B.2.2.34.
TẠM LY BỒ ÐỀ TÂM
(giới
tạm lìa Bồ Ðề tâm)
Kinh
văn
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử hộ trì cấm giới...” cho đến câu
“..phạm khinh cấu tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
là Phật tử ngày đêm sáu thời đọc tụng giới Bồ Tát
này, nên giữ gìn giới luật trong mọi tư thế đi, đứng,
nằm, ngồi vững chắc như kim cương, như đeo trái nổi để
qua biển lớn, như các tỳ kheo bị cột bằng dây cỏ. Phải
thường có tín tâm lành đối với Ðại Thừa. Tự biết rằng
mình là Phật chưa thành, còn chư Phật là Phật đã thành.
Từ đó phát Bồ Ðề tâm và giữ vững không thối chuyển.
Nếu có một tâm niệm xu hướng theo Nhị Thừa hay ngoại đạo,
Phật tử này phạm khinh cấu tội.
3.
Lời giảng
Ðiều
trọng yếu của giới trước là không cho hành giả làm ác
để dứt trừ tất cả tội lớn.
Ðiều
quan yếu của giới này cốt để hành giả tu thiện, tăng
trưởng tất cả thiện nghiệp.
Lại
có chỗ giải thích là vấn đề đoạn ác của giới trước
nhằm đoạn dứt phần thô ác của thân khẩu, còn giới này
là đoạn dứt về vi tế niệm của ý nghiệp.
Chúng
ta thường nói: phát Bồ Ðề tâm chính là Bồ Tát, thối thất
Bồ Ðề tâm thì không phải là Bồ Tát. Tại sao vậy?
Vì
đại Bồ Ðề tâm là cơ bản của vạn hạnh cũng là cơ nhân
(nền tảng và nhân tố) thành Phật, nên tuyệt đối phải
giữ gìn kỹ lưỡng không cho thối thất. Vì một khi thối
thất hoặc quên mất tâm Bồ Ðề, thì không thể nào huân
tu vạn đức và không thể hy vọng thành Phật. Do vậy, không
tể đủ tư cách để được gọi là Bồ Tát. Vị Bồ Tát
dù chỉ khởi một niệm nhỏ tạm bỏ tâm Bồ Ðề thì đã
trái với sự tu tập của mình từ trước. Vì một vị Bồ
Tát chân chính, lúc nào cũng tâm tâm niệm niệm luôn nhớ
tứ hoằng thệ nguyện liên tục không gián đoạn, dù chỉ
là trong khoảng một sát na. Nếu có những niệm khác xen vào
trong tâm, thì khó mong hoàn thành quả vô thượng Bồ Ðề.
Vì thế, người Phật tử phải luôn luôn tinh cần giữ gìn
Ðại Thừa Bồ Ðề tâm.
Giới
này thất chúng Phật tử đều có thể phạm. Nhưng Tiểu Thừa
và Ðại Thừa không giống nhau, vì chỗ tu tập của hai bên
khác nhau:
-
Trường hợp muốn bỏ Ðại Thừa xu hướng theo Tiểu Thừa,
nhưng chưa thực hành được, thì phạm giới “có tâm từ
bỏ Ðại Thừa” thứ 8 đã nói ở trước. Nhưng nếu đã
thực hành được theo ý muốn thì rơi vào trường hợp bị
mất giới và đã phạm giới trọng thứ 10 cũng đã giảng
nói ở trước. Còn trường hợp phạm giới này không phải
là có ý muốn bỏ Ðại Thừa, mà chỉ vì cho là Tiểu Thừa
dễ tu, nên muốn rằng sau khi đoạn kiết sử rồi sẽ trở
lại thực hành hóa độ chúng sanh cũng không muộn. Ðây là
điểm khác biệt giữa giới này và giới “có tâm từ bỏ
Ðại Thừa” ở trước.
Ðức
Phật lại dạy đại chúng rằng: “Nếu là một Phật tử
phải hộ trì giới cấm mà mình đã thọ hết sức kiên cố
và nghiêm mật, không cho phạm một mảy may. Phải tinh tấn
giữ gìn tịnh giới như giữ gìn ngọc minh châu”.
Nhưng
làm thế nào mới có thể giữ gìn được như vậy?
Phải
ở trong bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi, và suốt trong
sáu thời, ngày ba thời, đêm ba thời, luôn hộ trì giới cấm
của Phật. Phải giữ gìn tâm như giữ thành (cũng như trong
sách Nho nói: “Giữ miệng như giữ miệng bình, giữ ý như
giữ thành”), không để cho bất cứ cảnh giới nào lay động
thì giới thể tự nhiên được kiên cố, và do Giới mà đắc
Ðịnh, nhờ Ðịnh mà phát Huệ. Ba môn Vô Lậu học được
đầy đủ thì đương nhiên không bị trái phạm.
“Ðọc
tụng giới này” là nói về phương tiện hộ trì cấm giới,
vì người Phật tử đôi khi không tránh khỏi phạm giới.
Căn bệnh này là do sự hiểu biết giới pháp chưa rành. Vì
thế, nếu thường đọc tụng giới cho thuần thục, biết
rõ những điều khai, giá, trì phạm của giới mới có thể
giữ giới được kiên cố như kim cương. Kim cương là vật
hết sức cứng rắn và sắc bén, có thể làm hư hoại muôn
vật mà không bị muôn vật làm hư hoại. Ðây là dùng thí
dụ để ám chỉ giới có công năng phá trừ các tội ác,
mà các tội ác không thể hủy hoại được giới.
Hoặc
ý muốn nói giới có công năng kháng cự lại sự xâm lăng
của giặc phiền não. Hoặc ý nói tâm nghiêm trì tịnh giới
của Bồ Tát kiên cố không bị lay động giống như kim cương.
“Như
đeo trái nổi qua bể lớn”: đây là hình ảnh dùng để thí
dụ cho người Phật tử nghiêm trì giới luậ. Thí dụ ấy
trong kinh có thuật lại như sau:
Xưa
có một vị thương nhân mang trái nổi qua biển lớn. Ðến
giữa biển, bỗng nhiên có con quỷ La Sát khẩn thiết cầu
xin thương nhân trái nổi. Dĩ nhiên, thương nhân không bao giờ
muốn cho trái nổi.
La
Sát lại khẩn thiết van xin: “Nếu ngài không cho nguyên trái
nổi thì xin cho một nửa vậy”. Thương nhân cũng không bằng
lòng.
Cuối
cùng nó tha thiết chỉ xin một chút mà thôi. Nhưng thương
nhân cũng không đồng ý, tại sao lại keo kiệt quá như vậy?
Sự
thật thì không phải keo kiết, nhưng vì sinh mạng của người
qua biển hoàn toàn nương vào trái nổi. Nếu cho quỷ La Sát,
dù chỉ một chút thì người qua biển sẽ bị chôn thân trong
biển cả, không bao giờ đến được bờ bên kia.
Dùng
thí dụ nói trên để chỉ cho người Phật tử nghiêm trì
cấm giới, muốn vượt qua biển khổ sinh tử, hoàn toàn phải
nương nhờ bè tịnh giới của Như Lai. Nếu giữa đường
gặp quỷ la sát phiền não, ái nhiễm v.v... khẩn thiết cầu
xin một điều trái với mười giới trọng hay bốn mươi tám
giới khinh, thậm chí chỉ một chút tội khinh cấu nhỏ như
vi trần, người Phật tử nhất quyết không được theo ý
nguyện của la sát phiền não.
Tại
sao vậy?
Phải
biết pháp thân huệ mạng của mình hoàn toàn nhờ nơi giới.
Nếu giới bị hư tổn, chắc chắn sẽ bị đắm chìm trong
biển khổ sinh tử, vĩnh viễn không bao giờ được giải thoát.
Vì thế, Phật tử phải triệt để hộ trì cấm giới nghiêm
mật như thế.
“Như
các tỳ kheo bị cột bằng dây cỏ”: Ðây cũng là ví dụ.
Ý nói người Phật tử phải nghiêm hộ giới cấm, vấn đề
này có một câu chuyện có thật như sau:
Khi
Phật còn tại thế, một số quý tỳ kheo bị cướp bắt đoạt
hết y phục, lại còn có ý định giết các vị tỳ kheo này.
Trong
bọn cướp, có một người hiểu biết hơn, đưa ý kiến rằng:
“Chúng ta không cần phải giết các thầy này. Tôi được
biết quý tỳ kheo đích thực tin rằng cỏ cây vẫn có sinh
mạng. Các thầy vâng giữ giới cấm của Phật, không dám
làm thương tổn chúng, nên không bao giờ dám nhổ cỏ sống.
Chúng ta chỉ cần dùng dây cỏ trói cột tay chân các thầy
lại, mấy ổng sẽ không dám cử động”.
Bọn
cướp nghe lời, dùng dây cỏ cột các tỳ kheo. Quả thật,
quý ngài vâng giữ giới cấm của Phật, ngồi yên không dám
cử động.
Lúc
ấy, có một quốc vương đi săn ngang qua con đường này, thấy
những người không mặc y phục, tưởng là ngoại đạo lõa
hình. Các tùy tùng của vua tâu rằng: “Ðấy không phải là
ngoại đạo lõa thể, mà là sa môn Thích tử”.
Quốc
vương dùng kệ hỏi quý tỳ kheo rằng:
Khán
thời tợ vô bệnh,
Phì
tráng hữu đa lực,
Như
hà vi thảo hệ,
Nhật
dạ bất chuyển trắc?
Dịch:
Khi
mới trông thấy dường như không bịnh,
Mập
mạp mạnh khỏe sức dồi dào,
Vì
duyên cớ chi bị cỏ trói cột,
Ngày
cũng như đêm không hề cử động?
Quý
tỳ kheo dùng kệ đáp lại rằng:
Thử
thảo thậm nguy thúy,
Ðoạn
thời khởi hữu nan?
Ðản
vị Phật Thế Tôn,
Kim
cang giới sở chế
Dịch:
Thứ
cỏ này thật rất mong manh,
Nếu
muốn bứt đi nào có khó gì?
Chỉ
vì gìn giữ kim cương giới,
Do
đức Như Lai đã chế ra.
Quốc
vương nghe quý tỳ kheo nói, vô cùng cảm động, đối với
Tam Bảo sanh lòng thâm tín, bèn đích thân mở trói cho quý
thầy, đồng thời cúng dường y phục cho quý thầy mặc về
tinh xá.
Chúng
ta thấy quý tỳ kheo vì hộ trì tiểu giới còn không tiếc
thân mạng huống gì đại sĩ giữ gìn Ðại Thừa Bồ Tát
giới mà dám hủy phạm giới pháp hay sao?
Thường
sanh tín tâm đối với Ðại Thừa. Ðây là ý nói nếu chỉ
hộ trì cấm giới của Như Lai mà không có chánh tín đối
với Ðại Thừa, thì việc hộ trì tịnh giới kia chỉ thuộc
về tán thiện mà thôi, không thể đạt đến quả vị Phật
được.
Tín
tâm lành đối với Ðại Thừa như thế nào?
Là
tin chắc tự mình quyết định sẽ thành Phật!
“Tín
tâm tín thọ pháp Ðại Thừa” dĩ nhiên có thể phát sanh,
nhưng muốn gìn giữ tín tâm ấy đừng thối chuyển không
phải là một việc dễ dàng.
Muốn
giữ cho tín tâm này không thối thất, phải luôn sanh khởi
tín tâm trong tất cả các thời, nghĩa là sanh khởi tín tâm
liên tục, không được gián đoạn, không để cho những tạp
niệm khác xen lẫn vào. Ðiều này phải dùng đến tín tâm
quyết định: tự tín nhiệm mình và biết mình là một Ðức
Phật sẽ thành. Vì hạnh nguyện chưa mãn, phiền não, nghiệp
chướng chưa sạch hết, nên chưa chứng đắc quả địa trang
nghiêm mà thôi.
Còn
như chư Phật trong mười phương, trong thời quá khứ và hiện
tại, vì ba thân đã viên mãn, vạn đức đã trang nghiêm nên
là Phật đã thành. Chúng sanh với Phật vốn bình đẳng không
hai, tâm cũng không sai khác. Chỉ khác ở điểm đã thành và
chưa thành mà thôi. Nhưng chúng sanh chưa thành Phật kia, tương
lai nhất định sẽ thành Phật.
Thế
thì Phật trước, Phật sau có gì sai khác?
Nên
trong kinh này nói: “Thường có lòng tin như vậy thì giới
phẩm đã trọn vẹn”.
Hành
giả Tiểu Thừa sở dĩ không có hy vọng thành Phật, không
phải vì các ngài không có khả năng thành Phật, mà vì các
ngài thiếu chánh tín nơi Ðại Thừa là mọi người đều
có khả năng thành Phật. Tự mình còn thiếu tín tâm ấy thì
đối với tất cả chúng sanh cũng không hy vọng họ được
thành Phật. Vì thế hành giả Tiểu Thừa chỉ cầu tự độ
và không độ người khác.
Trái
lại, hành giả Ðại Thừa tin chắc tự mình có thể thành
Phật, nên đối với tất cả chúng sanh cũng tin chắc rằng
họ đều có thể được thành Phật. Vì thế các ngài chẳng
những lo tự độ để mong chứng đắc Phật quả, vạn đức
trang nghiêm, đồng thời cũng lo tinh tấn hóa độ chúng sanh,
khiến cho tất cả đồng thành Chánh Giác.
Tinh
thần của Ðại Thừa cao siêu và thù thắng hơn Tiểu Thừa
hoàn toàn đặt căn bản trên điểm này. Nguyên khởi mọi
giá trị của Ðại Thừa vẫn nằm nơi đây.
“Phát
tâm Bồ Ðề niệm niệm không bỏ tâm ấy” (trong bổn Việt
văn dịch là “phát tâm Bồ Ðề giữ vững không thối chuyển”):
câu này ý nói tín tâm lành đối với Ðại Thừa dù đã đủ,
nhưng nếu không phát đại Bồ Ðề tâm thì tín tâm của bạn
không nơi nương tựa. Cho nên phải phát đại Bồ Ðề tâm
để cho tín tâm sẵn có của mình được kiên cố.
-
Hộ trì cấm giới là thuộc về Hạnh.
-
Thường sanh khởi tín tâm lành đối với Ðại Thừa là thuộc
về Tín.
-
Tự biết mình là Phật chưa thành là Giải.
Ba
pháp: Tín - Hạnh - Giải như thế nhất định phải có trí
thể Bản Giác của nó; nhưng trí thể Bản Giác chính là Ðại
Bồ Ðề Tâm. Cho nên muốn chứng vô thượng Phật quả, cần
phải lấy sự phát đại Bồ Ðề tâm làm chủ yếu.
Làm
thế nào có thể phát khởi đại Bồ Ðề tâm?
Phải
biết rằng đại Bồ Ðề tâm do nơi Ðại Bi tâm mà sanh khởi.
Nên trong kinh Vô Tận Ý nói: “Vì muốn cứu độ tất cả
chúng sanh nên khởi đại bi nguyện lực... thú hướng mong
cầu quả vô thượng Bồ Ðề. Nếu không vì hóa độ chúng
sanh thì tôi không phát tâm Bồ Ðề".
Trong
Bồ Ðề Tâm Luận cũng nói: “Từ nơi tâm Ðại Bi mà phát
sanh Ðại Bồ Ðề tâm. Cho nên tất cả pháp tối thắng trong
Phật pháp đều lấy tâm Ðại Bi làm căn bản”.
Trong
Vô Sai Biệt Luận nói: “Khi tu nhân tức là Bồ Ðề tâm,
lúc quả đức viên mãn gọi là Vô Thượng Chánh Giác, Bồ
Ðề tâm pháp không thể nghĩ bàn, chư Phật Như Lai đều tán
thán”.
Kinh
Vô Úy Thượng Thọ Vấn nói: “Phát Bồ Ðề tâm sanh các
phước đức dường như hư không rộng lớn, tối thắng, cao
tột, không cùng tận”.
Vì
thế, nếu người nào sanh khởi một tâm niệm ngoại đạo,
tức là đã mất hẳn tư cách của Bồ Tát. Nếu không lạc
vào Nhị Thừa thì cũng thành kẻ ngoại đạo. Cho nên Bồ
Tát nghiêm trì Bồ Tát giới, tuyệt đối không nên sanh khởi
một tâm niệm Nhị Thừa ngoại đạo (bổn Việt văn dịch
là: “Một tâm niệm xu hướng theo Nhị Thừa, ngoại đạo”).
Nếu không như thế tức phạm khinh cấu tội.
Chỉ
có một niệm này, tại sao lại kết thành tội khinh cấu?
Vì
dù là một niệm rất ngắn và tạm thời, nhưng nó gây thương
tổn cho Phật chủng và làm thối thất tâm Bồ Ðề. Do đó,
trở thành ma nghiệp, vậy thì không nên ngăn ngừa trước
hay sao? Như tôn giả Xá Lợi Phất thối thất tâm Ðại Thừa,
xu hướng Tiểu Thừa còn bị mất thiện lợi hết sức lớn
lao. Phật tử chúng ta thọ Bồ Tát giới, trì Bồ Tát giới,
nên lấy đó làm gương để tự thức nhắc vậy.
