B.2.2.27.
THỌ BIỆT THỈNH GIỚI
(giới
thọ nhận sự biệt thỉnh)
Kinh
văn
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử nhứt thiết bất đắc thọ biệt thỉnh
lợi dưỡng nhập kỷ...”
cho
đến câu “...phạm khinh cấu tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
là Phật tử, tất cả đều chẳng được nhận của cúng
dường dành riêng cho mình. Của cúng dường này thuộc về
thập phương Tăng. Nếu nhận riêng thời là lấy của Thập
Phương Tăng đem về cho riêng mình. Và tài vật trong tám phước
điền: chư Phật, thánh nhân, các sư tăng, cha mẹ và người
bệnh, nếu tự mình riêng thọ hưởng, Phật tử này phạm
khinh cấu tội.
Lời
giảng
Giới
trước nói về lỗi có tâm khinh mạn đối với khách tăng
mới đến. Giới này nói về sự không đúng trong việc tự
mình thọ biệt thỉnh.
Phải
biết rằng nếu là một vị Bồ Tát, điều tối yếu là phải
hòa hợp như nước với sữa, cùng sống nếp sống hòa vui
dung hợp.
Ðức
Phật dù đã nêu ra sáu đại cương lãnh, nhưng trong các điểm
ấy, điểm cùng chung hưởng tài lợi rất quan trọng, nghĩa
là với sự sinh hoạt kinh tế phải luôn bình đẳng. Ðây
là yếu tố cơ bản đem đến sự hòa vui trong đại chúng.
Vì
trên thế gian này rất nhiều sự rối ren phát xuất từ chỗ
không bình đẳng về kinh tế. Ðức Phật đúng là bậc đầy
đủ huệ nhãn, nên ở vào thời kỳ đó, ngài đã chú ý đến
việc tài lợi không nên có sự thiên lệch. Vì thế, nếu
trong tăng đoàn có sự đi thọ biệt thỉnh thì Ðức Phật
cho là điều tuyệt đối không được.
Nếu
bạn thọ sự biệt thỉnh của thí chủ thì thí chủ sẽ sanh
tâm thiên ái, chuyên tâm riêng thỉnh một mình bạn, không
nghĩ đến sự cung kính cúng dường thập phương Tăng. Như
thế, vì thí chủ bố thí cúng dường không được phổ biến
nên mất hẳn phước đức vô biên, vô hạn cần phải được.
Ðồng thời, chẳng những phá hoại phép tắc, thứ tự thọ
thỉnh chúng tăng của đức Như Lai chế định, lại còn tự
mình bị tội lỗi xâm đoạt đồ cúng dường của mười
phương Tăng. Ðã phá hoại phép tắc của Như Lai, lại thêm
tổn hại lợi ích cho mình, cho người thì chúng ta không nên
tiếp thọ sự biệt thỉnh.
Ðức
Phật thấy rõ lỗi này rất nghiêm trọng, nên vì chúng tăng
chế định giới không thọ biệt thỉnh này. Do đây, chúng
ta càng thấy lòng từ bi của Phật vô cùng rộng lớn!
Trong
kinh Tỳ Kheo Ứng Cúng Pháp Hạnh, Ðức Phật dạy: “Nếu
đệ tử của ta, người nào thọ biệt thỉnh thì người ấy
nhất định sẽ bị mất Sơ Quả, Nhị Quả, Tam Quả, Tứ
Quả, không gọi là tỳ kheo.
Người
này không được đi trên đất của quốc vương, không được
uống nước của quốc vương. Năm ngàn đại quỷ thường
đứng án trước mặt của người ấy.
Tỳ
kheo này bảy kiếp không được gặp Phật, không được Phật
trao tay, không được nhận lãnh tài vật của thí chủ. Năm
ngàn đại quỷ thường đi sau người ấy mắng rằng: ‘Kẻ
đại tặc trong Phật pháp’. Vì thế tỳ kheo các ông không
nên thọ biệt thỉnh”.
Do
đó, cần phải theo thứ tự của tăng khi đi thọ sự cúng
dường của thí chủ. Vì trong chúng tăng, có vị do Phật thị
hiện làm tăng, có vị là thánh tăng đã chứng đạo quả,
có vị là Bồ Tát tăng, phát đại Bồ Ðề tâm, có vị là
hiền tăng trong Thất Hiền (1), có vị là phàm phu tăng thông
thường.
Các
loại tăng khác nhau như vậy, đương nhiên về công đức có
phần lớn nhỏ khác nhau. Thí chủ cúng dường chúng Tăng cốt
để vun trồng phước đức. Nếu theo đúng thứ tự cử chúng
Tăng đi thọ sự cúng dường, thì thí chủ cúng dường đủ
các hạng chúng Tăng như thế, mới được phước đức rộng
lớn. Thật có lợi ích cho thí chủ biết dường nào!
Nếu
bạn là một phàm phu Tăng thông thường mà chỉ riêng một
mình đi thọ cúng dường, khiến cho thí chủ không được
cúng dường tam thừa thánh hiền tăng cùng với tăng do Phật
thị hiện, như thế, không phải chính bạn đã làm mất phước
đức rộng lớn mà thí chủ mong muốn hay sao?
Thế
nên là đệ tử Phật không được thọ biệt thỉnh, cũng
không được riêng thọ cúng dường, đem phần lợi dưỡng
về riêng cho mình, mà không đem chia cho chúng tăng. Nếu hành
động như thế, Ðức Phật phán người ấy không đáng là
hàng Sa Môn, cũng không phải là giòng Thích Tử.
Vấn
đề quan trọng như vậy, nên Phật không muốn cho Phật tử
lâm vào tình trạng như thế, mới nghiêm cấm chúng tăng không
được thọ biệt thỉnh. Ngoại trừ trường hợp Bồ Tát
tăng có thí chủ thỉnh đi hoằng truyền đạo pháp. Vì nhiệm
vụ hoằng dương đạo pháp mà thọ biệt thỉnh thì không
có gì là sai phạm.
Hoặc
nhận thấy thí chủ ấy phải có sự hiện diện của bạn
mới có thể thành tựu việc làm công đức của họ nên thọ
biệt thỉnh trong trường hợp này cũng không có tội.
Ðức
Phật dạy đại chúng rằng: “Nếu là một Phật tử đã
thọ Bồ Tát giới, bất luận ở thời gian này, tất cả đều
không được thọ biệt thỉnh để mong cầu lợi dưỡng cho
riêng mình”.
Kinh
văn nói “tất cả” là chỉ chung cho tất cả tài vật do
quốc vương, đại thần, sĩ thứ, Phật tử tại gia hay xuất
gia cúng dường cho chúng tăng, bất luận trong Ðại giới hay
ngoài đại giới, đều không được đem về cho riêng phần
của mình.
Còn
nếu như có thí chủ muốn thỉnh bạn đi thọ trai, dù bất
cứ trường hợp nào thí chủ ấy chỉ muốn riêng thỉnh bạn
mà thôi, bạn không được phép đi thọ thỉnh riêng, mà phải
cùng với đại chúng đồng đi.
Trường
hợp khả năng của thí chủ không thể cùng một lúc thỉnh
tất cả tăng nhân đi thọ trai trong chùa đến đến cúng dường
thì nên theo thứ tự mà đi thọ thỉnh. Ðiểm này giữa pháp
Bồ Tát và pháp Thanh Văn không giống nhau.
Về
hành giả Thanh Văn, có người hành theo hạnh Ðầu Ðà, có
người không hành theo hạnh Ðầu Ðà. Vị hành hạnh Ðầu
Ðà thì tuyệt đối không thọ biệt thỉnh, còn vị không
hành hạnh Ðầu Ðà thì đôi khi cũng cho thọ.
Riêng
hành giả Ðại Thừa Bồ Tát, dù có hành hạnh Ðầu Ðà hay
không, ngoại trừ nhận lời thỉnh mời của thí chủ đi hoằng
dương đạo pháp, tất cả đều không được thọ biệt thỉnh.
Trong
kinh văn nói “lợi dưỡng” là chỉ những đồ vật có lợi
ích cho thân tâm, do thí chủ phát tâm cúng dường. Ðồ vật
ấy tự thể của nó thông đến mười phương, nên tất cả
chúng Tăng đều có phần. Do đó, trong kinh nói: “Lợi dưỡng
này thuộc về thập phương tăng”.
Ðã
là thuộc thập phương tăng mà bạn lại riêng đi thọ thỉnh
thì không khác gì lấy vật thập phương Tăng đem về phần
mình. Nghĩa là đồng nghĩa với đoạt lấy tài vật của thập
phương Tăng, khiến cho thập phương Tăng không có phần lợi
dưỡng”.
Vật
của thập phương Tăng rất là quý trọng, bất cứ ai cũng
không được phép dùng làm của riêng. Hiện tại, bạn đoạt
lấy đem về làm vật thọ dụng cho riêng phần mình; tội
lỗi ấy rất sâu nặng. Tương lai bạn sẽ chiêu cảm quả
khổ không thể nghĩ tưởng được. Thế nên cần phải xét
kỹ và thận trọng, không được thọ biệt thỉnh.
Trong
Luật dạy: “Chúng tăng khi được bất cứ món lợi dưỡng
chi, trên phải cúng dường ngôi Tam Bảo là bậc tôn kính của
mình, giữa phải kính dâng cho sư trưởng, cha mẹ là người
có ân với mình, dưới phải bố thí cho các hữu tình”.
Trong
nghi thức cúng dường có bài kệ:
Thượng
cúng thập phương Phật,
Trung
phụng chư Hiền Thánh
Hạ
cập lục đạo phẩm,
Ðẳng
thí vô sai biệt.
Dịch:
Trên
cúng dường mười phương Phật,
Giữa
cúng dâng các thánh hiền,
Dưới
đến chúng sinh trong Phật đạo,
Bình
đẳng cúng thí không sai khác.
Chính
là ý này. Cho nên nếu bạn đi thọ biệt thỉnh, chính là
lấy tài vật của thập phương Tăng, cùng là đoạt lấy tài
vật trong tám phước điền đem về cho mình riêng thọ dùng.
Như thế đâu còn đúng với tư cách của người Phật tử
chân chính?
Tám
phước điền:
1.
Chư Phật.
2.
Thánh nhân
3.
Hòa Thượng
4.
A-xà-lê.
5.
Chúng tăng.
6.
Cha
7.
Mẹ.
8.
Bệnh nhân.
Trong
tám loại phước điền này:
-
Phật là bậc quả vị.
-
Thánh nhân thuộc về nhân vị.
-
Chư sư là chỉ cho Thập Sư gồm hòa thượng, hai vị A-xà-lê
và bảy vị tôn chứng.
-
Tăng là chỉ cho đại chúng.
-
Cha mẹ là song thân sanh thành dưỡng dục nhục thể này.
-
Bệnh nhân là những người bệnh hoạn, trong đó có oán thân,
quyến thuộc.
Năm
loại trước là kính điền, hai loại giữa là ân điền, loại
cuối là bi điền. Tám loại phước điền này đều là ruộng
tốt để cho chúng sanh gieo trồng phước đức, tu tập trí
huệ, cho nên gọi là phước điền. Tài vật trong tám phước
điền nếu sử dụng chung thì được phước đức rất lớn,
nhưng nếu dùng riêng cho cá nhân thì mắc tội vô biên.
Hiện
tại nếu thọ biệt thỉnh là lấy tài vật trong tám phước
điền đem làm phần tư dụng cho mình. Cho nên cuối cùng trong
kinh kết tội là “Phật tử này phạm khinh cấu tội”.
Ở
đây có người hỏi rằng:
Y
theo giới luật và kinh A Hàm thì Phật thường thọ biệt thỉnh,
vì sao không nói Phật phạm giới điều này?
Nên
biết Phật là bậc vô thượng phước điền, dù thọ biệt
thỉnh của thí chủ, nhưng không làm tổn hại phước đức
tâm bình đẳng của thí chủ. Mỗi thế giới chỉ có một
Ðức Phật mà thôi. Nên dù Phật có thọ biệt thỉnh, cũng
không có nghĩa là đoạt lợi dưỡng của Ðức Phật khác.
Cho nên không thể nói Ðức Phật trái phạm giới điều này.
Giới
này cả năm chúng xuất gia đều có thể phạm, nên Phật vì
tăng chúng lập giới để cấm chế. Riêng hai chúng tại gia
vì không có lợi dưỡng cho nên không cấm chế.
Trong
kinh Thiện Sanh nói: “Nếu ưu bà tắc thọ dụng ngọa cụ,
giường, ghế v.v... của thập phương Tăng thì mắc tội thất
ý”.
Ðây
là phần kiêm chế của giới này, cũng không phải là không
đúng. Nhất là ở thời hiện tại, tăng chúng không được
kiện toàn, chúng xuất gia sinh hoạt không đúng pháp, nên những
cư sĩ tại gia thọ dụng tài vật của thập phương tăng và
trong phạm vi tám phước điền cũng đều có thể có. Ðôi
lúc lại thọ dụng một cách công khai, thậm chí còn cưỡng
đoạt là khác. Họ lợi dụng quyền hạn của người đại
diện tín đồ, dựng lên những điều phi pháp để khống
chế về kinh tế của chúng Tăng trong chùa. Họ lấy danh nghĩa
là đại diện tín đồ để thọ dụng lợi dưỡng của chúng
tăng, khiến chúng tăng trong chùa lâm vào tình trạng bị lệ
thuộc. Thật là việc làm trái với giới luật và không tội
nào có thể lớn hơn.
Vì
thế, giới này kiêm chế luôn cả hai chúng Phật tử tại
gia, không được lấy lợi dưỡng của chư tăng làm của riêng
cá nhân. Ðiều này áp dụng cho thời nay có thể nói là rất
thích hợp.
Nhưng
trong Du Già Bồ Tát Giới Bổn lại giải thích khác như sau:
“Bồ Tát an trụ tịnh giới, khi có đàn việt vì cầu phước
huệ, phát tâm đến thỉnh bạn, hoặc đến nhà thí chủ,
hoặc đến trong chùa khác để cúng dường các thức uống
ăn, cùng những đồ nhu dụng khác v.v... Bạn là một vị Bồ
Tát phải tiếp thọ lời thỉnh mời của thí chủ, đến nơi
đã chỉ định để thọ sự cúng dường. Như thế mới hợp
với đạo hoằng thuận chúng sanh của Bồ Tát. Nếu bạn bị
tâm kiêu mạn, phiền não sai sử, hoặc có tâm buồn phiền
sân hận, không tiếp thọ lời thỉnh của thí chủ, không
đi thọ đồ cúng dường, thì trái với đạo từ bi nhiếp
thủ chúng sanh của Bồ Tát, và đối với giới Bồ Tát sẽ
bị trái phạm. Vì trong tâm có niệm kiêu mạn, buồn phiền,
hờn giận nên thuộc về tội nhiễm ô trái phạm. Nếu do
tánh giải đãi, lười biếng, hay vì quên mà không tiếp thọ
lời thỉnh mời của thí chủ thì không phải tội nhiễm ô
trái phạm”.
Như
thế, phải làm thế nào mới được cho là không trái phạm
giới điều này?
Cũng
theo trong Du Già Luận: “Có mười bốn nhân duyên không thọ
thỉnh mà vẫn không phạm giới cấm của Như Lai:
1.
Nếu trong lúc bản thân mắc bệnh không đi được.
2.
Vì tuổi già, thân thể suy nhược, không đủ khí lực nên
không thể đi được.
3.
Bị bệnh điên cuồng, mê hoặc.
4.
Hoặc nơi thỉnh mời đường đến quá xa xôi.
5.
Hoặc nơi thỉnh mời trên đường đi có rất nhiều độc
trùng, ác thú, cùng giặc cướp hung dữ, nhiều mối hiểm
nguy có thể phương hại đến tính mạng.
6.
Hoặc có dụng ý muốn dùng thái độ không tiếp thọ lời
thỉnh mời, không đi thọ cúng dường để điều phục người
ấy, khiến cho họ từ bỏ chỗ bất thiện, trở thành con
người tốt trong Phật pháp.
7.
Hoặc đã thọ sự cung thỉnh của người khác trước đó,
nên không thể nhận lời thỉnh của người này.
8.
Hoặc chính bản thân đang tinh tấn dũng mãnh tu tập các thiện
pháp không thể bê trễ, nghỉ ngơi. Vì không mụốn cho thiện
pháp đang tu tập bị gián đoạn, không được thành tựu,
nên không thể tiếp nhận sự thọ thỉnh.
9.
Hoặc đang gia công tu tập để được phát sanh trí vô lậu,
chứng lý Chơn Như của các pháp, nên không rảnh để tiếp
thọ sự mời thỉnh của người.
10.
Hoặc trong lúc đang dụng công tư duy nghĩa lý của giáo pháp
mà mình đã nghe để khỏi bị quên mất.
11.
Hoặc đang cùng người luận nghị, quyết trạch (chọn lựa
một cách dứt khoát) đạo lý, tánh tướng của các pháp nên
không thể nhận lời mời thỉnh.
12.
Hoặc biết rõ người đến mời thỉnh không có tâm tốt nên
không đi.
13.
Hoặc vì muốn tránh sự chê bai, dị nghị của nhiều người
nên không đi.
14.
Hoặc vì cần duy trì quy luật của Tăng đoàn, nghĩa là vì
những Phật tử tại gia phạm tội, đã bị làm phép Yết
Ma phú bát, nên không thể nhận lời thỉnh của họ (khi Phật
tử tại gia có lỗi với tăng chúng hay Tam Bảo, thì chúng
tăng họp lại làm phép Yết Ma “phú bát”, không tiếp thọ
lời mời thỉnh của những Phật tử này, đồng thời cũng
không đến của họ để khất thực, gọi là làm phép Yết
Ma phú bát).
Chú
thích:
(1)
Thất Hiền vị: còn gọi là Thất Phương Tiện Vị. Chỉ những
vị tu hành đã kiến đạo về trước trong Tiểu Thừa, gọi
là Hiền vị. Những vị kiến đạo về sau gọi là Thánh vị.
Hiền vị gồm:
*
Tam Hiền vị:
-
Ngũ đình tâm quán.
-
Biệt tướng niệm xứ.
-
Tổng tướng niệm xứ.
*
Tứ thiện căn:
-
Noãn pháp.
-
Ðảnh pháp.
-
Nhẫn pháp.
-
Thế đệ nhất pháp.
Ở
đây có hai danh từ thông và Biệt. Thông đều gọi là Thất
Hiền Vị hoặc Gia Hạnh vị. Thất hiền vị ở đây dùng
để đối với Thất Thánh Vị ở sau, nên gọi là Thất Hền
Vị.
