B.2.2.26.
ÐỘC THỌ LỢI DƯỠNG GIỚI
(giới
riêng thọ lợi dưỡng)
Kinh
văn
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử tiên tại tăng phường” cho đến
câu “...phạm khinh cấu tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
Phật tử ở sẵn trước trong tăng phường, hoặc nơi thành
ấp, nhà cửa của tăng hay của vua, nhẫn đến chỗ kiết
hạ an cư, hoặc trong đại hội... Lúc sau nếu thấy có khách
Bồ Tát tỳ kheo đến, chư tăng ở trước phải rước đến,
đưa đi, cung cấp các thứ đồ uống ăn, đồ nằm, thuốc
men, nhà cửa, phòng, giường, ghế v.v...
Nếu
tự mình không có đủ thời phải bán thân, bán con cái, lóc
thịt thân mình mà bán để sắm đồ cung cấp cho những khách
tăng ấy. Nếu có thí chủ đến thỉnh chúng tăng đi thọ
trai, nếu vị khách tăng đó có dự phần, vị Trị Sự phải
theo thứ tự phái khách tăng đi thọ trai.
Nếu
chư tăng đến ở trước đi thọ trai riêng, mà vị khách tăng
không được mời đi thì vị Trị Sự mắc vô lượng tội,
không xứng đáng đứng trong hàng sa môn, không phải giòng
Thích Tử, không khác gì loài súc sanh. Phật tử này phạm
khinh cấu tội.
Lời
giảng:
Làm
chủ trong đại chúng phải có lòng đại lượng, cho nên không
được trái với luật nghi. Ðiều này giới trước đã thuyết
minh.
“Chư
tăng đến trước ở nơi tăng phường” đối với chư tăng
từ bốn phương đến sau, phải có lễ tiết nhất định,
phải tiếp đãi chu đáo, không được có chỗ thiếu sót.
Ðây là điểm thuyết minh của giới này.
Tăng
lữ đồng chung sống, điều tối yếu là cần phải đủ đức
Lục Hòa. Tức là chẳng những pháp vị đồng chung hưởng
mà còn phải lợi hòa đồng quân phân. Nếu chỉ pháp vị
đồng cộng hưởng, mà lợi dưỡng không đồng quân triêm
(triêm: chấm vào) thì đại chúng không thể nào có sự hòa
vui khi cùng nhau chung sống, lại còn có sự ô uế giống như
thế tục không thể tưởng được. Ðiều này trong tăng đoàn,
chúng Thanh Văn còn phải cố gắng tránh cho kỳ được, huống
chi là vị Bồ Tát lấy lợi tha làm yếu vụ. Vì thế, đối
với khách Bồ Tát tỳ kheo đến chùa, người làm chủ phải
dùng lễ chủ tân mà tiếp đãi, không nên có chút thiếu sót,
bỏ qua. Nếu không dùng tâm bình đẳng đối đãi với khách
tăng, thậm chí lại có ý khinh miệt, thì tội lỗi ấy rất
nặng.
Vì
thế, Ðức Phật dạy chư tăng cư ngụ trước, phải tiếp
đãi khách tăng từ bốn phương đến thật tử tế, giúp cho
quý vị đỡ bớt sự mệt nhọc lúc đi đường, để sau khi
cởi bỏ hành lý, liền có thể an tâm hành đạo. Như thế
mới thực sự là tiếp đãi khách tăng chu đáo, hợp với
nghĩa đồng sự, đồng đạo.
Trong
bộ Nam Hải Ký Quy Truyện của Nghĩa Tịnh Tam Tạng Pháp Sư
nói: “Khi Phật còn tại thế, Ngài quy định rằng: Khi có
khách tỳ kheo đến đạo tràng, vị tỳ kheo trụ trì nhất
định phải xướng lên: ‘Thiện lai!’ để biểu thị ý
hoan nghênh. Do vậy từ xưa đến nay, quy luật của các tự
viện ở Ấn Ðộ mỗi khi thấy tỳ kheo mới đến, bất cứ
là khách tăng hay cựu trụ tăng, hoặc hàng đệ tử đã cư
ngụ trước kia, chư tăng ở tự viện trước phải tức khắc
đến trước mặt khách hoan nghinh và xướng rằng: ‘Sa Yết
Ða!’ (thiện lai!) Vị khách tăng được hoan nghinh cũng phải
đáp lại rằng: “Tột sa yết đa!” (cực thiện lai). Nếu
2 bên không xướng họa như thế là trái với quy luật của
nhà chùa, cũng như trái phạm lời dạy trong Luật. Vì vậy,
điều này các tự viện Ấn Ðộ ngày xưa rất xem trọng!”
Quy
luật của các tòng lâm bên Trung Hoa, chư Tổ cũng chế định:
Khi nào các vân thủy tăng trong mười phương đến trú ngụ,
chư Tăng đến ở trước nhất định không được cự tuyệt
mà phải tùy theo số khách tăng, lo chuẩn bị chu đáo tất
cả những nhu dụng như trà, nước, thức ăn uống, chỗ nghỉ
ngơi v.v... và phải thật tận tâm chiếu cố”.
Riêng
y bát và hành trang, các vị vân thủy tăng phải mang theo bên
mình. Nhà chùa các nơi không có bổn phận phải lo những điều
này. Ðây là phương tiện rất lớn, giúp cho quý vân thủy
tăng lúc đi tham phỏng.
Sao
gọi là vân thủy tăng?
Vì
các vị hành cước tăng này, chân rảo bước khắp bốn phương,
tìm minh sư, thiện hữu để tham phỏng, cũng như mây trôi
nước chảy, nên gọi là Vân Thủy Tăng.
Theo
lời Phật dạy: “Các thứ uống ăn trong chùa vốn là phổ
đồng cúng dường cho chúng tăng ở mười phương”. Nhưng
vì sự dụng tâm của người không đồng nhau, nên đối với
khách tăng, có người thì biểu lộ ý hoan nghênh, có người
lại đóng cửa ngăn cản không cho vào. Vị trước, đương
nhiên là hành đúng theo lời Phật dạy. Hạng người sau là
làm trái lời dạy của chư Phật, làm tổn phước của đàn
việt, tổn hại nhân tình và làm bế tắc bước đường hành
cước của chúng Tăng trong mười phương. Tội này rất lớn,
không thể nói được.
Kinh
Phật Tạng dạy: “Một phần quang minh trong tướng bạch hào
của Như Lai đủ để cung cấp cho tất cả đệ tử xuất
gia cũng không thể thọ dụng hết được”. Như vậy, chúng
Tăng trong các tự viện có thiếu thốn chi mà phải lo buồn?
Tại sao tự mình riêng thọ sự cung cấp mà không cung cấp
cho khách tăng?
Nên
biết rằng: “Nhất phần La Hán, nhất phần trai”, nghĩa
là thêm một vị La Hán là có thêm một phần trai phạn cho
Ngài. Nên hiểu rõ như vậy, đừng lo đông người mà không
có vật thực. Tâm lượng càng rộng lớn thì sự sinh sống
càng dồi dào. Nên lo cho sự thiếu thốn là không thành vấn
đề.
Ðức
Phật dạy đại chúng rằng: “Nếu là một Phật tử đã
thọ Bồ Tát giới, là người đến ở trước trong tăng phường
tức chúng xuất gia từ trước đến nay ở trong tự viện
ấy. Sau đó, nếu có khách Bồ Tát tỳ kheo đến nơi tăng
phường, xá trạch, thành ấp, hoặc nơi nhà của quốc vương,
nhẫn đến chỗ kiết hạ an cư cùng trong đại hội. Ở những
nơi nói trên, khi thấy có khách tăng đến sau, chư tăng ở
trước đều phải đứng dậy nhường chỗ ngồi để tỏ
ý cung kính nhau”.
“Tăng
phường” là nơi già lam của chúng xuất gia Thanh Văn hoặc
chúng xuất gia Bồ Tát cư trú.
“Trạch
xá” (nhà cửa) là chỗ của các Phật tử tại gia hoặc Bồ
Tát tại gia cư ngụ, cũng có thể nói là nhà của các cư
sĩ sắp đặt, sửa sang, trang hoàng để chúng tăng cư trú
và hành đạo.
“Nhà
của vua” chỉ nơi do vua xây cất, tạo lập cho chúng tăng
cư trú để tu hành cho được an ổn.
“Hạ
tọa an cư” (kiết hạ an cư) còn gọi là “tọa hạ” hay
“tọa lạp”, là ý nghĩa an cư. Theo phép dùng lịch của
Ấn Ðộ, một năm chia làm ba mùa. Trong Phật pháp cũng y theo
đó mà ấn định ba mùa:
-
Từ mười sáu tháng Giêng đến mười lăm tháng Năm là mùa
nóng.
-
Từ mười sáu tháng Năm đến mười lăm tháng Chín là mùa
mưa.
-
Từ mười sáu tháng Chín đến mười lăm tháng Giêng là mùa
lạnh.
Trong
mùa Mưa, các tiểu trùng sanh sảnh và hoạt động rất nhiều.
Nếu chúng Tăng mang bình bát đi khất thực, sẽ làm thương
hại đến chúng sanh và như vậy thế nhân sẽ chê bai, hủy
báng. Do đó, việc cử hành lễ Kiết Hạ An Cư trong thời
gian này, chẳng những tránh được việc làm thương hại đến
chúng sanh bên ngoài, lại còn có thể tu dưỡng được thân
tâm của mình bên trong.
Trong
kinh văn dùng từ “nhẫn đến” là từ ngữ có tích cách
khái lược, vì trụ xứ của chúng Tăng rất nhiều, không
thể nói hết được, nên phải dùng từ này để diễn đạt.
Một
nơi nào bất kỳ nếu được dùng làm nơi tạm trú trong thời
gian nhập hạ, đều gọi là “chỗ kiết hạ an cư”.
Kinh
văn dùng hai chữ “đại hội” là chỉ nơi pháp hội giảng
nói chánh pháp hoặc trai hội được thiết lập để cúng
trai tăng.
(Sáu
nơi đi đến của khách Bồ Tát tỳ kheo là tăng phường, xá
trạch, thành, ấp, nhà của quốc vương, trong bản dịch Việt
văn nói gọn là ba nơi là nơi thành ấp, nhà cửa của tăng
hay của vua...)
Chư
tăng ở trước đối với khách tăng mới đến, tại sao phải
rước đến, đưa đi như vậy? Tại sao phải cung kính, tử
tế như vậy?
Vì
các tăng nhân đã ở trước nơi tăng phường thuộc về vai
vế chủ nhân, cần phải thể hiện tròn bổn phận của người
làm chủ. Nên khi trông thấy khách Bồ Tát tỳ kheo đi đến
chỗ của mình, chẳng những phải đưa rước trước sau như
một, không thất lễ nghi, lại còn phải cung cấp thức ăn
uống đầy đủ. Cho nên kinh văn dạy tiếp theo: “Cung cấp
cho những đồ uống ăn”.
Thêm
nữa, để giải quyết vấn đề sinh sống của con người,
không phải chỉ gồm bao nhiêu thứ kể trên là vừa đủ,
mà còn phải lo chỗ nơi cho khách tăng nghỉ ngơi. Ðó là vấn
đề phòng xá. Chiều tối, sự ngủ nghỉ phải dùng tọa cụ
cùng mùng mền, chiếu gối v.v... Ðêm ngủ thì phải đơn,
giường. Chẳng hạn giường dây để khách tăng tọa thiền,
giường cây để chư vị nằm kiết tường ngơi nghỉ. Lại
còn những thứ linh tinh như đèn, nến, nước nôi... cũng phải
chuẩn bị đầy đủ để quý vị có việc cần dùng. Những
nhu yếu cho khách tăng có thể nói là rất nhiều, không thể
kể hết, nên tùy theo chỗ nhu cầu mà lo sắm sửa. Cho nên
kinh văn đặc biệt đúc kết vấn đề là “sự sự cấp
dữ” (tất cả mọi việc đều phải cung cấp) để cho khách
tăng không cảm thấy có chỗ bất tiện hoặc thiếu thốn
trong lúc ở trọ.
Trong
Luật dạy sự cung cấp cho khách tăng chẳng những không được
lẫn tiếc một món chi, lại còn phải theo đúng pháp cúng
dường. Tại sao vậy?
Vì
chỉ có thực hành như vậy mới có thể gọi là người Phật
tử biết tôn trọng pháp môn và cũng làm tròn bổn phận của
người làm chủ trong tăng phường. Ðối với bản thân riêng
mình, thì nên tiết kiệm, nhưng với sự chiêu đãi khách tăng,
thì không được quá ư kiệm phác (tằn tiện một cách chất
phác).
Ở
đây có người nói rằng: Theo Luật dạy như trên thì đúng
rồi! Nhưng trong trường hợp thường trụ có sẵn tài vật
để cúng dường cho khách tăng thì không nói gì, nhưng ngược
lại, nếu thường trụ không có sẵn tài vật thì lấy gì
để cúng dường?
Nếu
bạn tự nhận mình là một hành giả cầu Bồ Tát đạo, nếu
tự mình không có tài vật, thì phải bán y vật của mình
để mua sắm vật dụng, cung cấp cho khách tăng. Giả sử luôn
cả y vật cũng không có, thì phải bán thân mình để mua sắm
vật cúng dường cho khách tăng. Làm như thế không phải là
bắt buộc, nhưng chỉ là để chứng tỏ tâm chí thành của
bạn đối với khách tăng.
Vấn
đề bán thân để cúng dường cho khách tăng bao gồm hai giới
xuất gia và tại gia, vì mọi người đều có thân. Chẳng
những bán đợ thân thể của mình, mà cho đến thân con trai,
con gái cũng bán để cung cấp cho khách tăng.
Ðiều
này thuộc về hàng Bồ Tát tại gia vì Bồ Tát xuất gia không
có vợ con. Hơn nữa, chẳng những bán đợ thân mình, chịu
nhiều khổ cực mới thu được số tiền lo sự nhu dụng cho
khách tăng, mà nếu cần, cũng phải lóc thịt thân mình mà
bán để được số tiền mua sắm các thứ cung cấp cho khách
tăng, không được có tâm lẫn tiếc mảy may. Thử tưởng,
với sanh mạng còn phải hy sinh đem bán, hoặc lóc thịt đem
bán để cúng dường cho khách tăng, huống chi tiền của là
vật ngoài thân, lại càng không đáng tiếc hơn nữa. Ðức
Phật chế giới này và ân cần dạy bảo đến mức ấy. Chúng
ta là đệ tử Phật lẽ nào lại xem thường!
Trong
kinh dù chỉ nói về Bồ Tát tỳ kheo, nhưng Thanh Văn tỳ kheo
nếu có phần lợi dưỡng, cũng phải cung cấp cho tất cả
như thế, không được biếng nhác, lơ là. Còn chúng Phật
tử tại gia, dù không có phần lợi dưỡng, nhưng đứng về
phương diện cung cấp cho khách, thì bổn phận của người
làm chủ, Bồ Tát tại gia cũng phải cung cấp tất cả sự
nhu dụng.
Nếu
có đàn việt (thí chủ) đến thỉnh chúng Tăng, khách Tăng
cũng có một phần lợi dưỡng trong đó.
Chữ
Ðàn, Trung Hoa dịch là Thí. Chữ Việt có nghĩa là vượt qua.
Nghĩa là bất cứ ai, nếu phát tâm bố thí để cứu giúp
sự khó khăn của người, thì người ấy sẽ vượt qua được
bể khổ nghèo cùng.
Khách
tăng là những vị thí chủ không định trước, là tất cả
chư Tăng hành cước từ mười phương đến, không phân biệt
Ðại Thừa Bồ Tát hay Tiểu Thừa Thanh Văn tăng. Trong kinh
văn nói đến “dự phần lợi dưỡng” nghĩa là những tài
vật của đàn việt cúng dường, bố thí như y phục, thực
phẩm, cùng những đồ vật khác. Dù là thỉnh tất cả chư
tăng hay chỉ hạn định thỉnh một số chư tăng, thì những
tài vật ấy thông cả mười phương thánh phàm, không luận
khách chủ. Tất cả đều bình đẳng, nên đương nhiên, khách
Tăng cũng có một phần lợi dưỡng trong ấy.
Của
tín thí là của chung khắp mười phương thì chúng tăng cũng
phải như nước với sữa hợp một, chung cùng tiếp thọ tài
vật cúng dường ấy. Nếu thí chủ không thể thỉnh tất
cả chư tăng thì thỉnh năm vị, mười vị, hoặc trăm vị.
Ðức Phật dạy chúng Tăng phải theo thứ tự mà đi thọ trai.
Vì thế, vị làm chủ tăng phường phải thể theo từ ý của
Phật dạy, nhất nhất đều phải căn cứ theo thứ tự cử
khách tăng đi thọ trai, không được lựa chọn khách tăng
hay cựu trụ tăng. Cũng không được tùy theo ý mình, ưa thích
ai thì cử đi thọ trai, không ưa thích thì không cử đi thọ
cúng dường.
Chúng
ta thử suy xét, theo lời Phật dạy, nếu tự mình không có
tài vật còn phải đem thân đi bán, hoặc đợ, ngay đến việc
lóc cả thịt trên thân để mua sắm thực phẩm, vật dụng
cung cấp, cúng dường khách tăng để tỏ lòng cung kính. Trong
khi hiện tại có đàn việt thỉnh đi thọ trai mà lại không
y theo thứ tự cử khách tăng đi, thì còn gì là đạo lý?
Dù như thế nào, với tội lỗi này, không thể nào cho thông
qua được. Vì thế, nếu chư tăng đã ở trước quả thật
có tâm tư dụng, riêng đi thọ trai mà không cử khách tăng
đi, thì vị chủ tăng phường ấy mắc vô lượng tội.
Tại
sao kết tội quá nghiêm khắc như vậy?
Theo
kinh Ngũ Bách Vấn nói: “Chúng tăng ăn phần của mình đã
hết, lại ăn phần của người khác, được no một bữa thì
phạm tội Ba La Di, nếu không no thì phạm tội đọa”.
Trong
kinh Phạm Võng Sơ Tâm cũng nói: “Chúng cựu trụ thọ dụng
thức ăn uống, cứ theo mỗi miếng mà tính mức độ phạm
tội, còn nếu nhận tài vật của thí chủ cúng dường thì
cứ tính theo giá tiền mà quy tội” (nghĩa là từ năm tiền
trở lên thì phạm Ba La Di, không đủ năm tiền thì phạm tội
nhẹ). Tội lỗi của chúng đều do nơi người làm chủ.
Cho
nên trong kinh nói: “Vị chủ tăng phường mắc vô lượng
tội” (chủ tăng phường trong bản Việt văn dịch là “trị
sự”). Hơn nữa, riêng đi thọ trai là do nơi tâm tham, không
cử khách tăng đi là do nơi tâm sân. Dù tham hay sân, đều
gồm có si trong ấy. Như thế, tam độc tăng trưởng, vô lượng
vô biên tội nghiệp do đó mà phát sanh. Vì thế, người làm
chủ trong đại chúng thọ sự thỉnh cúng của thí chủ, phải
y theo lời Phật dạy, phải theo thứ tự mà cử đi thọ trai.
Nếu trái lời Phật dạy thì tội không phải nhỏ.
Theo
thứ tự cử tăng đi thọ thỉnh, theo Luật dạy như vầy:
“Căn cứ theo thứ tự thượng tọa tỳ kheo. Thí dụ như
ngày hôm qua cử vị thượng tọa này đi thọ cúng, thì ngày
hôm nay nên theo thứ tự luân phiên, cử vị thượng tọa khác
đi. Tuyệt đối không được đảo lộn thứ tự, đem người
sau để ra trước mà cử đi. Nếu theo thứ tự đúng, là đến
phiên vị tăng ấy đi thọ trai mà người chủ tăng phường
không cử vị ấy đi, thì phạm tội khinh cấu.
Trường
hợp đến phiên vị tăng này đi thọ trai, bất ngờ có vị
tăng thượng tọa đến. Ðương nhiên vị tăng được cử
đi thọ trai ngày hôm nay phải nhường cho vị thượng tọa
mới đến đó đi thọ trai.
Trái
lại, nếu không có vị tăng nào mới đến, hiện tại đến
phiên vị tăng nhân ấy được cử đi. Vị chủ tăng phường
cố ý không muốn cử vị tăng ấy mà lại riêng cử vị tăng
khác đi, như thế là không đúng với lời Phật dạy”.
Một
vị Bồ Tát tỳ kheo làm chủ trong chúng, nếu chỉ biết có
ăn mà không biết theo thứ tự cử chúng Tăng đi thọ cúng
dường. Như thế, dưới thì không hợp với nhân tình, nên
thuộc vào hạng ngu si, không có trí huệ. Nên trong kinh dạy:
“Không khác gì loài súc sanh”. Loài súc sanh chỉ nghĩ đến
việc ăn uống như bò, trâu, ngựa v.v... ăn cỏ, uống nước,
không biết gì về thứ tự trước sau. Giữa thì không đúng
với pháp hòa kính, không hợp với lễ nghi của Tăng. Nên
trong kinh nói: “Không xứng đáng là hàng Sa Môn”. Vì một
vị Sa Môn chân chính, quyết không bao giờ thọ nhận sự cúng
dường một mình. Trên thì trái với từ ý của Phật. Vì
từ ý của Phật là trọng đạo pháp, chứ không trọng uống
ăn. Hiện tại đã không biết trọng nơi thánh đạo, nên trong
kinh dạy: “Không phải dòng Thích tử”. Vì hành động này
hoàn toàn trái với lời trong Luật dạy, nên không được
dung nạp trong pháp môn.
Chư
Tăng ở trước nơi tự viện, riêng đi thọ cúng dường mà
không để ý cử khách tăng đi, trước tiên là không lưu tâm
nghinh tiếp, cung cấp đối với khách tăng, như vậy thì trái
với hạnh lợi tha của đại sĩ, kế đó là trái với tâm
bình đẳng của thí chủ, nên trong kinh kết luận: “Phật
tử này phạm khinh cấu tội”.
Trường
hợp thí chủ không phải vì trai tăng, mà do những nhân duyên
đặc biệt khác nên chỉ riêng thỉnh các tăng nhân cựu trụ,
thì chư tăng này riêng đi thọ sẽ không phạm giới.
Hoặc
vì thí chủ không hoan hỷ khi trông thấy vị tăng nhân ấy
nên vị chủ tăng phường không cho đồng đi thọ trai. Trường
hợp này cũng không phạm giới.
Trong
kinh Tăng Hộ, Ðức Phật dạy Tăng Hộ tỳ kheo rằng: “Vào
thời Ðức Phật Ca Diếp, có một vị tăng thường ở trong
chùa. Một hôm, có người đàn việt mang thức ăn đến cúng
dường chúng tăng.
Lúc
ấy, trong chùa có một vị khách tăng lưu ngụ. Vị tăng này
vì tâm keo kiết, không muốn cho vị khách tăng thọ dụng,
nên đợi cho vị khách tăng đi rồi mới đem vật cúng dường
chia cho vị cựu trụ tỳ kheo dùng. Ðây ngờ thực phẩm kia
đã bị hư thối sanh ra giòi, chúng Tăng ăn không được, phải
mang vất đi.
Do
nhân duyên này, sau khi mạng chung, vị tăng ấy bị đọa vào
địa ngục, ăn các thứ phẩn uế. Từ khi Ðức Phật Ca Diếp
nhập diệt cho đến nay, vẫn còn ở trong địa ngục thọ
khổ không dứt”.
Chúng
ta thử tưởng tượng tội không cho khách tăng đồng thọ
dụng đồ cúng dường lớn biết dường nào!
Giới
này cả hai chúng tỳ kheo và tỳ kheo ni nếu không tuân giữ
thì đồng phạm tội. Còn năm chúng Phật tử kia, nếu không
có bổn phận coi việc chúng tăng thì không phạm.
Nếu
khi chúng Tăng nhờ phân chia thực phẩm, mà có cử chỉ thiên
vị, người có, người không, người hậu, người bạc thì
cũng phạm tội khinh cấu.
Trong
kinh Thiện Sanh dạy: “Trong lúc chúng Tăng giao phận sự đi
chia đồ ăn, khi chia, nếu riêng vì thầy mình mà chọn lựa
đồ ngon tốt, hay chia nhiều hơn số quy định, người ưu
bà tắc này phạm tội thất ý”.
Giới
này đồng ngăn cấm của Ðại Thừa lẫn Tiểu Thừa, tức
là: dù Ðại Thừa Bồ Tát hay Tiểu Thừa Thanh Văn tăng đều
phải cùng tuân giữ.
