hạnh quảng
đại của pháp Ðại Thừa hoàn toàn không tương ứng. Vì
thế nên cấm hàng tân học Bồ Tát không cho chuyên tâm học
tập.
Tại
sao không cho học tập các thứ ấy?
Vì
nếu chuyên tâm nhứt ý học tập sẽ bị những dị kiến,
dị thuyết ấy huân tập vào tâm. Chẳng những không thể
đi lên con đường rộng lớn, khang trang, bình thản của Phật
pháp, lại còn bị những pháp ấy làm lay chuyển tâm đạo,
và sẽ đi vào con đường sai lầm. Do đó, mầm Bồ Ðề sẽ
bị héo, giống chánh pháp sẽ bị hư, nên trong kinh gọi là
Ðoạn Phật Tánh (làm mất giống Phật).
Phật
Tánh vốn là pháp sẵn đủ nơi tất cả chúng sanh, không thể
đoạn tuyệt. Nếu quả Phật tánh bị đoạn tuyệt thì tất
cả chúng sanh vĩnh viễn không được thành Phật hay sao?
Trong
Chân Thường Ðại Thừa nói: “Tất cả chúng sanh đều được
thành Phật”.
Như
thế tại sao gọi là “đoạn Phật tánh”?
Vì
hành giả sau khi đã học pháp Nhị Thừa và ngoại đạo rồi,
thì không thể đúng như pháp thực hành công phu tu tập Văn,
Tư, Tu của Ðại Thừa. Do đó, Phật tánh sẵn đủ trong tâm
bị thiếu nhân duyên, không thể tăng trưởng, nên mới gọi
là Ðoạn.
Hoặc
là vì đã học theo pháp Nhị Thừa và ngoại đạo nên thối
thất Ðại Thừa mà đi vào con đường khác, nên nói là “đoạn
Phật tánh”.
Trong
kinh từng dạy: “Pháp Ðại Thừa này lưu hành gọi là hạt
giống Phật không bị đoạn tuyệt”.
Kinh
Pháp Hoa cũng nói: “Hành giả Ðại Thừa không nên ở chung
với hành giả Tiểu Thừa”.
Chúng
ta hãy suy xét: một vị Bồ Tát Ðại Thừa hãy còn không được
ở chung với hành giả học tập Tiểu Thừa, huống gì là
những kẻ học tập sách vở của ngoại đạo và thế tục?
Hơn nữa, đối với những pháp đáng lẽ không nên học mà
lại đi học, thì chẳng những Phật tánh không thể tăng trưởng
mà sự việc đó trở lại thành nhơn duyên chướng ngại đạo
Bồ Ðề.
Ðại
Thừa Bồ Tát cần phải liên tục tiến bước trên đạo Bồ
Ðề không được gián đoạn. Nếu nội tâm chấp theo tà giải,
lấy đó làm nhân, lầm tu theo tà hạnh, lấy đây làm duyên;
do đó mà sanh chướng ngại cho việc tu học chánh đạo Ðại
Thừa, làm mất hẳn tâm địa thanh tịnh bổn nguyên. Lúc ấy,
dù muốn cho đạo Vô Lậu phát sanh trở lại cũng thật là
vạn lần khó khăn. Lại nữa, vì do tà kiến mà làm tất cả
tà hạnh đã là ác pháp, tạo thành nhân duyên chướng ngại
cho Bồ Tát đạo.
Cho
nên kinh văn dạy tiếp theo: “Chẳng phải thực hành đạo
Bồ Tát”. Ðã không thực hành Bồ Tát đạo, thì đương
nhiên không thể thành tựu được quả vô thượng Chánh Ðẳng
Chánh Giác. Do vậy, chúng ta thấy vấn đề đối với những
pháp không nên học mà lại học, gây tổn thất to lớn cho
chính mình biết dường nào!
Vì
thế, kinh văn nhấn mạnh: “Nếu cố làm như vậy”, chính
là lời răn trách hàng tân học đã bỏ những pháp mình nên
học, mà đi học những pháp không nên học, để cuối cùng
bị kết luận là Phật tử này phạm khinh cấu tội.
Bồ
Tát phát tâm hóa độ tất cả chúng sanh, mà chúng sanh thì
căn tánh mỗi mỗi không đồng. Nếu như không cho học các
pháp Tiểu Thừa, ngoại đạo hay thế tục thì có phải là
đã làm mất nhiều phương tiện để hóa độ chúng sanh hay
không? Hơn nữa, trong kinh cũng từng dạy: “Bồ Tát mong cầu
những gì? Nên mong cầu được ngũ minh”. (7)
Như
thế tại sao ở đây lại ngăn cấm học những pháp ấy?
Ðiều
này đã nói rồi! Trong đây cấm không cho học các thứ ấy
là chỉ ngăn cấm hàng tân học Bồ Tát cùng những người
trí huệ kém. Còn với những bậc thượng căn lợi trí, những
vị Bồ Tát tu học đã lâu:
-
Vì muốn thành tựu trí huệ quảng đại vô biên cho mình.
-
Vì muốn đối với Phật pháp được đầy đủ sự quán sát,
được trí bất động,
-
Vì muốn hóa độ các loài chúng sanh khác nhau.
-
Vì muốn hòa đồng để điều phục chúng sanh, đồng thời
có thể hoàn thành rất nhanh việc học tập mà không xa lìa
hạnh Bồ Tát của mình đang tu học. Nên mỗi ngày có thể
dùng hai phần thời gian học kinh điển Ðại Thừa, Tiểu Thừa
của Phật, một phần học sách vở ngoại đạo và thế tục.
Ðiều
này được Ðức Phật cho phép và không trái phạm với giới
hạnh của Bồ Tát, như trong kinh Bồ Tát Thiện Giới nói:
“Vì duyên cớ luận nghĩa, vì duyên cớ phá tà kiến, vì
duyên cớ để biết sách vở ngoại đạo là hư vọng và Phật
pháp là chân thật, vì duyên cớ muốn biết thế sự để
độ đời v..v... những trường hợp như vậy đều không phạm
giới”.
Giới
này ngăn cấm tất cả thất chúng Phật tử. Bất cứ chúng
nào, trước hết, cũng phải học tập kinh Phạm Võng này cùng
những giới luật mình cần phải tuân giữ. Chỉ những người
trí lực có thừa mới cho phép học tập những thứ khác.
Giới
này đối với Ðại Thừa và Tiểu Thừa cũng không hoàn toàn
giống nhau. Ðại Thừa và Tiểu Thừa đều không cho học tập
phép ngoại đạo lẫn thế tục và đồng lấy bổn pháp làm
chính (Tiểu Thừa thì học theo Tiểu Thừa, Ðại Thừa thì
học theo Ðại Thừa).
Nhưng
Ðại Thừa không học luật Thanh Văn thì phạm giới, trong
khi Tiểu Thừa không học Ðại Thừa thì không phạm. Ðây
là những điểm tương đồng và bất đồng giữa Ðại Thừa
và Tiểu Thừa vậy.
Chú
thích:
(1)
Thắng giải: một trong năm thứ tâm sở pháp của ngôi Biệt
Cảnh trong Luận Ðại Thừa Bách Pháp. Thắng Giải nghĩa là
đối với cảnh sở duyên nhất quyết không bị một tác động
nào có thể làm cho tâm lay chuyển. Trái lại, nếu đối với
cảnh sở duyên, tâm còn do dự, lưỡng lự thì hoàn toàn không
có thắng giải. Vì thế, luận Ðại Thừa Bách Pháp không
đem thắng giải tâm sở pháp này nhiếp vào ngôi Biến Hành
(Biến Hành và Biệt Cảnh là hai ngôi tâm sở pháp ở trong
Duy Thức học).
Biến
Hành tâm sở có năm thứ: Xúc Tác, Ý, Thọ, Tưởng, Tư.
Ngôi
Biệt Cảnh tâm sở có năm thứ: Dục, Thắng Giải, Niệm,
Ðịnh, Huệ.
Ở
đây dùng từ “thắng giải” là chỉ hàng tân học Bồ Tát
vì tín tâm chưa vững, có thể bị thối chuyển, tức là chưa
đạt được sự thắng giải. Vì khi đạt được thắng giải
rồi thì bất cứ cảnh duyên nào cũng không thể làm lay chuyển
nổi đạo tâm, tức là tín tâm kiên cố không thối chuyển.
Tín
tâm không thối chuyển là như thế nào?
Như
đức Liên Tông thập nhất tổ Triệt Ngộ đại sư dạy: “Người
tu theo pháp môn Tịnh Ðộ phải có tâm thâm tín. Thâm thâm
tín nương vào đâu để biết? Người tu pháp môn niệm Phật,
tín tâm nhất định không bao giờ vì cảnh duyên mà thay đổi.
Lúc
đương tu pháp môn Tịnh Ðộ, có đức Sơ Tổ Ma Ha Ca Diếp
hiện thân đến bảo rằng: - Pháp môn Tịnh Ðộ không rốt
ráo, ngươi nên bỏ đi, ta sẽ chỉ cho pháp môn Thiền Ðịnh
là pháp tối thượng, tu sẽ mau được giải thoát thành Phật...
Nghe
vậy, người ấy nhất quyết khước từ mà thưa rằng: - Xin
tạ ơn Tổ có lòng chiếu cố, dạy bảo cho con như vậy, nhưng
con quyết không dám bỏ pháp môn Tịnh Ðộ, vì đó là pháp
môn của đức Bổn Sư Thích Ca tuyên thuyết, và con đã tín
thọ từ lâu...
Hoặc
có đức Phật Thích Ca hiện thân đến bảo rằng: - Ngươi
nên bỏ pháp môn Tịnh Ðộ đừng tu theo, nên tu pháp môn khác.
Pháp môn Tịnh Ðộ thời trước ta vì người căn cơ thấp
kém, mượn làm phương tiện tạm thời nên giảng nói vậy
thôi.
Người
ấy cũng đảnh lễ Phật mà thưa rằng: - Kính bạch Thế Tôn!
Theo lời chỉ giáo của Ngài con không dám trái, nhưng tín tâm
của con quyết định tu theo pháp môn ấy. Hiện giờ, con không
thể nào bỏ pháp môn Tịnh Ðộ mà tu theo pháp khác được.
Chính
Phật, Tổ hiện thân đến bảo tu theo pháp môn khác còn không
lay chuyển được tâm hành giả tu theo pháp môn Tịnh Ðộ,
huống chi những cảnh duyên khác. Ðược như thế mới gọi
là “thắng giải”.
(2)
Năm pháp được chia làm nhiều loại:
*Năm
pháp về danh tướng: trong kinh thường gọi là Tam Tánh Ngũ
Pháp, đều là phân biệt tự tánh của các pháp. Tam Tánh là
thiện tánh, ác tánh, vô ký tánh. Ngũ Pháp là ở trong kinh
Lăng Già cùng các đại luận như Du Già Luận, Duy Thức Luận...
đều có giải thích rõ ràng. Năm pháp về danh tướng gồm:
-
Tướng: các pháp hữu vi thiên hình vạn tượng, từ nhân duyên
mà sanh, hiện các thứ tướng trạng sai khác, nên gọi là
Tướng.
-
Danh: nương theo nơi tướng của các pháp mà gọi, do đó có
các thứ tên gọi khác nhau. Tướng là sở thuyên, Danh là năng
thuyên (ví như cái bàn, tập sách v.v... hình tướng của chúng
là sở thuyên, tên gọi của chúng là năng thuyên). Hai pháp
này là cảnh sở biến do tâm hữu lậu của phàm phu biến
hiện ra.
-
Phân biệt: Xưa dịch là vọng tưởng, chỉ cho tâm năng biến,
phân biến hai tướng sở biến nói trên. Ba pháp vừa nói trên
thuộc về năng biến và sở biến của tâm hữu lậu.
-
Chánh tri: tất cả các vọng tưởng xen lộn ở trong tâm vô
lậu. Bốn pháp này thuộc về hữu vi, nhưng chánh tri thuộc
về vô lậu, còn các pháp kia thuộc về hữu lậu vậy.
-
Như như: nghĩa là chơn như do chánh tri mà chứng đắc. Tại
sao gọi là như như? Vì do trí Như Lý mà đắc chơn như vậy.
Pháp này thuộc về pháp vô vi. Vì thế năm pháp vừa nói trên
gồm thâu tất cả các pháp hữu vi và vô vi.
*
Năm pháp về sự lý: nghĩa là tất cả sự lý của các pháp
không ra ngoài năm thứ. Trong Ðại Thừa Bách Pháp Luận có
nói năm pháp như sau:
-
Tâm pháp: chỉ cho các thức. Duy Thức học nói có tám thức.
Bát thức tâm vương là: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt
thức, thân thức, ý thức, mạt na thức, a lại da thức.
-
Tâm sở pháp: hợp cùng với bát thức tâm vương bên trên
tương ứng với nhau mà đồng sanh khởi, nên gọi là tâm sở.
-
Sắc pháp: chỉ cho cảnh sở biến của tâm vương và tâm sở
nói trên.
-
Bất tương ưng hành pháp: Do ba pháp tâm vương, tâm sở, sắc
pháp đã nói trên mà giả lập. Tại sao gọi là bất tương
ứng? Vì 24 thứ bất tương ứng này không tương ứng với
tâm vương, tâm sở và sắc pháp nên gọi là Bất Tương Ứng.
-
Vô vi pháp: Thực tánh của bốn pháp vừa kể. Bốn pháp trước
thuộc về Sự, pháp này thuộc về Lý. Do đó, năm pháp trên
đều là sự lý của tất cả pháp. Mà tất cả pháp cũng
đều không ra ngoài Duy Thức Duy Tâm.
*
Năm pháp về lý trí:
-
Chơn Như.
-
Ðại Viên Cảnh Trí.
-
Bình Ðẳng Tánh Trí.
-
Diệu Quan Sát Trí.
-
Thành Sở Tác Trí
*
Năm pháp của Ðề Bà: do Ðề Bà Ðạt Ða hư vọng lập ra
năm pháp để phá hòa hợp tăng của đức Bổn Sư Thích Ca.
Trong Chánh Lý Luận quyển 43 có nói rất rõ.
(3)
Chánh nhân Phật tánh: Một trong ba nhân Phật tánh. Trong kinh
Niết Bàn nói có ba nhân Phật tánh như sau:
-
Chánh nhân Phật tánh: chỉ cho Chân Như trung chánh, xa lìa tất
cả sự tà vạy, sai quấy, nương nơi Chánh Nhân Phật Tánh
này mà được thành tựu quả đức Pháp Thân.
-
Liễu nhân Phật tánh: dùng trí huệ chiếu soi rốt ráo lý
Chân Như, y theo đó mà thành tựu quả đức Bát Nhã.
-
Duyên nhân Phật tánh: Tất cả thiện căn công đức làm duyên
trợ lực cho liễu nhơn Phật tánh. Do đó mà chánh nhân Phật
tánh được khai phát, hiển lộ. Y theo đó mà thành tựu đức
giải thoát.
Trong
kinh Kim Quang Minh Huyền Nghĩa nói:
“Thế
nào gọi là tam Phật tánh?
Phật
gọi là giác tánh, có nghĩa là không đổi thay, tức là không
phải thường, không phải vô thường. Ví như kho vàng chôn
trong đất, thiên ma, ngoại đạo không thể phá hoại. Ðó
là chánh nhân Phật tánh.
Người
biết được kho vàng trong đất, dụ cho liễu nhân Phật tánh,
tức là giác trí không phải thường cũng không phải vô thường.
Trí tương ứng với lý, không có gì có thể lay động và
phá hoại được. Muốn lấy được kho vàng trong đất phải
dọn cỏ cây, rác rến, đất đá v.v... rồi đào đất lên
lấy kho vàng. Ðây là ví dụ cho duyên nhân Phật tánh. Tức
là tất cả thiện căn công đức chẳng phải thường, chẳng
phải vô thường, có công năng tương trợ cho giác trí mà
khai hiện chánh tánh”.
Bộ
Ðồng Ký quyển thượng nói: “Chánh là trung chánh, liễu
là chiếu liễu, duyên là trợ duyên”, có nghĩa:
-
Duyên nhân Phật tánh trợ giúp cho liễu nhân Phật tánh để
chánh nhân Phật tánh được hiển hiện.
-
Chánh nhân Phật tánh phát khởi công dụng thù thắng nơi liễu
nhân Phật tánh. Liễu nhân Phật tánh dẫn dắt cho duyên nhân
Phật tánh.
Duyên
nhân Phật tánh trở lại trang nghiêm cho chánh nhân Phật tánh.
Ba
pháp ấy đã nương nhau, nên chẳng phải nghĩa Hoành (không
gian), nhất tâm vốn sẵn đủ ba pháp cho nên chẳng phải nghĩa
Thụ (thời gian). Ba pháp đều gọi là nhân, do căn cứ nơi
nghĩa này vậy. Do diệu nhân này mà có thể chứng đắc được
đạo quả vậy.
(4)
Tại triền Như Lai tạng là một trong hai loại Như Lai:
-
Xuất triền Như Lai: danh từ chỉ địa vị viên minh của chư
Phật, đã vượt qua khỏi tất cả chướng ngại, phiền trược.
-
Tại triền Như Lai: danh xưng với tất cả những hữu tình
còn ở trong vòng triền phược cấu nhiễm. Phàm hành giả
cúng dường là cúng dường hai loại Như Lai vừa kể trên,
có giải rõ trong bộ Bí Tạng Ký Sao.
(5)
A Hàm: tên chung của các kinh điển Ðại, Tiểu Thừa, nay dịch
là A Cấp Na, xưa dịch là A Hàm, còn gọi là A Hàm Mộ. Trung
Hoa dịch là Pháp Quy, Pháp là chỉ cho vạn pháp, Quy là quy
thú, nghĩa là trở về. Ý chỉ cho muôn pháp đều quy thú về
nơi đây không thiếu sót. Có nơi dịch là Vô Tỷ Pháp, nghĩa
là pháp mầu nhiệm không pháp nào so sánh bằng.
(6)
Tứ Vi Ðà: còn gọi là Tỳ Ðà hay Bì Ðà. Sau này dịch là
Phệ Ðà hay Tiết Ðà...
Theo
bộ Kim Quang Minh Tối Thắng Kinh Sớ, quyển 5 của Tam Tạng
Pháp Sư Huệ Chiếu chú thích rằng:
“Tứ
minh pháp tức là tứ Tiết Ðà luận. Xưa dịch là Vi Ðà hay
Tỳ Già La luận đều sai cả. Tứ Tiết Ðà Luận như sau:
-
Nhân luận Tiết Ðà: Trung Hoa dịch là Thọ Minh, nội dung bao
gồm những điều giải thích về sống chết, thọ hay yểu.
-
Giả thọ Tiết Ðà: Trung Hoa dịch là Tự Minh, giải thích
việc tế tự, cầu đảo.
-
Sa Ma Tiết Ðà: Trung Hoa dịch là Bình Minh, tức bình luận
những việc đúng, sai, phải, trái, cho rõ ràng.
-
A Ðạt Tiết Ðà: Trung Hoa dịch là Thuật Minh, giải thích
những nghệ thuật, kỹ năng...
(7)
Ngũ Minh: gọi đủ là Ngũ Minh Xứ gồm có:
-
Thinh Minh: thuyết minh về ngữ ngôn, văn tự.
-
Công Xảo Minh: thuyết minh về tất cả công xảo, kỹ nghệ,
toán số.
-
Y Phương Minh: nói về ngành y học.
-
Nhân Minh: xác định chánh tà, chân ngụy, thông thường gọi
là Luận Lý Học.
-
Nội Minh: thuyết minh về tôn chỉ của mỗi tôn giáo. Bốn
loại trước, phần học thuyết đều giống nhau. Chỉ riêng
loại sau thì phần học thuyết khác biệt. Chẳng hạn Bà La
Môn giáo thì lấy Tứ Phệ Ðà làm Nội Minh, Phật giáo thì
lấy Tam Tạng mười hai phần giáo làm Nội Minh.
Chữ
Minh có nghĩa là xiển minh, tức là khai triển lý của năm
loại minh bên trên, để làm sáng tỏ ý nghĩa. Hơn nữa, Minh
là tên khác của Trí, nghĩa là y theo các loại học thuyết
ấy mà được trí huệ, nên gọi là Minh.
