B.2.2.35.
BẤT PHÁT NGUYỆN GIỚI
(giới
không phát nguyện)
Kinh
văn
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử thường ưng phát nhứt thiết nguyện...”
cho đến câu “...phạm khinh cấu tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
là Phật tử phải phát nguyện những điều nguyện lớn: nguyện
hiếu thuận với cha mẹ, sư tăng; nguyện đặng gặp thầy
tốt, bạn hữu, thiện tri thức thường dạy bảo tôi các
kinh luật Ðại Thừa, dạy cho tôi về Thập Phát Thu, Thập
Trưởng Dưỡng, Thập Kim Cương, Thập Ðịa, giúp tôi hiểu
rõ để tu hành đúng theo chánh pháp; nguyện giữ giới của
Phật vững vàng, thà chết chớ không phai lòng. Nếu tất cả
Phật tử không phát nguyện những điều nguyện trên thì sẽ
phạm tội khinh cấu.
Lời
giảng
Tại
vì sao không cho phép mình có một niệm xu hướng Tiểu Thừa?
Ðiều ấy ở giới trước đã nói rõ.
Tại
vì sao phải lập thệ nguyện kiên cố mong cầu đại hạnh?
Ðây là điều mà giới này cần nói.
Phát
nguyện trong sự tu học Phật pháp, là khóa đề hết sức
trọng yếu. Theo tinh thần của Phật pháp, khi bạn muốn hoàn
thành bất cứ việc gì đều phải nương nhờ sự duy trì
của nguyện lực. Vì thế, nếu không phát thệ nguyện rộng
lớn thì chẳng những đối với Phật quả vô thượng không
thể chứng đắc mà cả tiểu quả hữu lậu cõi nhân thiên
bạn cũng vô phần.
Nguyện
là tâm duyên nơi thiện cảnh để mong cầu việc thù thắng.
Người Phật tử muốn mong cầu cho việc được thù thắng,
cần phải lập nguyện chân thiết. Vì khi đã lập chí nguyện
chân thiết, thì mới có thể dũng mãnh hướng về mục tiêu
của mình để tiến tới, không đến nỗi nửa chừng thối
lui.
Nếu
có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào dùng trân bảo đầy
khắp hằng hà sa quốc độ của chư Phật, đem cúng dường
Thế Tôn. Lại có thiện nam tử, thiện nữ nhân chỉ một
lần chí thành cung kính phát vô thượng chánh đẳng Bồ Ðề
tâm, thì phước đức của người này thù thắng hơn phước
đức của thiện nam, tín nữ cúng dường trên không thể tính
kể, so lường.
Công
đức thù thắng của việc phát Bồ Ðề tâm trong các kinh
luật Ðại Thừa đều có tuyên thuyết. Vì thế, một Phật
tử có đủ tín tâm lành đối với Ðại Thừa, không một
lý do gì mà không chịu phát Bồ Ðề tâm và thấy rõ được
tầm quan trọng hết sức to lớn của Bồ Ðề tâm nơi đây.
Dù có tín tâm lành đối với Ðại Thừa mà không phát tâm
Bồ Ðề thì không thể thành một hành giả Ðại Thừa. Vì
chỉ có phát đại Bồ Ðề tâm, mới có thể chuyển bánh
xe pháp của Như Lai, làm được những việc tự lợi, lợi
tha đồng thành Vô Thượng Chánh Giác.
“Ðã
phát tâm Ðại Bồ Ðề rồi, cần phải làm cho tâm ấy không
bị thối thất”, chính trong kinh văn dạy: “Niệm niệm bất
khứ tâm” (niệm niệm chẳng phai lòng), tức là mỗi sát
na không rời xa tâm Bồ Ðề này. Như vậy, giới hạnh của
Bồ Tát tu trì mới được thuần thục và Phật quả của
Bồ Tát mong cầu mới có hy vọng đạt thành.
Phát
Bồ Ðề tâm có nghĩa “thượng cầu Phật đạo, hạ hóa
chúng sanh”.
Tại
sao phải thượng cầu Phật đạo?
Vì
nhận chân được tâm mình chính là tâm chư Phật.
Tại
sao phải hạ hóa chúng sanh?
Vì
biết chắc tâm mình chính là tâm chư Phật.
Như
thế, Phật tử đối với tâm Bồ Ðề này cần phải niệm
niệm không thể tạm xa lìa. Nếu chỉ một niệm xa lìa tâm
Bồ Ðề thì bị thối thất Ðại Thừa, xu hướng Tiểu Thừa,
trở thành một người tư lợi; nên trong bộ Chỉ Quán dạy:
“Thối thất Ðại Thừa, xu hướng Tiểu Thừa bị chư Phật
quở trách”.
Nếu
Bồ Tát ý chí được kiên cố, khi thấy tất cả sự thống
khổ của chúng sanh phải lãnh thọ, cảm thấy như sự thống
khổ đó của chính mình, nên không vì một lý do gì mà không
tìm biện pháp giải cứu cho chúng sanh. Khi thấy chúng sanh
được an vui, Bồ Tát cảm thấy như chính mình được an vui,
vì vậy luôn tìm mọi cách đem lại hạnh phúc cho chúng sanh,
được như thế Bồ Tát mới được yên lòng.
Nếu
đối với Tín, Giải, Hạnh của mình đã phát mà khởi sanh
một niệm tự độ, thế là đã xa lìa tâm Bồ Ðề, xa lìa
nguyện Bồ Ðề.
Nên biết Nguyện cũng như người khéo léo đánh xe, có thể
tiến thẳng tới quả vị thù thắng. Vì thế, nếu không phát
đại nguyện thì đại hạnh sẽ không nơi nương tựa. Do đó,
đầu tiên từ lúc phát Bồ Ðề tâm đến cuối cùng chứng
đắc Phật quả, tất cả công hạnh trong thời gian ở chặng
giữa này, Nguyện là trọng yếu nhất.
Nếu
không phát đại nguyện thì chẳng những bao nhiêu sự lợi
ích thù thắng đều bị thối thất, lại còn có thể trở
thành ma nghiệp nữa. Nên trong kinh Hoa Nghiêm dạy: “Không
phát đại nguyện chính là ma nghiệp”.
Trái
lại, nếu phát thệ nguyện rộng lớn, thì chẳng những làm
cho vạn hạnh được tăng trưởng, đồng thời có thể diệt
trừ tất cả tội chướng. Vì thế một hành giả Bồ Tát
muốn tự mình không bị thối đọa, điều kiện tiên quyết
là phải lấy sự không xa lìa đại nguyện để tự trang nghiêm.
Giới
này thất chúng Phật tử đồng phải tuân giữ. Nhưng Ðại
và Tiểu Thừa không giống nhau vì chỗ mong cầu của hai bên
không đồng. Hành giả Tiểu thừa dù không cần phát nguyện
rộng lớn như Bồ Tát, nhưng cũng phải phát nguyện cầu cho
mau chóng thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi! Nếu chỉ mong
cầu được tương tục sanh trong cõi Nhân Thiên ở đời vị
lai thì phạm tội trách tâm!
Còn
Bồ Tát sơ phát tâm, tu đại hạnh, phải nương nhờ đại
nguyện để trợ thành. Nếu không phát đại nguyện, đương
nhiên sẽ có chỗ vi phạm.
Riêng
chư vị Bồ Tát đã đăng vị (bước lên địa vị Tam Hiền
Thập Thánh) trở lên, vì những đại nguyện phát khởi trong
thời quá khứ đã thành tựu, không bị bất cứ hoàn cảnh
ác nghiệp nào làm cho thối thất, nên dù hiện tại không
phát đại nguyện, cũng có thể nói là không trái phạm.
Lỗi
rất lớn của việc không phát nguyện là có thể đưa đến
việc bỏ phế sự tu hành diệu hạnh, nên muốn luận tội
khinh hay trọng, hoàn toàn căn cứ vào sự bỏ phế việc tu
hành nhiều hay ít.
Nếu
bỏ phế nhiều thì tội nặng, ít thì nhẹ. Hoặc có những
người trong đời quá khứ đã từng phát đại nguyện hoằng
thâm, nhưng về sau tùy cảnh tùy duyên mà quên hẳn bổn nguyện
của mình, như thế cũng là có tội,
Vì
thế, muốn luận tội khinh hay trọng, phải căn cứ vào thời
gian quên mất bổn thệ dài hay ngắn. Nếu dài thì tội trọng,
ngắn thì lỗi khinh.
Nói
rõ hơn, Bồ Tát phát Bồ Ðề tâm, thú hướng về Phật quả,
nếu chưa phát nguyện nhất định phải phát nguyện. Ðã phát
nguyện thì không được quên mất. Nếu không thực hiện như
vậy thì thật là vô cùng bất lợi cho chính mình.
Nên
phát nguyện mà không phát, đã phát rồi lại quên, nên tùy
theo thời gian mà bạn bị kết tội. Giới này thuộc về Giá
Tội. Chỉ có trường hợp ngăn cấm mà không có trường hợp
khai miễn. Nghĩa là bạn không làm một vị Bồ Tát thì thôi,
nếu đã phát nguyện thọ giới làm một vị Bồ Tát rồi,
thì không được không phát nguyện. Ðây là một điều quyết
định không có ngoại lệ và cũng không có trường hợp đặc
biệt khai miễn.
Theo
Phật pháp, Nguyện là cần yếu trước cũng như sau. Từ khi
thọ Tam Quy, Ngũ Giới... cho đến sau cùng, không có thời gian
nào mà không phát nguyện, Tiểu Thừa còn như thế huống chi
Bồ Tát lại càng cần phải phát nguyện rộng lớn để mong
chứng đắc quả vô thượng Bồ Ðề.
Ðức
Phật dạy đại chúng rằng: “Nếu Phật tử đã thọ Bồ
Tát giới, nên thường phát tất cả đại nguyện”.
Ðại
hạnh cần phải thực hành từ nhân đến quả và rộng lớn
vô lượng vô biên, nên đương nhiên Nguyện không phải chỉ
có một thứ. Vì thế trong kinh Phật dạy nên phát tất cả
đại nguyện.
Phát
khởi tâm nguyện vốn không phải là một việc khó khăn, mà
vấn đề chính là ở chỗ có duy trì tâm nguyện được lâu
dài hay không?
Nếu
không duy trì được thì dầu cho có phát nguyện, cũng có được
lợi ích gì? Vì thế nên Ðức Phật nhấn mạnh: “Nên thường
phát đại nguyện”. Thường phát đại nguyện ý nói không
phải một lần phát nguyện là xong, mà phải thường phát
nguyện không gián đoạn.
Thường
phát không được gián đoạn để làm gì? Vì muốn cho tâm
Bồ Ðề được tương tục không gián đoạn vậy. Tại sao
nhất quyết phải như vậy?
Vì
đại nguyện là vô tận vậy. Vì chúng sanh vô tận, phiền
não nghiệp báo vô tận, nên sự phát nguyện của Bồ Tát
cũng vô tận. Do đó, phải luôn luôn phát nguyện tất cả
đại nguyện.
Ðại
nguyện dù nói nhiều đến vô lượng vô biên, nhưng trong kinh
đây, dùng mười đại nguyện tổng nhiếp tất cả:
1.
Nguyện ở hiếu thuận với cha mẹ, sư tăng:
-
Cha mẹ có công khó nhọc sanh thành nuôi dưỡng thân xác ta,
che chở dưỡng dục ta.
-
Sư tăng: có thâm ân giáo huấn, chỉ đạo và đem trọng đức
dạy dỗ cho ta.
Vì
thế, người Phật tử phải thường phát nguyện hết lòng
cung kính hiếu thuận. Có người cho rằng điều ấy là việc
thiên kinh, địa nghĩa, cần gì phải nguyện mới thực hành
được đạo hiếu thuận?
Ðiều
ấy rất đúng, nhưng phải biết, đối với Ðại Thừa Phật
pháp, nói đến cha mẹ, không phải mang ý nghĩa thế gian thông
thường, chỉ riêng cha mẹ hiện đời mà quán sát tất cả
chúng sanh đều là cha mẹ thân sanh của mình.
Vì
thế, nếu không phát nguyện thì tâm hiếu thuận ấy không
được rộng rãi và không thể duy trì được vĩnh cửu. Do
đó, cần phải phát nguyện hiếu thuận mới có thể duy trì
nguyện ấy được thường hằng và rộng khắp tất cả.
2.
Nguyện được gặp thầy tốt:
Thầy
tốt là minh sư, phát nguyện gặp được thầy tốt, ý bảo
Phật tử nên lựa chọn bậc minh sư. Trên thế gian, người
có thể gọi là thầy thật rất nhiều. Nhưng tri kiến có
chính đáng hay không, hạnh giải có đầy đủ hay không, đó
là một điều khác biệt vô cùng.
Cho
nên trong kinh, Ðức Phật dạy nguyện gặp được thầy tốt,
là ý bảo Phật tử phải cầu bậc thầy đầy đủ chánh
tri, chánh kiến cùng hạnh giải.
Nếu
chỉ có Giải mà không có Hạnh thì không thể dẫn dắt chúng
ta tăng tiến trong đạo pháp và giúp chúng ta thành tựu đức
hạnh được. Như thế, thử hỏi gần gũi với vị ấy có
ý nghĩa gì?
Nếu
chỉ có hạnh mà không có giải thì không thể làm cho tâm
địa của chúng ta được mở mang, giúp chúng ta diệt trừ
được sự mê mờ. Thử hỏi theo vị ấy học tập có tấn
ích chi?
Làm
cho Tam Bảo được hưng thạnh, đền đáp thâm ân của song
thân, hoàn toàn nhờ sự dạy dỗ của thầy mà thành tựu.
Dù người đệ tử có đủ tín tâm thế nào chăng nữa, nếu
không gặp được bậc minh sư giáo huấn, chỉ đạo, dùi mài,
rèn luyện thì cũng không thể thành bậc pháp khí trong Phật
pháp.
Vì
thế, trong 10 điều đại nguyện, thì nguyện được gặp bậc
minh sư rất là khẩn yếu.
Tại
sao vậy?
Vì
người Phật tử dù đã gieo trồng thiện căn trong nhiều đời,
nhưng muốn được khai ngộ, phải nhờ bậc minh sư, chính
là ý này vậy.
Ở
đây có người thắc mắc:
Nguyện
trước dạy phải hiếu thuận với cha mẹ, sư tăng, đây là
việc thiên kinh địa nghĩa, còn nguyện thứ hai này dạy cần
phải chọn bậc minh sư, như thế hai điều nguyện trước
sau là mâu thuẫn nhau hay sao?
Xin
trả lời:
Nên
biết nguyện thứ nhất là nói về khía cạnh của việc thừa
sự cúng dường, nên chỉ một mực cung kính hiếu thuận,
không có chút chọn lựa. Nguyện thứ hai là nói về phương
diện cần cầu chánh đạo, vì thế phải hết sức sáng suốt
lựa chọn vị thầy để thân cận. Không nên tùy tiện thân
cận vị nào cũng được; nhưng phải lưu ý, đây là tâm lựa
chọn chớ không phải tâm ngã mạn. Chỉ vì sự quan hệ đến
tiền đồ tu học Phật pháp, nên người Phật tử phải lựa
chọn.
3.
Nguyện được thiện tri thức đồng học.
Trong
Phật pháp có hai loại thiện tri thức:
-
Giáo thọ thiện tri thức.
-
Ðồng hành thiện tri thức.
Trong
nguyện thứ hai, gặp được thầy tốt là giáo thọ thiện
tri thức. Nguyện thứ ba là được bạn đồng học là đồng
hành thiện tri thức. Vấn đề chỉ điểm, dạy bảo mở mang
của bậc minh sư, cố nhiên là hết sức trọng yếu.
Ngoài
ra, vấn đề dẫn dắt và giúp đỡ của bạn đồng học cũng
là việc không thể thiếu. Vì bậc minh sư không thường sống
chung, nên không thể hoàn toàn biết rõ hành vi cùng những
chỗ lý giải trong Phật pháp của hành giả. Trong khi bạn
đồng học hằng ngày chung sống, hành vi của hành giả có
hợp giới luật hay không, kiến giải có chính xác hay không,
tất nhiên đôi bên đều hiểu biết rõ, và có thể tùy thời
chỉ chỗ sai lầm cho nhau. Vì vậy, nếu gặp được một vị
đồng hành thiện tri thức thì được sự lợi ích rất lớn
lao.
Nên
trong bộ Phát Ẩn, ở trang mười, dạy: “Ðiều đại nguyện
được gặp minh sư là tối khẩn yếu, nhưng nếu thiếu bạn
hiền là thiếu sự giúp ích cho nhau những điều thắc mắc.
Thế nên muốn cho Hạnh Giải được tiến ích, nếu không
có bạn hiền nhắc nhở, xem xét thì đức nghiệp do đâu mà
được thành tựu?
Ðây
thực đúng như lời tiên đức dạy: “Cần cầu bậc minh
sư là tối yếu, nhưng việc học hỏi với bạn lành cũng
là sự không thể thiếu được”. Vì thế nên nguyện thứ
ba này khuyên người Phật tử cần phải phát nguyện được
gặp bạn đồng học thiện tri thức.
4.
Nguyện thường dạy bảo tôi các kinh luật Ðại Thừa.
Như
trên, người Phật tử nguyện được gặp minh sư, thiện hữu,
không phải là muốn hằng ngày cùng nhau đi quan sơn, ngoạn
thủy hoặc nhàn đàm, tạp thoại mà để thỉnh cầu minh sư,
thiện hữu thường dạy cho mình kinh luật Ðại Thừa, để
cho mình được thông đạt nghĩa lý, phụng hành giới pháp
Ðại Thừa, để cho mình được thông đạt nghĩa lý, phụng
hành giới pháp Ðại Thừa để tiện bề tiến đến quả
vô thượng Bồ Ðề tối cao, không đến nỗi bị sa vào Thiên
Không của Nhị Thừa hay tà chấp của ngoại đạo, và cuối
cùng đạt đến mục đích thành Phật mới thôi. Bồ Tát sơ
phát tâm cần phải khẩn cầu pháp Ðại Thừa, đây là việc
tối yếu.
5.
Nguyện tu Thập Phát Thú
Thập
Phát Thú là từ trong kinh này dùng. Thông thường các kinh khác
gọi là Thập Trụ, có nghĩa là an trụ. Nhưng chỗ an trụ
của vị này chú trọng ở nơi Chơn Trụ (Chân Ðế).
Người
Phật tử đã theo bậc minh sư thiện hữu, được nghe giáo
pháp Ðại Thừa, phải theo chỗ chỉ dạy mà phát khởi Ðại
Bồ Ðề tâm, để thú hướng vào diệu đạo Ðại Thừa.
Nếu không phát đại Bồ Ðề tâm, thì đạo pháp sẽ không
đắc ích.
6.
Nguyện tu Thập Trưởng Dưỡng
Là
người Phật tử đã phát Bồ Ðề tâm, hướng về diệu đạo
Ðại Thừa, với tâm Bồ Ðề đã phát, phải lo vun bồi cho
được tăng trưởng, luôn chứa nhóm công đức. Nếu không
ra công vun bồi cho tâm Bồ Ðề được tăng trưởng là không
được pháp tấn ích.
Từ
Thập Trưởng Dưỡng trong kinh này dùng, thông thường các
kinh khác gọi là Thập Hạnh. Nghĩa là thực hành, nhưng sự
thực hành của các vị này chú trọng nơi sự hóa tục (giáo
hóa chúng sanh ở thế gian).
7.
Nguyện tu Thập Kim Cương
Khi
đại Bồ Ðề tâm đã phát và được trưởng dưỡng, hành
giả cần phải thực hành bi trí song vận, tu tập pháp quán
Trung Ðạo để khế hợp chứng nhập nơi pháp giới. Tâm của
hành giả lúc bấy giờ kiên cố bất động như kim cương.
Nếu tâm không kiên cố thì Phật quả không hy vọng gì hoàn
thành. Kinh này dùng từ Thập Kim Cương trong khi các kinh khác
gọi là Thập Hồi Hướng.
8.
Nguyện tu Thập Ðịa:
Khi
đại Bồ Ðề tâm đã kiên cố, địa vị Tam Hiền đã thành
lập, đến trình độ này tự nhiên được vào nơi thánh vị.
Nếu không có thánh giả Bồ Tát trong Thập Ðịa thì diệu
hạnh của sự hóa tha không thể phát sanh. Nhưng khi đã đăng
địa rồi chưa phải là hoàn thành mà phải tiếp tục hướng
về quả Diệu Giác mà tiến lên.
9.
Nguyện cho tôi hiểu rõ để tu hành đúng chánh pháp
Khi
Phật tử đã cầu được minh sư, thiện hữu dạy cho mình
kinh luật Ðại Thừa rồi, nhưng không phải chỉ mong cầu
đọc cho thuộc là đủ, cần phải đối với tất cả muôn
hạnh của bậc Tam Hiền Thập Thánh, tu chứng đạo pháp Bồ
Ðề ở trong kinh luật Ðại Thừa, khiến cho hành giả được
hiểu rõ mọi sự để đúng như pháp tu hành, mau chứng Phật
quả tối cao.
10.
Nguyện giữ vững giới của Phật:
Hành
giả nhờ được minh sư, thiện hữu dẫn dắt, dạy bảo được
biết rõ thế nào là bi trí song vận, thế nào là thú hướng
đến địa vị Tam Hiền Thập Thánh... Nếu không giữ vững
giới pháp của Phật, thì đạo quả Thánh Hiền không thể
chứng đắc. Nên kinh này dạy: “Nếu giới pháp bị vi phạm
chừng như vi trần, thì hiện đời không được phát Bồ Ðề
tâm, ngay đến Phật tánh thường trụ, diệu quả tất cả
đều mất”. Do đây, có thể thấy rõ yếu chỉ của kinh
này chỉ có giới là trọng.
Ở
trước đã nói Hiếu gọi là giới. Thế nên đầu tiên trọng
nơi hiếu thuận, rốt sau trọng nơi trì giới. Giới quán xuyến
các Nguyện mà thành tựu trước sau.
Tại
sao lại xem giới hết sức trọng yếu như vậy?
Vì
vô lượng pháp môn, trăm ngàn thắng định, vô lậu diệu
huệ đều do Giới mà phát sanh. Có đến địa vị Tam Hiền,
Thập Thánh cùng với cực quả diệu giác cũng đều do nơi
Giới mà chứng đắc.
Vì
thế nếu không giữ vững giới của Phật, thì không thể
nào chứng các đạo quả nói trên. Cho nên phải giữ vững
giới của Phật để thành tựu căn bản ấy.
Hành
giả Bồ Tát đối với mười điều đại nguyện trên, phải
phát tâm kiên cố, mỗi niệm đều không được quên. Tức
là không một sát na nào có thể xa lìa nguyện ấy. Chẳng
những khi bình yên vô sự phải thực hành như vậy, mà dù
cho khi gặp nhân duyên ác liệt phải tán thân mất mạng cũng
phải nguyện “thà bỏ thân mạng tứ đại giả hợp này
niệm niệm không xa lìa tâm ấy” (thà chết chớ không chịu
phai lòng) để củng cố nguyện của mình đã phát thệ.
Phát
nguyện như vậy, trì giới như vậy, chẳng những là chân
Phật tử mà lại còn chắc chắn sẽ thành tựu Phật quả
không nghi. Nguyện là trọng yếu như vậy, nếu tất cả Bồ
Tát không phát thệ những điều nguyện trên thì phạm khinh
cấu tội.
Ở
đây nói tất cả Bồ Tát là chỉ những vị từ khi mới đắc
giới cho đến bực Thập Ðịa đều phải phát mười điều
đại nguyện trên đây. Nếu không thì ý chí thú hướng đến
quả vị vô thượng Bồ Ðề của bạn không được kiên cố;
chẳng những không thể gia hạnh tiến tu mà dù cho có dũng
mãnh gia hạnh tiến tu, e rằng cũng bị ma làm chướng ngại,
giữa đường phải đình trệ không thể tiến bước.
Do
đó, việc thành Phật trở thành vô hy vọng. Vì thế có chỗ
nói: “Trang nghiêm Phật độ là sự nghiệp vĩ đại, nhưng
nếu chỉ riêng tu tập các công đức thì rất khó thành. Vì
thế, cần phải nương nhờ nguyện lực để duy trì lẫn nhau,
chẳng hạn như con bò sức lực dù có thể kéo xe, nhưng phải
nương nơi người đánh xe thì mơí mong tới chỗ được”.
Như
thế, nếu thấy rõ rằng đại nguyện không phát thì chí hướng
không thể kiên cố. Vì thế nếu trái phạm giới điều này,
Phật tử ấy phạm khinh cấu tội.
Trong
kinh Viên Giác đối với vấn đề này có dạy rất hay như
sau: “Bồ Tát cần phải phát thanh tịnh đại nguyện. Nên
phát nguyện thế này: tôi nguyện từ nay trụ nơi quả viên
giác của Phật, mong cầu gặp được thiện tri thức, không
gặp hàng ngoại đạo, Nhị Thừa. Nương theo đại nguyện
tu hành, dần dần đoạn kết các chướng ngại. Khi các chướng
ngại đã hết, đại nguyện đã mãn, tức là bước lên pháp
điện thanh tịnh giải thoát, chứng cảnh giới Ðại Viên
Giác Diệu Trang Nghiêm”.
Nói
nghiêm khắc hơn, hành giả trong Phật pháp nếu không phát
đại nguyện sẽ bị ma thâu nhiếp. Chẳng những không thể
bước lên pháp điện thanh tịnh giải thoát, chứng nhập cảnh
giới Ðại Viên Giác Diệu Trang Nghiêm mà còn chắc chắn bị
nguy hiểm đọa lạc. Thế thì chúng ta có thể nào không vâng
lời Phật dạy mà phát đại nguyện hay sao?
Nếu
đem Tam Tụ Tịnh Giới phối hợp với giới này thì có sự
tương ứng như sau:
-
Nên thường phát nguyện là thuộc về Nhiếp Luật Nghi Giới.
-
Niệm niệm không xa lìa tâm nguyện thuộc về Nhiếp Thiện
Pháp Giới.
-
Ðúng như pháp tu hành là thuộc về Nhiếp Chúng Sanh Giới.
