B.2.2.33.
TÀ NGHIỆP GIÁC QUÁN GIỚI
(Giới
không được đi xem tà nghiệp)
Kinh
văn
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử dĩ ác tâm cố...” cho đến câu: “...phạm
khinh cấu tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
là Phật tử thì không được có ác tâm đi xem tất cả nam
nữ v.v... đánh nhau, hoặc xem quân trận, binh tướng, giặc
cướp v.v... đấu chiến nhau. Cũng không được đi xem hát,
nghe nhạc, chơi cờ, đánh bạc, đá cầu, đá bóng v.v... cho
đến bói toán. Không được làm tay sai cho kẻ trộm cướp.
Nếu cố làm các điều trên, Phật tử này phạm khinh cấu
tội.
Lời
giảng
Chất
chứa những dụng cụ có thể làm thương hại đến người
và vật, không phải là việc Phật tử nên làm. Ðó là điều
giới trước ngăn cấm.
Ði
xem coi các việc chiến đấu v.v... cũng không phải là hành
vi của người Phật tử. Ðây là điều ngăn cấm của giới
này.
Chúng
ta nên biết: trên thế gian này, mỗi một tấc bóng quang âm
đối với người Phật tử hành đạo Bồ Tát thật là quý
báu, không thể nào lãng phí, dù chỉ một phút giây. Nếu
người tu hành không yêu tiếc thời gian quý báu, để cho bóng
quang âm trôi qua một cách luống uổng trước mắt, ấy là
một điều hết sức đáng tiếc.
Là
một vị Bồ Tát, khi thấy có một chúng sanh nào đáng độ,
phải đem hết khả năng của mình làm việc hữu ích cho chúng
sanh. Nếu không như thế thì nên tìm nơi thanh tịnh, dứt bặt
ngoại duyên, chuyên dụng tâm công phu theo chánh nghiệp xuất
thế. Chỉ có như thế mới đúng với tư cách của một Phật
tử chân chánh.
Nếu
vô cớ mà đi xem những trò giải trí không phù hợp với người
Phật tử, thì sẽ tổn thất cho đạo nghiệp của mình.
Nên
biết: những điều trong giới này nói, nếu Phật tử cố
ý vi phạm thì chỉ tăng trưởng sự buông lung và tổn hại
thiện nghiệp của mình mà thôi. Làm những việc tào lao như
thế, chẳng những hoàn toàn bất lợi cho bản thân mình, lại
còn bị các nhân sĩ trong xã hội chỉ trích phê bình. Vì họ
quan niệm rằng một Phật tử hành Bồ Tát đo, đặc biệt
là kẻ xuất gia mà lại đi xem, nghe những việc thế tục
như vậy thì còn gì là thể thống của vị xuất gia?
Khi
mọi người đã chê bai, phê phán Bồ Tát như vậy, thì sự
nghiệp giáo hóa của Bồ Tát đối với chúng sanh sẽ bị
trở ngại vô cùng to lớn. Vì thông thường mọi người ở
thế gian đều cho rằng bản thân người xuất gia đã không
đúng thì chúng ta cần chi phải tiếp thọ sự giáo hóa của
người ấy. Hơn nữa, chính lúc bạn đang say mê theo dõi việc
chiến đấu, sát phạt... có những chúng sanh đang cần nhờ
sự giáo hóa của bạn, nhưng bạn đã để thời gian hóa độ
này trôi qua, nên đáng lẽ chúng sanh ấy bạn có thể giáo
hóa được, lại không được bạn giáo hóa. Như thế thử
nghĩ tưởng, sự nghiệp hóa độ chúng sanh của bạn bị tổn
thất lớn lao biết dường nào!
Vì
thế, Ðức Phật đặc biệt chế định giới tà nghiệp giác
quán để dạy rõ những việc quân trận, chiến đấu... không
phải là việc của Bồ Tát nên làm. Vì đó là thuộc về
sự nghiệp của thế gian. Nếu cố làm thì sẽ trái phạm
giới Bồ Tát.
Giác
quán theo lối thông thường giải thích rằng:
-
Thô phân biệt là Giác,
-
Tế phân biệt là Quán.
Hơn
nữa, lúc đầu tiên, lúc tâm vừa móng khởi suy tư gọi là
Giác, trầm tư tế tâm phân biệt gọi là Quán.
Tóm
lại:
Giác
quán là tư duy, phân biệt. Nếu tư duy pháp Ðại Thừa để
làm việc lợi nhân, lợi thế thì đó là chánh nghiệp, trái
lại, nếu tư duy các việc tạp loạn ở thế gian, ấy là
tà nghiệp.
Tư
duy chánh nghiệp thì sẽ tăng trưởng tâm hướng thượng cho
mình, tăng ích đạo nghiệp chánh đáng của mình. Trái lại,
nếu tư duy tà nghiệp thì ngược với tâm địa giới thể
và làm loạn cho việc tu hành chánh đạo. Vì vậy, tà nghiệp
giác quán phá hoại đạo pháp, hủy phạm giới cấm, thật
không có gì độc hại hơn thứ này!
Giới
tà nghiệp giác quán này cả Ðại Thừa lẫn Tiểu Thừa trong
Phật giáo đều bị cấm chế. Vì bất cứ hành giả Ðại
hay Tiểu Thừa làm những việc ấy, đều bị tổn hại chánh
nghiệp và vi phạm giới này, riêng đối với thất chúng Phật
tử, có chỗ nói cấm chế tất cả, có chỗ nói chỉ cấm
chế đạo, không cấm chế tục. Nghĩa là chỉ áp dụng sự
chế cấm này đối với những vị xuất gia, còn chư vị tại
gia thì không cấm chế.
Nhưng
trong hàng Phật tử xuất gia, nếu trường hợp có chúng sanh
nào mà căn cơ phải dùng những phương tiện như những điều
cấm ở trên, mới có thể đem lại lợi ích cho họ, trường
hợp này, có thể tùy theo tình thế mà phùng trường tác hý
để hóa độ. Ðây là trường hợp ngoại lệ có thể khai
miễn (nói về hạnh “kiến cơ nhi tác” của Bồ Tát là
áp dụng đối với những căn cơ đặc biệt của một số
chúng sanh. Nếu không uyển chuyển tình thế thì không hóa
độ được. Chẳng hạn như uống rượu, đánh bạc, chơi
cờ v.v... trong trường hợp đặc biệt, vì lợi ích chúng
sanh, Bồ Tát phải phương tiện cùng nhập bọn với họ để
dẫn dắt chúng sanh này vào chánh đạo, nên có thể tạm thời
hành động như vậy. Như trường hợp nữ Phật tử Mạt Lợi,
phu nhân của Ba Tư Nặc Vương, trong lúc thọ Bát Quan Trai Giới
vẫn trang điểm và uống rượu).
Ðức
Phật lại dạy đại chúng rằng: “Nếu là một Phật tử
đã thọ Bồ Tát giới, nếu trường hợp không phải vì thiện
tâm dẫn dắt chúng sanh vào chánh đạo, thiện quyền thị
hiện, làm những tà nghiệp giống như chúng sanh, mà chỉ duyên
cớ ác tâm muốn vui sướng cho cá nhân mình mà làm những
tà nghiệp, là tuyệt đối không phù hợp với bổn phận của
Phật tử đã thọ Bồ Tát giới”.
Tà
nghiệp là những thứ gì?
Có
năm thứ như sau:
1.
Không được đi xem chiến đấu, đánh lộn: Ở thế gian, đánh
lộn là thân nghiệp và khẩu nghiệp của nam nữ. Họ đánh
nhau, mắng nhau, thậm chí xô xát kịch liệt đến chỗ lỗ
đầu, chảy máu v.v... Ðây là thường sự của thế tình.
Bạn
là một vị Bồ Tát mà đi xem nam nữ đánh nhau để làm gì?
Bạn
vốn đang trong tình trạng vô sự, nhưng vì đi xem họ đánh
nhau, đôi khi bị họa lây đến thân bạn. Vì những người
đánh nhau thấy có bạn đến xem, nên họ cảm thấy khó mà
hạ đài. Do vậy, họ đến học lại chuyện đó với thầy
bạn để thầy bạn phải trị tội bạn. Ngoài ra, họ còn
chỉ trích bạn là người tu hành mà còn đi xem đánh lộn.
Như thế, có phải bạn đã tự mình đi chuốc lấy việc phiền
phức cho mình không? Những kẻ thế gian có lòng tự trọng
và có tâm muốn giữ mình cho thanh khiết, còn không đi xem
những việc trên, huống chi bạn là một Phật tử đã thọ
Bồ Tát giới, hành Bồ Tát đạo, có bổn phận lợi người,
lợi đời thì đi xem để làm gì?
“Quân
trận binh tướng chiến đấu nhau” là nơi binh sĩ hai bên
dàn trận đánh nhau. Vấn đề người Phật tử đi xem binh
trận chiến đấu, trong luật Tiểu Thừa có thuật một việc
như sau:
Một
lúc nọ, Lục Quần tỳ kheo ở trong quân đội, đi xem quân
trận chiến đấu để xem xét thực lực, các thứ khí giới
cùng các quân lực. Trong lúc đương xem, có một tỳ kheo vô
ý bị thương vì tên bắn. Các vị tỳ kheo đi cùng, dùng y
băng bó cho vị ấy rồi dùng xe chở vị ấy về tăng xá.
Các
cư sĩ trông thấy làm lạ, hỏi nguyên do. Sau khi biết rõ,
họ cùng nhau phê bình rằng: - Chúng tôi là người thế tục,
vì thương chồng con nên vạn bất đắc dĩ phải đến chốn
quân trận này. Còn các thầy đã xa lìa cha mẹ, gia đình,
quyến thuộc làm kẻ xuất gia, lại còn đến trong quân trận
để làm chi?
Quý
tỳ kheo nghe những lời bình luận phê phán trên, đem việc
ấy bạch lên Phật. Ðức Thế Tôn mới vì các tỳ kheo chế
giới không được xem quân binh hợp chiến.
Vũ
khí chiến tranh thời xưa rất là đơn giản. Nếu rủi ro chỉ
bị thương vì đao, tên mà thôi. Còn vũ khí chiến tranh ngày
nay dùng súng đạn, hỏa tiễn v.v... dù ở xa không nghe thấy,
nhưng trong phạm vi tập dượt hoặc chiến đấu cũng dễ bị
súng đạn và hơi độc làm tổn hại. Hơn nữa, cuộc chiến
hiện đại ngày nay ngoài việc chiến đấu nơi trận địa,
còn có chiến tranh gián điệp. Vì sợ tình hình quân đội
bị tiết lộ ra ngoài, nên nếu kẻ tu hành đến gần nơi
chiến đấu, sẽ bị đặc biệt lưu ý mọi sinh hoạt của
mình, vì những người trong quân đội nghi ngờ mình là kẻ
đi dọ thám quân tình giúp cho quân địch.
Do
đó, người Phật tử đã thọ Bồ Tát giới, hành Bồ Tát
đạo, cần phải tránh những sự nghi ngờ, chê bai ấy, lại
càng phải giữ gìn giới điều này hết sức nghiêm cẩn,
để tránh những sự khó khăn, rối rắm không cần thiết.
“Giặc
cướp chiến đấu nhau”: ở đây nói có hai trường hợp:
-
Giặc với giặc cùng trộm cướp tài vật của người đem
về chia chác với nhau không đồng nên sanh ra việc chiến đấu.
-
Binh sĩ của quốc gia vì giữ gìn sự an ninh trong nước mà
thanh trừng bọn giặc cướp để nhân dân được an ổn.
Kinh
văn dùng hai chữ “vân vân” chỉ ngoài sự đánh nhau, chiến
đấu nhau, còn nhiều vấn đề khác nữa, chứ không phải
chỉ gồm bao nhiêu thứ vừa nói trên. Giống như mấy ông
bợm nhậu say sưa, xô xát, đánh lộn nhau, hoặc đồ đảng
trong các tụ điểm hội họp cũng thường xảy ra việc đánh
nhau, hoặc vì tranh giành hành khách ở các bến xe mà xô xát
nhau... rất nhiều thứ không thể kể hết.
Nhưng
bất cứ trường hợp đánh lộn hay chiến đấu nào, là Phật
tử đều không được đi xem. Ngoài ra còn có các thứ thú
cầm như voi, bò, trâu, chó báng lộn, cụng lộn nhau; gà, chim
trĩ, anh vũ... đá nhau, cũng không được đi xem.
Bất
cứ xem coi đánh lộn hay chiến đấu loại nào cũng không tránh
khỏi có sự tổn thương, đồng thời làm cho người khởi
tâm bất thiện. Vì sức tập nhiễm của chúng sanh rất mạnh,
nếu thường xem, nghe đánh lộn, chiến đấu dần dần sẽ
bị tiêm nhiễm, ảnh hưởng và tâm niệm bất thiện sẽ bắt
đầu phát sinh.
Hơn
nữa, khi xem đánh lộn, hành giả rất khó là giữ oai nghi.
Do đó, sẽ bị người thế tục chê bai dị nghị, phê bình
rằng kẻ xuất gia chỉ ăn rồi ở không, lại còn đi coi đánh
lộn, oai nghi không giữ gìn tề chỉnh.
2.
Cũng không được đi nghe những tiếng ốc, tiếng trống, tiếng
thổi sừng, đờn cầm, đờn sắt, đờn tranh, ống địch,
không hầu, ca hát, kỹ nhạc.
*
Ốc là một sinh vật vỏ cứng ở trong biển. Trong kinh Niết
Bàn nói người ta thổi ốc để cho biết giờ giấc. Ðây
là một loại được dùng làm nhạc cụ và thổi bằng miệng,
phát ra âm thanh, nên nói là “thổi ốc”.
*
Ðánh trống: từ Hán việt là “kích cổ”. Về phương pháp
làm trống, người ta đẽo cây làm khuôn, lấy da thú bịt
hai mặt, rồi dùng dùi đánh, âm thanh phát ra rất lớn. Vào
thời xưa, lúc đánh giặc, người ta dùng trống làm hiệu
lịnh xuất quân, hoặc thâu quân. Trống có nhiều kích thước
lớn nhỏ khác nhau.
*
Thổi sừng: một loại nhạc cụ phát xuất từ nước Tây
Vức, làm bằng sừng của con tê ngưu, dùng miệng thổi để
phát ra âm thanh nên gọi là “thổi sừng”. Thời xưa trong
quân đội cũng thổi sừng để làm hiệu lịnh. Chính rợ
Khương, rợ Hồ cũng đã thổi sừng để làm cho ngựa của
binh sĩ Trung Hoa sợ hãi.
*
Ðàn Cầm: một loại nhạc cụ. Tương truyền loại đàn này
do Hy Hoàng Cơ chế tạo, có năm dây. Về sau, vua Văn Vương
thêm hai dây Thiếu Cung và Thiếu Thương thành ra bảy dây.
Chữ “cầm” có nghĩa là ngăn cấm, tức là khi khảy đàn
cầm, những âm thanh phát ra có hiệu lực ngăn cấm những
tâm niệm tà dâm, khiến cho người nghe khởi tâm niệm chân
chính.
*
Ðàn Sắt: một loại đàn, đầu tiên có đến năm mươi dây.
Ðến triều đại nhà Ngu, vua Thuấn biến cải còn lại hai
mươi lăm dây.
*
Ðàn tranh: giống như đàn cầm, có mười ba dây. Tương truyền
do Mông Ðiềm chế tạo.
*
Ðịch: loại nhạc cụ bằng ống trúc, thổi bằng miệng và
để nằm ngang gọi là ống sáo, khác với ống tiêu, khi thổi
phải để dọc. Thông thường ống địch có độ dài khoảng
một thước tư (Tàu).
*
Không hầu: thứ nhạc cụ ngày xưa, hình dạng giống như đàn
Sắt nhưng nhỏ hơn làm bằng tre, có hai mươi bốn dây, tương
truyền do Sư Diên chế tạo.
Những
nhạc cụ kể trên đều mượn vật chất tạo thành âm thanh.
“Ca
hát kỹ nhạc”: tiếng ca hát ngâm vịnh của nam nữ, kỹ
nhạc là những nhạc khí nói trên. Ngoài ra còn có sanh, hoàng,
tiêu, quản, tỳ bà.
*
Sanh: một nhạc cụ nhạc cụ ngày xưa, làm bằng quả bầu
có khoét mười ba lỗ. Ở trong mỗi lỗ có nạm đồng. Khi
thổi phát ra tiếng rất hay.
*
Hoàng: cái vè bằng đồng, lấy đồng mỏng, cắt thành từng
mảnh để trong lỗ ống tiêu hay ống sáo mà thổi.
*
Tiêu: ống tiêu.
*
Quản: ống sáo nhỏ.
*
Tỳ bà: loại đàn có năm dây (cung, thương, giốc, chủy, vũ).
Hai
chữ “kỹ nhạc”: chữ Kỹ có nghĩa là ả đào, đào hát.
Vì ngày xưa người ta thường dùng phụ nữ trỗi nhạc, gảy
đàn ca hát để giúp vui. Nhạc là âm thanh có tiết điệu
dễ nghe.
Những
thú vui kể trên đều là những việc phóng dật, chẳng những
không có ích lợi gì cho thân tâm mà ngược lại chỉ tăng
trưởng ý niệm dục lạc, lôi cuốn người tu vào nẻo sinh
tử luân hồi, gây chướng ngại rất lớn cho việc hành đạo
của Phật tử. Xem nghe còn không được phép, huống chi chính
mình làm công việc ấy!
Nếu
cố ý làm việc ấy là trái với Phật pháp. Vì vậy Ðức
Phật đặc biệt cấm ngăn Phật tử không nên xem nghe những
cảnh dục lạc ở thế gian. Nhất là những khúc nhạc thời
nay có nhiều âm đệu quyến rũ, mê ly, làm tâm con người
bị lôi cuốn buông lung theo, nên càng không được nghe.
Trong
trường hợp đặc biệt, không phải do động cơ tà ác thúc
đẩy, mà vì muốn dẫn dắt chúng sanh đi vào con đường chánh
giác giải thoát, nên phải phương tiện làm những tà nghiệp.
Ðây thuộc về bi tâm của Bồ Tát, là việc du hý thần thông
của Bồ Tát, nên không nằm trong phạm vi cấm chế. Ngoài
ra, nếu dùng âm nhạc để cúng dường Tam Bảo, tăng ni đều
có thể cho phép. Nhưng chỉ riêng Phật tử tại gia mới có
thể trỗi nhạc, khảy đàn cúng dường, còn xuất gia thì
không được đích thân làm, nếu muốn thì chỉ được bảo
người khác làm để cúng dường mà thôi!
3.
Không được đánh xu bồ, cờ vây, ba la tắc hý, đàn kỳ,
lục bát, phách cúc, trịch thạch, đầu hồ, khiên đạo, bát
đạo hành thành:
Loại
này ngăn cấm những trò chơi nhảm nhí:
-
Xu bồ: một thứ cờ bạc thời xưa. Hàng ngoại đạo nước
Tây Vức rất ưa thích trò chơi này. Trong bộ Bát Vật Chí
nói trò này do đức Lão Tử khi vào nước Hồ đã chế ra.
Nhưng Lão Tử ở Trung Hoa được tôn là bậc Thánh, phàm đã
là thánh nhân thì không bao giờ bày trò chơi cờ bạc để
làm nhiễu loạn tâm ý con người. Vì thế, thuyết này không
thể tin cậy được.
-
Cờ vây: một loại cờ thời xưa, gồm 360 nước. Theo tương
truyền, vua Nghiêu chế ra cờ vây để dạy cho con là Ðan Chu.
Việc này có hay không thì không rõ.
-
Ba la tắc hý: Ba La là tiếng Ấn Ðộ, Tắc Hý là tiếng Trung
Hoa. Bốn tiếng này dùng chung để chỉ cho cờ tướng. Dùng
một miếng ván, trên đó kẻ những đường ngang dọc theo
quy cách định sẵn. Ở giữa có ranh giới phân chia đôi bên.
Mỗi bên sắp 16 con cờ gồm Tốt, Pháo, Xa, Mã, Tượng, Tướng.
Theo quyển Pháp Tạng Sớ nói: “Trò chơi này là trò chơi
của binh sĩ nước Tây Vức. Cách chơi là hai người bố trí
những con cờ (hơn 20 con). Hai bên cùng cố tranh đoạt một
con đường được vẽ cách xa nơi bố trí các con cờ. Người
nào đoạt được con đường trọng yếu này được xem là
kẻ thắng cuộc”.
-
Ðàn kỳ: dùng hộp đựng đồ trang điểm làm trò chơi. Các
cung nhân, mỹ nữ của nhà Ngụy thường chơi trò này. Có
sách nói vua Thành Ðế đời Hán được quần thần dâng thứ
trò chơi này. Cung nhân, mỹ nữ đều ham trò chơi này, có
sách nói dùng con cờ đánh nhau gọi là đàn kỳ.
-
Lục bát: trò chơi sâm lục, tương truyền là do ông Trần
Tư Cung đời Ngụy chế ra.
-
Phách cúc: trò chơi đánh cầu, đá cầu. Nghĩa là dùng trái
cầu ném đi rồi chạy theo, tay đánh, chân đá lên xuống làm
trò vui.
-
Trịch thạch đầu hồ: Dùng một cục đá lớn kéo hoặc ném
để làm trò chơi. Có sách nói thời xưa dùng đá quăng, bây
giờ dùng lao để ném.
-
Khiên đạo, bát đạo hành thành: trò chơi đánh cờ của người
Thiên Trúc. Bàn cờ dọc ngang có tám đường giao nhau. Dùng
những con cờ di chuyển trên các con đường ấy như đi trên
thành, nên gọi là “bát đạo hành thành”. Ðây là trò chơi
của trẻ con.
Các
trò chơi này trong kinh Niết Bàn và Luật Tạng có nêu tên
mỗi thứ. Trong sách Gia Ngữ nói: “Vua Di Công hỏi đức Khổng
Tử rằng: - Thưa ngài, tôi nghe người quân tử không chơi
cờ bạc có phải không?
Khổng
tử đáp: Phải! Bởi vì những thứ ấy thuộc về ác pháp”.
Như
thế, đối với những trò chơi này, kẻ theo Nho học còn hổ
thẹn không chơi, huống chi một vị Bồ Tát thực hành lục
độ vạn hạnh, sao lại có tâm ham hơn thua để dối gạt
chúng sanh?
4.
Không được trảo cảnh, thi thảo, dương chi, bát phu, độc
lâu để làm việc bói toán, xủ quẻ.
Những
loại này là ngăn cấm việc bói quẻ:
-
Trảo cảnh: pháp viên quang thông thường. Nghĩa là dùng thuốc
xoa trên móng tay, hoặc dùng tà chú, pháp thuật truyền vào
móng tay, làm cho móng tay sáng rực như cái kiếng. Trong ấy
hiện ra tất cả mọi việc kiết hung. Trong Mật bộ của Phật
giáo cũng dùng thần chú truyền vào móng tay, và trên móng
tay của ngài Phật Ðồ Trừng cũng hiện việc kiết hung v.v...
sở dĩ có sự kiện này vì cốt yếu vẫn là mang lại lợi
ích cho chúng sanh, tuyệt nhiên không có tâm niệm cầu lợi,
nên không thể nói là trường hợp này phạm giới.
-
Thi thảo: là cỏ Thi. Thời xưa dùng loại cỏ này để coi
quẻ. Cỏ này mọc ở nơi ẩm thấp, đặc biệt là miền Ðông
Nam Trung Hoa. Nhưng chỉ những cỏ mọc trong vỏ con quy mới
linh nghiệm. Có sách nói cỏ này mọc trên mộ phần của vua
Văn Vương. Cỏ này mọc thành bụi, mỗi bụi gồm đúng 100
cọng. Mỗi cọng cao một trượng. Phía trên có thanh vân che
phủ, phía dưới có linh quy phục khí. Khi nó cao lớn, người
ta cắt xuống coi việc kiết hung, tốt xấu của người. Sách
vở Trung Hoa mặc dù nói cỏ này phát sanh trên mộ của Văn
Vương, nhưng Ấn Ðộ cũng có cỏ này. Người địa phương
cũng dùng cỏ này làm thẻ để coi họa phước.
-
Dương chi: Cành liễu. Ở Trung Hoa, khi không có cỏ Thi thì
người mới dùng cành liễu làm thẻ để xem quẻ. Có sách
nói thầy coi quẻ ở Trung Hoa cúng tế, chú nguyện vào cây
dương liễu đã thành thần, để báo việc họa phước bên
tai người. Có chỗ nói đúng giờ Ngọ ngày mùng 5 tháng 5,
ai muốn bói việc tốt xấu, cứ đến dưới cây dương liễu,
ngước mặt lên xem cành liễu nào vừa ý, đoạn cắt xuống,
khắc thành hình nhân, rồi đem để trong tịnh thất, cúng
tế, chú nguyện, đến khi linh ứng nó có thể báo việc tốt
xấu của người.
-
Bát phu: người dùng bát hay bồn đựng nước, rồi quấy cho
lóng trong. Người ta tin rằng những việc kiết hung đều hiện
trong ấy, hoặc nghe trong ấy có tiếng nói cho biết những
việc kiết hung.
-
Ðộc lâu: dùng đầu lâu người mới chết, dùng tà chú cúng
tế đầu lâu ấy. Nó có thể báo các việc kiết hung họa
phước bên tai người. Thế gian gọi là Nhĩ Báo Thần (ông
thần kề bên tai báo tin). Ở Ấn Ðộ cũng có thờ thần Ðộc
Lâu, ngoại đạo Ấn Ðộ còn có cách đánh xương đầu người
chết để biết rõ nhân duyên sống chết v.v...
Kinh
văn nói: “Ðể làm việc bói xủ” là câu dùng tổng kết
mấy thứ kể trên. Hai chữ “bói xủ”, kinh văn gọi là
“bốc phệ”. Tức là dùng mai con của quy gọi là Bốc, dùng
cỏ Thi gọi là Phệ. Hai thứ này đều là những vật xưa
dùng để xem bói.
Những
thứ kể trên, dù là thứ nào, cũng đều là tà thuật, dối
gạt, mê hoặc tâm kẻ thế gian, làm rối loạn trật tự xã
hội. Nếu làm những thứ ấy, thì chẳng những không ích
gì cho người lại còn gây tổn hại cho mình. Vì thế, là
người Phật tử chân chính, chúng ta đều không được làm.
5.
Không được làm tay sai cho kẻ giặc cướp:
Ðiều
này ngăn cấm việc đi làm theo mệnh lệnh của kẻ ác. Trong
giới đi sứ thứ mười một, người Phật tử còn không được
đi làm thông sứ cho quốc gia, huống gì là đi làm tay sai cho
giặc cướp. Nói một cách nghiêm khắc hơn, nếu người Phật
tử tiếp cận với kẻ giặc cướp cũng quyết định là không
được. Vì nếu tiếp cận hoặc làm tay sai cho chúng sẽ có
tai họa rất lớn. Chẳng những lúc bình thường không được
làm tay sai cho chúng, thậm chí lúc bị giặc cướp bắt đi,
dù có thể nguy đến tính mạng, thà hy sinh sanh mạng của
mình, quyết không được làm tay sai cho chúng. Do đó, nếu
Phật tử làm tay sai cho giặc cướp, thì chẳng khác nào xúi
chúng nó cướp của, giết người. Tùy theo số nhân mạng
bị giết và tài vật bị cướp nhiều hay ít, trọng hay khinh
mà kết thành căn bản trọng tội. Như thế thì việc làm
này có ích lợi thực sự cho bạn hay không? Tại sao bạn lại
đi làm tay sai cho giặc cướp? Mỗi mỗi không được làm.
Câu này là lời tổng kết đồng thời là lời khuyến hóa,
răn dạy của đức Thế Tôn.
Tại
sao Ðức Phật răn dạy “mỗi mỗi việc đều không được
làm?”
Vì
nếu Phật tử cứ xem đánh nhau, sẽ phát sinh năm tâm hung
ác:
-
Theo đuổi thú vui có thể khởi sanh tâm dâm dật.
-
Chơi trò nhảm nhí sẽ sanh khởi tâm tán loạn.
-
Coi bói, xủ quẻ làm sanh khởi tâm mê hoặc, nhiễm trước
cho người.
-
Ði làm tay sai cho kẻ ác sẽ phát sinh tâm gian ác.
Năm
thứ kể trên đều là tà mạng, làm rối loạn đạo tâm.
Thế nên Phật dạy nhất nhất mỗi việc đều không được
làm. Nếu cố làm, Phật tử này phạm khinh cấu tội.
Ngoài
những tà nghiệp như trong kinh đã nói, còn những thứ nghệ
thuật, thi họa v.v... nếu mang tính chất trái với đạo xuất
thế, thì Phật tử đều phải vĩnh viễn đoạn tuyệt, không
được làm.
*
Như thuở xưa, Huệ Toàn thiền sư, công phu thiền định của
ngài đạt đến mức khá cao. Nhưng vì chưa hoàn toàn dứt
bỏ hẳn thế học, đã để luống qua tấc bóng quang âm vàng
ngọc. Sau khi xả thân, thác sanh vào trong nhà Bà La Môn không
được giải thoát.
*
Lại còn trường hợp của ngài Khả Công, một vị đại đức
có công tu dưỡng rất cao thâm, nhưng ngài thích ngâm thi vịnh
phú. Lúc bấy giờ, có một vị tôn túc khuyên ngài lúc rảnh
rỗi nên đọc tụng kinh Pháp Hoa, đừng nên đam mê việc ngâm
nga thi phú. Ngài vâng theo lời khuyến hóa mà đọc tụng kinh
Pháp Hoa. Khi đọc xong bộ Pháp Hoa, vì quen theo tập quán ngâm
nga thơ phú sẵn có trong tâm, Ngài quá cảm hứng, vui mừng
hớn hở không thể ngăn được, thốt lên rằng: “Toàn bộ
kinh Pháp Hoa ở nơi hai câu:
Hương
phong xuy hủy hoa,
Cánh
vũ tân hảo giả.
Dịch:
Gió
thơm thổi hoa héo,
Lại
mưa bông tốt tươi!
Hay
vô cùng!” Không ngờ sau khi thốt lời ấy, toàn thân liền
cảm mắc chứng bệnh bạch lại (lác trắng).
Căn
cứ vào sự kiện này có thể thấy rằng Khả Công đọc kinh
Pháp Hoa không phải nhất tâm đọc để cầu thông đạt diệu
lý, mà chỉ để thưởng thức thơ văn trong kinh. Do đó chiêu
cảm ác báo đến nỗi mắc phải khổ quả này.
Lời
phụ:
Theo
giới này, kinh văn nói có năm loại tà nghiệp sau đây:
1.
Ði xem đánh lộn, chiến đấu.
2.
Vui chơi (xem hát, nghe nhạc).
3.
Chơi các trò chơi nhảm nhí.
4.
Bói toán, coi quẻ.
5.
Làm tay sai cho giặc cướp.
Trong
năm loại này, bổn Hán văn giảng rộng về ba loại giữa
(loại hai, ba, bốn) trong khi bổn Việt văn chỉ nói vắn tắt.
Vì nếu y theo bổn Hán văn dịch ra đầy đủ thì người đọc
vẫn không hiểu được. Dù có đọc bản Hán văn cũng không
hiểu nổi, phải nhờ có phần giải thích mới rõ được,
nên ở đây Hòa Thượng chỉ lấy ý trong bổn Hán văn mà
dịch gọn lại.
