B.2.2.38.
QUAI TÔN TY THỨ ÐỆ GIỚI
(giới
trái thứ tự trên dưới)
Kinh
văn
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử ưng như pháp, thứ đệ tọa...” cho
đến câu “phạm khinh cấu tội”.
1.
Dịch nghĩa:
Nếu
là Phật tử phải theo thứ tự đúng pháp quy định mà chọn
chỗ ngồi: người thọ giới trước thì ngồi trước, người
thọ giới sau thì ngồi sau, không luận già, trẻ, tỳ kheo,
tỳ kheo ni, người sang như quốc vương, hoàng tử nhẫn đến
kẻ hèn như hoàng môn, tôi tớ v.v... tất cả đều theo thứ
tự mà ngồi. Người thọ giới trước thời ngồi trước,
người thọ giới sau thời ngồi sau. Không được như hàng
ngoại đạo si mê, già trẻ ngồi trước sau lộn xộn không
có thứ tự, không khác gì cách ngồi của bọn binh nô. Theo
Phật pháp của chúng ta, thì người thọ giới trước ngồi
trước, người thọ giới sau thì ngồi sau.
Nếu
Phật tử không theo thứ tự đúng pháp mà ngồi thì phạm
khinh cấu tội.
Lời
giảng
Bên
ngoài tại những nơi có thể xảy ra các thứ tai nạn, người
Phật tử phải hết sức lưu ý để tránh khỏi, điều ấy
là nội dung của giới trước.
Bên
trong, những Phật tử đồng giới pháp với nhau, phải thể
hiện hình thức thứ bậc như thế nào mới thuận với lễ
nghi? Ðó là tinh thần của giới này chế định.
Người
trên thế gian thông thường căn cứ vào tuổi tác lớn nhỏ
là tiêu chuẩn tôn ty thượng hạ. Nhưng trong Phật pháp thì
ngược lại, không giống với thế tục. Nghĩa là không căn
cứ vào sự già hay trẻ để phân định lớn nhỏ mà phải
căn cứ vào sự cao thấp của giới đức là tiêu chuẩn để
phân định thứ ngôi.
Phật
pháp chủ trương đặt giới là pháp đứng đầu trong tất
cả. Vì vậy chỉ căn cứ vào giới lạp nhiều hay ít mới
có thể phân biệt ai là Thượng Tọa, ai là Hạ Tọa. Ðây
là điều tuyệt đối không được lộn xộn, vì nếu lộn
xộn thì không còn thể thống gì nữa.
Nên
biết rằng điều tối yếu của việc tu học Phật pháp là
phá trừ ngã mạn của cá nhân mình. Nếu ngã mạn không diệt
trừ thì không thể nào có tâm tôn kính người như tôn kính
Phật. Trên thế gian này biết bao nhiêu điều đáng tiếc xảy
ra, nguyên nhân dù rất nhiều, nhưng có thể nói đa số đều
do nơi tâm ngã mạn sai sử, và đây cũng chính là nguyên nhân
chủ yếu.
Thông
thường, đa số các vị cao niên thường tự ỷ, tự cho rằng
đường đời của mình đã trải qua dài hơn đường đời
của những kẻ hậu sinh, số muối của mình đã ăn nhiều
hơn số gạo của người trẻ đã dùng v.v... Do đó, người
già, người trẻ không thể dung hòa và chung sống với nhau
trong không khí hòa vui.
Trong
Luật Tạng có thuật rằng: Khi đức Thế Tôn còn tại thế,
một hôm Ngài bảo thị giả A Nan đánh kiền chùy tập hợp
tất cả tỳ kheo, đoạn Ngài hỏi rằng:
-
Theo ý các ông nghĩ sao? Người nào ngồi trước? Người nào
nên nhận nước và thọ thức ăn trước? Người nào đáng
được đứng dậy đón rước, cung kính lễ bái, dùng lời
khiêm tốn hỏi chào?
Lúc
ấy, quý tỳ kheo đáp lại câu hỏi của Phật không giống
nhau. Có vị nói: phải là những người xuất thân từ trong
dòng dõi giàu có, sang trọng. Có thầy cho rằng: phải là người
dung mạo đoan chánh, người lại nói: phải là người cư trú
nơi chốn A Lan Nhã, có vị lại nói: phải là người trì bình
khất thực, hoặc: phải là người mặc y phấn tảo. Như thế
cho đến có thầy cho rằng: phải là người biết rành về
đọc tụng; hoặc: phải là vị pháp sư giảng nói chánh pháp;
có thầy thì: phải là vị luật sư nghiêm trì giới luật.
Sau
khi các vị tỳ kheo đáp mỗi người một cách như thế, đức
Thế Tôn bèn đem nhân duyên tôn kính lẫn nhau của loài voi
và chồn làm thí dụ. Rồi ngài dạy rằng: “Các ông ở trong
pháp của ta xuất gia, cần phải cung kính nhau như thế, nhờ
đó Phật pháp mới có thể lưu bố và cửu trụ ở thế gian.
Từ đây về sau, ta cho phép các ông tùy theo lớn nhỏ mà cung
kính, lễ bái cũng như các sự đón rước, tiễn đi, cùng
chào hỏi nhau.”
Nếu
không y theo lời Phật dạy mà tùy ý, tự tiện, không phân
biệt lớn nhỏ thì trái với luật trong Phật pháp và làm
mất trật tự cần phải có. Như thế không phải là tâm hiếu
thuận của đại sĩ và cũng không đúng với tư cách khiêm
tốn của người Thích tử. Ðó là việc hoàn toàn không thể
được.
Nhưng
phân định lỗi nặng hay nhẹ thì không thể có một mức
độ nhất định, vì tùy theo chúng thuộc Ðại Thừa hay Tiểu
Thừa, thời gian lâu hay mau. Mỗi hoàn cảnh đều xem xét rõ
ràng, thì ở trong ấy mà phân biệt khinh hay trọng chẳng khó
gì.
Ngoài
ra những trường hợp nào thì không trái phạm giới này?
Như
trường hợp lúc giảng kinh, tụng giới, đại chúng đã tập
hợp và đã an tọa, sau đó bạn mới đến thì dù bạn là
vị giới lạp đã cao mà phải ngồi phía sau cũng không trái
phạm.
Hoặc
bạn không biết vị ấy giới lạp nhỏ, tưởng là lớn hơn
bạn nên bạn ngồi phía sau hoặc bên dưới vị ấy, cũng
không trái phạm.
Hoặc
bạn là Pháp Sư, khi thuyết pháp phải ngồi ở bên trên, trường
hợp này cũng không phạm lỗi.
Ðức
Phật lại dạy đại chúng rằng: “Nếu là Phật tử đã
thọ Bồ Tát giới trong lúc tụng giới hoặc nghe pháp, phải
theo đúng thứ tự của pháp quy định mà ngồi, không được
trái với giới điều của Phật chế định”. Nói cho rõ
là người thọ giới trước thì ngồi trước, người thọ
giới sau thì ngồi sau.
Theo
như kinh văn nói trên là Phật dạy về thứ tự trong cách
ngồi. Ngoài ra còn tất cả những hình thức hoạt động khác,
đều phải căn cứ vào việc thọ giới trước sau để phân
định lớn nhỏ khác nhau, tuyệt đối không được đảo lộn
thứ tự.
Trong
Luật Ðức Phật từng quy định rằng: “Khi thấy bậc Thượng
Tọa, cần phải đứng dậy, không được ngồi yên. Nhưng
nếu thấy chúng Hạ Tọa thì vẫn ngồi yên, không cần phải
đứng dậy”.
Theo
đúng thứ tự mà ngồi, có hai trường hợp:
1.
Lúc bình thường: Y theo thứ tự thất chúng Phật tử bình
nhật như thế nào mà sắp đặt. Cứ y theo vị thứ của mỗi
người mà ngồi.
2.
Khi tụng giới: Mỗi nửa tháng đến kỳ tụng giới, thất
chúng Phật tử đều phải y theo thứ tự thọ giới mà ngồi
trước hoặc sau. Chẳng hạn chúng tỳ kheo phải theo thứ tự
của nghi thức thọ giới tỳ kheo mà ngồi đúng vị trí. Chúng
tỳ kheo ni cũng phải theo đúng thứ tự trước sau giới tỳ
kheo ni. Cho đến chúng nữ Phật tử tại gia cũng phải y theo
thứ tự trước sau của giới Phật tại gia mà ngồi. Thế
nên vấn đề sắp đặt trật tự của người tu hành trong
Phật pháp không căn cứ vào niên kỷ lớn nhỏ mà chỉ xem
việc thọ giới trước hoặc sau để phân định:
-
Như những vị tỳ kheo cùng một hạng loại thì phải theo
thứ tự quy định dành cho giới tỳ kheo.
Những
vị tỳ kheo ni cùng một hạng loại thì phải theo thứ tự
trước sau dành cho giới tỳ kheo ni.
-
Những người cùng một giai cấp quý nhân thì phân định theo
thứ tự của quý nhân.
-
Thuộc cấp bậc quân vương thì phân định theo thứ tự của
quân vương.
-
Thuộc cấp bậc hoàng tử thì phân định theo thứ tự của
hoàng tử.
-
Cho đến thuộc hạng hoàng môn thì phân định theo thứ tự
hoàng môn, thuộc hạng nô tỳ thì phân định theo thứ tự
của nô tỳ.
Nói
tóm lại: “Tất cả đền nên theo thứ tự mà ngồi, người
thọ giới trước thì ngồi trước, thọ giới sau thì ngồi
sau”.
Như
vậy từng loại đều phân định trước sau mới tránh khỏi
tình trạng lộn xộn, mất trật tự. Nếu không phân định
như vậy thì Tăng, tục, quý, tiện lộn nhầu một thứ không
phân biệt trước sau. Như vậy chẳng những không hợp với
nguyên tắc trong Phật pháp, mà đối với sự lễ phép của
thế gian cũng không thể chấp nhận được.
Lại
có chỗ giải thích rằng: Phật pháp lấy giới làm điều
tối trọng nên dù Thanh Văn và Bồ Tát hai giới khác nhau,
nhưng cũng phải theo quy định người thọ giới trước ngồi
trước. Trong Ðại Trí Ðộ Luận thuật rằng: “Ngài Văn
Thù Sư Lợi Bồ Tát và ngài Di Lặc Bồ Tát, dù là chư đại
Bồ Tát, nhưng khi vào chúng Thanh Văn vẫn phải y theo thứ
tự giới lạp mà ngồi”.
Ðiều
này không được thích đáng lắm. Tại sao vậy?
Vì
trong giới pháp của đức Bổn Sư, chỉ có Thanh Văn tăng chứ
không có Bồ Tát tăng nên khi hai vị Ðại Sĩ đi vào trong
chúng tăng, đương nhiên phải theo thứ tự mà ngồi. Nếu
nói về lai lịch của đức Văn Thù thì ngài phát tâm thọ
đại giới đã trải qua ba đại a tăng kỳ kiếp lâu xa về
trước, thì làm sao có thể ngồi xen lẫn trong chúng Thanh Văn
được?
Việc
ấy trong kinh A Xà Thế Vương có nói:
Một
hôm A Xà Thế Vương thỉnh chư đại Bồ Tát là Văn Thù v.v..
và chư đại A La Hán là Ca Diếp v.v... Ðức Văn Thù đối
với Tổ Ca Diếp hết sức khiêm nhường mà thưa rằng: - Thưa
tôn giả! Ngài là bậc cao niên thượng tọa, cần phải ngồi
ở trước.
Ngài
Ca Diếp đối với đức Văn Thù cũng hết sức khiêm nhường
thưa rằng: - Thưa đại sĩ! Ngài là bậc phát đại Bồ Ðề
tâm đã quá lâu xa, lại là một vị Bồ Tát cao niên, đương
nhiên Ngài phải ngồi ở chỗ thượng thủ.
Cuối
cùng đức Văn Thù cùng hai ngàn vị Bồ Tát tại gia do Ngài
thống lãnh ngồi ở trước. Năm trăm vị A La Hán đồng đi
với tổ Ca Diếp ngồi ở sau. Sở dĩ đức Văn Thù nhường
cho Tổ Ca Diếp để chứng tỏ tinh thần tôn trọng không dám
trái với quy luật thường hằng của Cổ Phật.
Tổ
Ca Diếp sở dĩ nhường đức Văn Thù để thuận với bổn
ý của thí chủ cung thỉnh, vì A Xà Thế vương nhờ đức
Văn Thù mà được Vô Căn Tín (trước kia không có căn lành
và tín tâm đối với Tam Bảo, nhờ sự giáo hóa của đức
Văn Thù, vua mới phát tín tâm đối với Tam Bảo, nên gọi
là Vô Căn Tín), nên chủ ý của vua A Xà Thế là cung thỉnh
đức Văn Thù.
Có
chỗ giải thích rằng: Một vị Bồ Tát tỳ kheo ni dù đã
đủ một trăm tuổi hạ, số tuổi hạ như vậy thật là cao,
nhưng vẫn không được phép ngồi ở trước một vị tỳ
kheo Tiểu Thừa mới có một hạ.
Ðứng
về phương diện sự tướng mà luận thì một vị Bồ Tát
tỳ kheo dù hạ lạp cao bao nhiêu cũng không được ngồi trước
một vị tân tỳ kheo một hạ. Cứ như thế mà luận, dù bạn
là một vị ưu bà tắc đã quá trăm tuổi thọ, lại thọ
Bồ Tát đại giới trải qua gần trăm hạ lạp. Ðiều đó
quả thật hiếm có, nhưng bạn cũng không được ngồi trước
một vị khu ô sa di ni Tiểu Thừa. Vì chúng tại gia không bao
giờ được phép ngồi ở trước chúng xuất gia. Ngồi ở
trước một vị khu ô sa di ni còn không thể được huống
gì ngồi trước tỳ kheo v.v... lại càng không nên. Ðó là
quy luật nghiêm khắc và đặc biệt của giới luật Phật
giáo, chủ ý là muốn tăng, tục phân minh, không được lộn
lạo thứ tự, hầu tránh sự phê bình đàm tiếu của các
nhân sĩ trong xã hội.
Có
chỗ giải thích rằng: Một vị tỳ kheo đã một trăm tuổi
hạ, nhưng không thọ giới Bồ Tát, cũng không được phép
ngồi trước một vị xuất gia Bồ Tát mười tuổi hạ. Vì
tính chất thù thắng của giới tỳ kheo không bằng giới Bồ
Tát.
Về
sau nếu vị tỳ kheo trăm tuổi hạ ấy phát tâm thọ Bồ Tát
giới thì căn cứ theo hạ lạp của giới tỳ kheo mà phân
định chỗ ngồi. Vì khi ấy giới tỳ kheo đã chuyển thành
Bồ Tát giới nên vị tỳ kheo cao niên ấy bấy giờ đương
nhiên phải cao hơn vị Bồ Tát xuất gia mười hạ, và được
sắp ngồi trước. Trường hợp vị tỳ kheo một trăm tuổi
hạ còn như vậy, nên các chúng khác cũng y theo đó mà luận,
không nhất thiết phải nói rõ.
Lại
có chỗ nói rằng: Nếu chỉ có chúng thọ giới Thanh Văn không
thọ Bồ Tát giới, thì cứ y theo thứ tự của giới Thanh
Văn mà ngồi. Về sau, nếu trong chúng Thanh Văn có người tiến
lên thọ Bồ Tát giới, thì giới lạp Thanh Văn từ trước
dù cao, cũng phải tính theo thứ tự Bồ Tát giới mà ngồi.
Lại
như nữ Phật tử thọ Bồ Tát giới trước, đáng lẽ phải
ngồi trước chúng nam Phật tử thọ giới sau, nhưng vì muốn
tránh sự hỗn tạp nam nữ, nên vị nữ Phật tử thọ giới
trước này vẫn phải ngồi ở phía sau. Do đây, chúng ta thấy
Phật pháp dù lấy giới pháp làm trọng, nhưng vẫn không xem
thường tướng thế gian.
Hai
chữ Quý Nhân trong kinh văn thực tế dùng chỉ các vị quốc
vương, hoàng tử v.v... vì quý nhân đối lập với tiện nhân:
hoàng môn, nô tỳ v.v... Những người ấy dù cùng là chúng
tại gia, nhưng vẫn phải theo giai cấp mà phân biệt. Nghĩa
là người sang thuộc về giai cấp sang, người hèn thuộc về
giai cấp hèn, không được lộn xộn.
Như
con của quốc vương dù đã thọ giới Bồ Tát nhưng vì chưa
xuất gia nên vẫn không được phép ngồi trước phụ hoàng.
Hai
chữ “nãi chí” trong kinh văn mang ý nghĩa khái lược, nghĩa
là ngoại trừ quốc vương và hoàng tử, còn có đại thần,
tể tướng, trưởng giả, cư sĩ, bà la môn v.v... đều phải
phân biệt theo mỗi cấp bậc.
Trong
Phật pháp tuy chỉ căn cứ theo thứ tự của giới pháp, nhưng
khi bạn chưa xuất gia, đối với những người này, theo thế
pháp, vẫn không được xóa bỏ hay đảo lộn danh vị vua tôi...
Nếu không, trật tự xã hội sẽ không còn và sẽ thành đại
loạn. Như vậy thì còn nói gì đến Phật pháp?
Ở
đây có người hỏi rằng: Vua tôi, cha con, chủ tớ đồng
thọ Bồ Tát giới, cần phải theo mỗi cấp bậc mà phân biệt.
Tại
sao trong giới nói:
Tôi
xuất gia thọ giới Cụ Túc trước, vua xuất gia thọ giới
Cụ Túc sau, thì lúc ở trong chúng tăng, vua phải ở vào địa
vị hạ tọa, phải tôn kính bề tôi là bậc thượng tọa?
Con
xuất gia thọ giới Cụ Túc trước, cha xuất gia thọ giới
Cụ Túc sau, cha phải ở vào địa vị hạ tọa, phải kính
trọng con là bậc thượng tọa?
Tôi
tớ xuất gia thọ giới Cụ Túc trước, chủ xuất gia thọ
giới Cụ Túc sau. Ở trong chúng tăng, chủ phải ở vào địa
vị hạ tọa, phải kính nhường tôi tớ là bậc thượng tọa,
là tại làm sao?
Phải
biết giới tỳ kheo thuộc về xuất thế, nên phải biểu hiện
tính cách xuất thế, chứ không nhiếp thuộc về thế pháp.
Khi bề tôi muốn xuất gia, nhà vua không cho phép, người muốn
xuất gia bị cha mẹ không đồng ý, người tớ muốn xuất
gia mà chủ không cho phép thì những người ấy không được
phép xuất gia.
Nhưng
khi người làm vua, làm cha, làm chủ đã đồng ý cho con, tôi
tớ mình đi xuất gia, sau khi họ đã xuất gia thì phải xóa
bỏ hẳn danh vị tôi, con và đầy tớ.
Về
sau, nếu vua, cha, chủ nhân phát tâm xuất gia, thọ Cụ Túc
sau, đương nhiên cũng phải kính trọng tôi, con, đầy tớ
là bậc thượng tọa. Ðiều này trong tăng đoàn tuyệt đối
không có ngoại lệ. Dù là vua, cha, chủ nhân nhưng đã không
xuất gia thì vẫn là người thế tục, nên phải kính trọng
tôi, con, đầy tớ là bậc tôn giả và phải cung kính, cúng
dường theo đúng nghi thức cúng dường một vị phước điền
tăng.
Người
làm con, tôi, đầy tớ khi đã xuất gia rồi, đối với vua,
cha, chủ nhân của mình thì phải gọi họ là đàn việt, không
được gọi họ là phụ vương, phụ thân, chủ nhân nữa.
Giới Bồ Tát thông cả thế pháp và xuất thế pháp. Tức
là không phá hoại Thế Ðế (lễ nghĩa thế gian), vì thế
dù đã thọ Bồ Tát giới, nhưng vua vẫn là vua, tôi vẫn là
tôi, danh vị vua tôi không thể xóa bỏ. Cha vẫn là cha, con
vẫn là con, danh vị cha con không thể lộn xộn. Chủ vẫn
là chủ, tớ vẫn là tớ, danh vị chủ tớ cũng không thể
xóa bỏ. Nếu chỉ theo thứ tự của giới pháp mà xóa bỏ
danh vị thế pháp thì pháp thế gian không thể an lập.
Phật
pháp lưu hành trong thế gian quyết không thể phá hoại thế
gian. Nếu phá hoại thế gian, làm đảo lộn trật tự xã hội,
gây thành đại loạn thì thế gian này cần gì phải có Phật
pháp?
Ở
đây lại có người hỏi rằng: Nếu người xuất gia mà xóa
bỏ danh vị tôi, con, đầy tớ, như thế thì trên thế gian,
thế cuộc sẽ trở thành không vua, không cha sao? Các Nho gia
ở Trung Hoa cực lực bài xích Phật giáo chính vì điểm cho
rằng chủ trương Phật giáo phải chăng là không vua, tôi,
không cha con?
Không
phải thế đâu! Người nói lời trên là do hiểu lầm và không
minh bạch tinh thần Phật pháp chút nào. Bạn phải biết: Phật
pháp xóa bỏ danh vị là xóa bỏ cái hư danh mà thông thường
người thế tục cố chấp và cho là thật có, chứ không phải
xóa bỏ ân nghĩa cần phải có giữa người với người. Vì
thế đâu được nói là không vua, không cha.
Như
trong giới luật Ðức Phật dạy quý tỳ kheo rằng: “Tỳ
kheo các ông cần phải dũng mãnh tinh tấn tu hành để đền
đáp thâm ân sanh thành, dưỡng dục của mẹ cha. Lại phải
luôn thuyết pháp, khuyến hóa nhân dân hành thiện để đền
đáp ân đức quốc vương”. Như thế đâu thể kết luận
Phật pháp bỏ quên ân nghĩa của quân vương, phụ mẫu, cũng
không thể nào bảo Phật pháp phế bỏ trung hiếu của thế
gian!
Chẳng
những thế, tiến thêm một bậc nữa, Phật dạy: “Tỳ kheo!
Nếu đúng như pháp dụng công tu hành, hoằng thông ngôn giáo
chí cực của Như Lai khiến cho thiên long hoan hỷ, gió hòa
mưa thuận, quốc thới dân an, cha mẹ quá khứ cũng như hiện
tại đều được thoát ly bể khổ sanh tử. Như vậy là thành
đại trung, đại hiếu của kẻ xuất thế gian”.
Do
đó, có thể nói tinh thần đại nghĩa của Trung Hiếu thật
ra không ai hơn người xuất gia. Nhưng điều tối yếu của
người xuất gia là phải tôn trọng giới pháp trước tiên,
không được mảy may khinh suất, nên phải tôn ty thứ tự
mỗi khi an tọa. Phải biết khi bẩm thọ giới pháp, chính
là giờ phút sanh trưởng giới thân huệ mạng của chúng.
Vì vậy, giới pháp đối với chúng ta vô cùng trọng yếu
như thế, nên tại sao ta không y theo giới lạp mà lại căn
cứ vào tuổi tác để luận?
Ở
đây lại có người hỏi rằng:
Vì
tôn trọng giới pháp nên phải lấy giới lạp làm thứ tự,
điều đó là đúng. Nhưng nếu như vậy thì theo lễ nghi thế
gian, vua tôi, cha con, tăng ni, nam nữ v.v... lộn xộn bất phân,
cùng nhau ở chung một chỗ, thì chẳng phải là một sự hỗn
độn hay sao?
Không
phải như thế! Tăng ni tự phân thứ tự của tăng ni, nam nữ
đều có thứ tự của nam nữ, không được lộn xộn, cho
nên sao gọi là hỗn độn? Còn như vấn đề vua tôi, nếu
tôi là người tôn quý giới luật và quốc vương là người
thật sự biết kính trọng giới pháp thì bề tôi theo thứ
tự thọ giới có thể ngồi trước quốc vương. Nhược bằng
quốc vương là người cố chấp theo lễ nghi thế tục của
giai cấp vua tôi, thì kẻ bề tôi dù thọ giới Bồ Tát trước,
cũng nên ngồi sau để tránh việc lưu nạn cho Phật pháp.
Ngoài
ra, cũng nên tùy thuận theo lễ nghi của thế gian, không nên
để cho người thế tục sanh tâm hiểu lầm Phật pháp mà
làm chướng ngại cho việc hoằng thông Phật pháp. Phật pháp
cần luôn tôn trọng đạo đức, lấy đạo làm trọng. Vì
thế, nếu người chơn thật trọng đạo, xóa bỏ ngã nhân,
thì quyết không bao giờ sanh tâm tranh chấp danh vị, thứ tự.
Như
trường hợp vị Ðại Phạm Thiên Vương trên cõi trời Ðại
Phạm là một vị tối cao quý. Nhưng khi Ðại Phạm Thiên Vương
được nghe Như Ý Bảo Quang Diệu thiên nữ giảng nói về
hạnh Bồ Ðề, ngài nhận chân rằng chỉ có thực thi theo
hạnh Bồ Ðề, mới thật là con đường chánh đáng. Bấy
giờ, Ngài bỏ hẳn sự tôn quý của vị Ðại Phạm Thiên
Vương, liền cùng thiên chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, hết
lòng cung kính đảnh lễ dưới chân của Như Ý Bảo Quang Diệu
thiên nữ.
Thử
xét, việc làm của Ðại Phạm Thiên Vương có điểm nào là
không cao quý? Ðối với sự tôn nghiêm cao cả của một vị
thiên vương có bị tổn thất một điểm nhỏ nào không? Hay
là điều đó còn chứng tỏ Ngài là một vị thông hiểu Phật
pháp để làm gương cho thiên chúng noi theo.
Thế
nhân sở dĩ phân chia cao thấp, đều do không thể diệt trừ
được bản ngã của cá nhân, không thể bỏ được thể diện
của mình mà thôi.
Phật
pháp chủ trương luận về pháp chớ không luận về người.
Nếu như hiểu biết chân thực câu “y pháp bất y nhân”
thì nhất định không bao giờ có việc phân chia cao thấp,
quý tiện.
Lại
xem gương của Ðế Thích thiên vương là vị chúa trên cõi
trời Ðao Lợi, là bậc rất tôn quý, còn dã can là loài thú
rất thấp hèn, không thể nào so sánh được với Ðế Thích
thiên vương, nhưng Ðế Thích thiên vương lại dùng thiên y
chất thành pháp tòa rất cao, khẩn thiết chí thành đảnh
lễ, thỉnh dã can thuyết pháp. Sau đó thọ giới pháp Thập
Thiện từ nơi dã can. Tinh thần trọng pháp không quý tiện
như vậy, đã làm giảm địa vị tôn nghiêm của Ðế Thích
thiên vương chút nào đâu? (xem lại sự tích này trong “Kiêu
mạn bất thỉnh” giới pháp).
Vì
Phật pháp đặc biệt xem trọng giới pháp, nên là một Phật
tử phải triệt để “không được như hàng ngoại đạo
ngu si, già trẻ trước sau lộn xộn, ngồi không có thứ tự”.
Ba
chữ “không được như” trong kinh văn là lời dạy rất
nghiêm khắc, nghĩa là triệt để không được như vậy.
“Ngoại
đạo ngu si” là lời quở trách ngoại đạo không hiểu lễ
nghi.
“Già
trẻ trước sau lộn xộn ngồi không có thứ tự” là nói
ngoại đạo chỉ căn cứ vào tuổi tác lớn, lợi căn, cho
là người trưởng thượng, không lấy sự nhiều ít của giới
lạp để phân định thứ tự. Cách ngồi lộn xộn không có
thứ tự như vậy, chính là không khác cách ngồi của bọn
binh nô. Theo pháp của binh nô là lúc ra vào chỉ theo sự chỉ
huy của quân lệnh, người nào đến trước thì đi trước,
đến sau thì đi sau, không có thì giờ để luận việc lễ
nghi thứ tự. Nếu vị tỳ kheo trong lúc bố tát ở Bố Tát
Ðường mà không tuân theo thứ tự của giới lạp, cứ để
người nào đến trước thì ngồi trước, như thế có khác
gì bọn binh nô?
Phật
pháp của chúng ta không phải như vậy, trước khi tụng giới
phải hỏi thời gian thọ giới của mỗi vị, rồi y theo thứ
tự của giới lạp mà ngồi. Khi chúng tỳ kheo đã ngồi yên
thì đến hỏi các vị tỳ kheo ni v.v... cho đến hai chúng tại
gia.
Trong
kinh văn dạy: “Trong Phật pháp của ta, hễ người thọ giới
trước thì ngồi trước, còn người thọ giới sau thì ngồi
sau, triệt để không cho phép có chút lộn xộn nào không đúng
pháp”.
Thực
hành được như trên đấy là hành Bồ Tát đạo, là kiến
lập pháp môn, là lễ nghĩa khiêm nhường, cung kính. Nếu Bồ
Tát không theo thứ tự đúng pháp mà ngồi thì phạm khinh cấu
tội. Vì thế, nếu cho rằng tùy tiện, tùy ý có thể ngồi
không có quan hệ gì, thì thật là sai lầm vô cùng!
Theo
những điều vừa thuyết minh trên, chúng ta thấy đối với
chúng xuất gia, dù là xuất gia Bồ Tát hay Thanh Văn đều được
hết mực tôn trọng. Nhưng phải biết rằng: sự tôn trọng
ấy chính là vì tôn trọng giới pháp bạn đã bẩm thọ, chứ
không phải tôn trọng cá nhân bạn.
Nếu
bản thân bạn không có giới pháp hay đã thọ giới pháp mà
không giữ được trọn vẹn thì thử xét bạn có giá trị
gì để được mọi người tôn kính?
Vì
thế, một vị xuất gia, đúng như pháp quy định, phải học
tập giới luật, oai nghi cho hoàn bị và phải giữ gìn giới
luật tinh nghiêm mới được tiếp thọ sự lễ kính của nhân
thiên, và mới xứng đáng làm phước điền cho nhân thiên.
Nhược
bằng trái phạm giới luật, không có tài đức chơn thật
của người xuất gia thì không thể kham thọ sự lễ kính
của nhân thiên. Ngoài ra, nếu còn đi lễ bái thiên long quỷ
thần cùng quốc vương, phụ mẫu thì chẳng những không thể
cứu vãn tội phá giới của bạn, lại còn mang thêm tội phá
hoại lễ nghi của Phật pháp. Vì thế, phải hết sức thận
trọng.
Nếu
không tôn trọng việc nghiêm trì giới hạnh, chỉ giả dối
tạo tướng diện bên ngoài, rồi cho rằng ta đây là một
tăng nhân, đường đường tăng tướng, sanh lòng cống cao
ngã mạn, xem thiên hạ không ra gì, rốt lại, chỉ tự mình
mang lấy khổ não!
Vì
thế, chúng xuất gia cần phải biết tự trọng, bằng cách
lấy việc nghiêm trì giới luật làm chủ đích. Ðó là điều
tất yếu! Còn Phật tử tại gia có tâm tốt thọ Bồ Tát
giới, đối với chúng xuất gia, cả Bồ Tát lẫn Thanh Văn
phải hết lòng cung kính tôn trọng, tuyệt đối không nên
có tâm khinh mạn, dù là những vị giới hạnh thanh tịnh,
hay những người phá giới hoặc không có giới.
Nên
biết rằng: bạn cung kính tôn trọng chúng xuất gia, dĩ nhiên
là bạn sẽ được nhiều công đức. Còn giới hạnh của
người xuất gia như thế nào, đó là việc thuộc bản thân
của chư vị ấy. Nếu chư vị không giữ gìn giới pháp thanh
tịnh thì quả báo khổ đau, quý vị đó phải tự mang.
Giới
này cả thất chúng Phật tử đều phải học. Ðại Thừa
lẫn Tiểu Thừa đều tuân giữ, không một ai được trái
phạm. Trong kinh Thiện Sanh nói: “Nếu ưu bà tắc mà đi trước
tỳ kheo hay sa di thì mắc tội thất ý”.
Nếu
đem Tam Tụ Tịnh Giới phối hợp với giới này thì có sự
tương ứng như sau:
-
Vâng lời Phật dạy theo thứ tự mà ngồi là Nhiếp Luật
Nghi Giới.
-
Không trái lời Phật dạy là Nhiếp Thiện Pháp Giới.
-
Khiêm nhường cung kính là Nhiếp Chúng Sanh Giới.
