B.2.2.40.
GIẢN TRẠCH THỌ GIỚI
(giới
không bình đẳng truyền giới)
Kinh
văn
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử dữ nhân thọ giới thời...” cho đến
câu “...phạm khinh cấu tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
Phật tử lúc cho người thọ giới, không được lựa chọn.
Tất cả hàng quốc vương, hoàng tử, các quan, tỳ kheo, tỳ
kheo ni, tín nam, tín nữ, dâm nam, dâm nữ, Phạm thiên trong
mười tám cõi Sắc, thiên tử trong sáu cõi Dục, người thiếu
căn, hai căn, hoàng môn, tôi tớ và tất cả các quỷ thần
đều được thọ giới.
Tất
cả y phục, ngọa cụ đều phải hòa chung các màu xanh, vàng,
đỏ, đen, tín, nhuộm chung lại thành hoại sắc để hợp
với đạo. Trong tất cả các quốc độ, đối với y phục
của người trong nước mặc, y phục của thầy tỳ kheo đều
phải với y phục của người thế tục.
Khi
ai muốn thọ Bồ Tát giới, vị sư phải hỏi rằng: “Trong
đời ngươi có phạm tội thất nghịch chăng?” Bồ Tát Pháp
Sư không được cho người phạm tội thất nghịch trong hiện
đời thọ giới.
Tội
thất nghịch gồm có: ác tâm làm thân Phật chảy máu, hại
bậc thánh nhân, giết cha, giết mẹ, giết hòa thượng, giết
A-xà-lê, phá yết ma tăng, chuyển pháp luân tăng. Nếu phạm
tội thất nghịch thời hiện đời không đắc giới, ngoài
ra, tất cả người khác đều được thọ giới.
Theo
pháp Phật, người xuất gia không lạy quốc vương, cha mẹ,
lục thân và quỷ thần.
Phàm
hễ ai nhận hiểu lời nói của Pháp Sư đều được thọ
giới. Khi có người từ trăm nghìn dặm đến cầu pháp nếu
Bồ Tát pháp sư vì ác tâm, sân tâm, không chịu sốt sắng
truyền giới Bồ Tát cho người ấy thời phạm khinh cấu tội.
Lời
giảng
Giảng
giải kinh luật để dẫn dắt chúng sanh tu phước, tu huệ,
cố nhiên là nhiệm vụ của người Phật tử cần phải làm.
Vì chúng sanh mà truyền trao giới pháp để nhiếp thủ chúng
sanh đi trên con đường rộng lớn của Phật pháp, là trách
nhiệm của Bồ Tát không thể bỏ qua.
Bồ
Tát lấy việc phổ độ chúng sanh làm trách nhiệm của mình,
lấy tâm từ bi lợi vật làm bản hoài của mình. Nên khi có
chúng sanh nào từ trăm nghìn dặm đến cầu pháp, Bồ Tát
phải hết lòng sẵn sàng truyền trao, không được dùng bất
cứ lý do gì để từ khước hay cự tuyệt. Nếu không làm
như thế, mà lại còn dùng tâm sân ác, không chịu truyền
trao giới pháp cho người là hoàn toàn không đúng với tâm
phổ lợi chúng sanh của một vị Bồ Tát.
Nên
biết Kim Cương Quang Minh Bảo Giới vốn bình đẳng, mọi hạng
người đều có thể bẩm thọ, không phân biệt quý tiện,
cao thấp, nhân, phi nhân v.v... Nếu có sự lựa chọn, nghĩa
là đối với người cần truyền trao giới pháp mà không chịu
truyền trao, đối với người không nên truyền trao mà truyền
trao. Như thế, chính bạn phải mắc tội trước tiên, như
vậy đâu còn tư cách gì để làm thầy cho người?
Do
đó, khi thấy bậc pháp khí cần thọ Bồ Tát giới, phải
vì người ấy mà truyền trao giới pháp, không được bỏ
qua. Nếu có tâm sân hận oán hờn, mà lựa chọn người để
truyền trao giới pháp thì trái với ý nghĩa dẫn dắt hàng
hậu học tiến vào Phật pháp.
Vì
thế, Bồ Tát muốn lợi sanh, gặp cơ duyên thì phải đáp
ứng, đi đến bất cứ nơi nào, cũng phải lưu ý đến việc
tế độ chúng sanh. Nếu không như thế thì trái với tâm nguyện
phổ lợi chúng sanh của Bồ Tát, làm chướng ngại cho việc
tu hạnh Bồ Ðề.
Trong
bộ Pháp Tạng Bồ Tát Giới Sở Ký:
-
Nói về phần Biệt thì trái với hạnh Nhiếp Hóa Chúng Sanh.
-
Nói về phần Thông thì trái với Tam Tụ Tịnh Giới.
Ðây
là tội lỗi rất lớn của sự lựa chọn truyền giới.
Giới
này hai chúng xuất gia tỳ kheo và tỳ kheo ni đếu có thể
phạm, còn các chúng kia không ở trong phạm vi giới này, vì
không đủ tư cách làm sư phạm cho người.
Sự
phân định mức độ nặng nhẹ về sự vi phạm giới này
giữa Tiểu Thừa và Ðại Thừa cũng không đồng nhau:
-
Ðối với Bồ Tát phát tâm phổ độ chúng sanh, nên khi bất
cứ chúng sanh nào đến cầu thọ giới pháp, cũng đều không
được theo tự ý mình mà lựa chọn cho thọ giới hay không
cho thọ.
-
Còn đạo pháp Thanh Văn tương đối hẹp, nên đối với người
cầu pháp, có người cho, có người thì không cho. Nếu trước
đó, hành giả chưa nhận lời thỉnh cầu của người, nên
khi không truyền trao giới pháp cho người, thì không trái phạm.
Nếu đã nhận lời thỉnh cầu trước đó mà sau này vì buồn
giận việc gì, hoặc hối hận vì đã hứa, nên không truyền
trao giới pháp cho người thì có tội.
Vậy
phải như thế nào mới không phạm giới này?
-
Trường hợp bị bệnh hoặc bệnh vừa mới khỏi, sức còn
yếu, hoặc chính bản thân là người ám độn không rành về
nghi thức truyền giới.
-
Hoặc là người cầu giới pháp không có tâm chân thật, hoặc
ngoại đạo giả dối đến thỉnh cầu giới pháp, hoặc bản
thân người cầu giới có đủ giá nạn v.v... Vì thế nên
không truyền trao giới pháp. Trong trường hợp này đương
nhiên không trái phạm.
Ngoài
những trường hợp này ra, tất cả đều phạm giới. Vì thế
làm vị Bồ Tát cần phải đặc biệt chú ý.
Ðức
Phật dạy đại chúng rằng: “Nếu là một Phật tử đã
thọ Bồ Tát giới, đối với bất cứ chúng sanh nào có tâm
cầu thọ giới Bồ Tát đều phải bình đẳng truyền trao
giới pháp, tuyệt đối không được lựa chọn, hoặc truyền
giới cho người này mà không truyền giới cho người kia”.
*
Ở Trung Hoa, quốc sử có ghi về các quốc vương được thọ
giới Bồ Tát như:
-
Nam Triều Lương Võ Ðế trong thời kỳ Nam Bắc Triều được
Huệ Ước Pháp Sư truyền trao Bồ Tát đại giới.
-
Triều nhà Ðường, vua Cao Tông, niên hiệu Long Ðức thứ hai
(năm 665 Tây lịch) cung thỉnh Chung Nam Ðạo Tuyên Luật Tổ
đến chùa Tịnh Nghiệp truyền trao Bồ Tát giới.
-
Triều Tống, niên hiệu Khánh Lịch năm thứ hai (Tây Lịch
1041), vua Nhân Tông hạ chiếu phụng thỉnh Nguyên Kham Luật
Sư đến tại giới đàn Ðịa Dũng chùa Ðại Chiêu Khánh,
tỉnh Hàng Châu để truyền trao giới Bồ Tát cho nhà vua.
*
Về các hoàng tử được thọ giới có:
Triều
nhà Ðường, vua Thái Tông, hiệu Trinh Quán thứ hai (Tây lịch
628) hạ chiếu phụng thỉnh Nguyên Uyển luật sư vào nội
cung truyền Bồ Tát giới cho hoàng thái tử và cung phi.
*
Về các đại thần được thọ giới có:
-
Dưới thời Nam Bắc Triều, Châu Võ Ðế, niên hiệu Kiến
Ðức năm đầu (Tây lịch 572) hạ chiếu phụng thỉnh thiền
sư Tăng Vĩ đến kinh đô để truyền trao giới Thập Thiện
cho các công khanh.
-
Triều nhà Thanh, lúc Thuận Trị Hoàng Ðế trị vì, quan nội
thị Châu Thiên Thành hộ pháp, cung thỉnh Hoa Sơn Kiến Nguyệt
Luật Sư đến truyền trao giới Bồ Tát.
Về
hàng bá quan được thọ giới, từ đó trở về sau có thể
nói là rất nhiều, không thể tính kể.
Còn
tỳ kheo, tỳ kheo ni thọ giới Bồ Tát thì gọi là Bồ Tát
tỳ kheo, Bồ Tát tỳ kheo ni. Ðó là quy luật truyền giới
thông thường ở Trung Hoa.
Về
những hàng tín nam, tín nữ, dâm nam, dâm nữ thọ giới Bồ
Tát rất nhiều, không thể tính kể.
Chư
Phạm thiên trong mười tám cõi Sắc Giới, thiên tử trong sáu
cõi Dục Giới đều có thọ Bồ Tát giới. Còn những hạng
không căn, hai căn, hoàng môn, tôi tớ, đối với giới Thanh
Văn thì không đủ tư cách để thọ, nhưng đối với giới
Bồ Tát điều ấy không thành vấn đề.
Tất
cả quỷ thần đều được thọ Bồ Tát giới như:
-
Trường hợp Trung Nhạc Ðại Ðế thọ Bồ Tát giới với
Nguyên Khê thiền sư.
-
Lư Sơn đại thần thọ Bồ Tát giới với Ðàm Ấp thiền
sư.
-
Cao Vương Giáng Chúc đại thần thọ Bồ Tát giới với Thông
Pháp Sư.
Ðạo
Phật phổ nhiếp tất cả, không bao giờ từ bỏ một chúng
sanh nào, tất cả đạo tục, u hiển đều được thọ giới.
Tuyệt đối không được lựa chọn (U: chỉ thế giới quỷ
thần; Hiển là nhân loại).
Như
mùa Xuân thuộc về dương khí, vạn vật đều sanh trưởng.
Nếu lựa chọn vật mà sanh thì sự phát sinh của vạn vật
chắc chắn rất hiếm. Như biển cả dung nạp tất cả dòng
sông. Nếu lựa chọn sông để dung nạp thì sự dung nạp ấy
không được bao nhiêu. Ðại sĩ như mùa Xuân, giúp muôn vật
đều nẩy nở như biển cả dung chứa tất cả dòng sông,
thương chúng sanh bình đẳng như con một thì làm sao có thể
khởi tâm phân biệt cao thấp, tăng tục, quý tiện, tịnh uế?
Thế nên tất cả chúng sanh đều được thọ Bồ Tát giới.
Khi
truyền trao giới pháp cho chúng sanh, Bồ Tát không được lựa
chọn, nhưng phải bảo những người phát tâm thọ giới mặc
ca sa. Những ca sa này đều nhuộm thành hoại sắc để tương
ứng với Ðạo.
Ca-sa:
Trung Hoa dịch là Nhiễm Y hoặc Hoại Sắc. Nghĩa là chúng sanh
xuất gia thọ Bồ Tát giới, lấy việc tu giải thoát làm chủ
đích, nên việc phục sức đương nhiên không giống với người
thế tục. Vì thế nếu dùng y tốt, màu đẹp, sợ e khởi
tâm nhiễm trước, làm hại cho đạo nghiệp thanh tu, nên phải
nhuộm thành hoại sắc.
Người
thế tục mặc y phục năm màu, sáu sắc, hồng hồng, lục
lục cho là đẹp, là thẩm mỹ. Hiện nay trân y dị phục rất
nhiều kiểu, nhiều cách, nhiều sắc hơn nữa.
Cho
nên kinh luật dạy phải hoại sắc, nghĩa là dùng năm thứ
màu trộn lại mà nhuộm y áo, nên kinh văn dạy: “Ðều phải
hòa các màu xanh, vàng, đỏ, đen, trắng”. Cho nên:
-
Màu xanh sẽ không còn là thuần xanh hay xanh đậm mà có sắc
như bùn.
-
Màu vàng không còn là màu vàng đậm hay vàng lợt mà trong
đó có lẫn màu đỏ, trong Luật thường gọi là màu Mộc
Lan.
-
Màu đen không phải là màu đen giống y phục của ngoại đạo,
mà trong màu đen có pha tím. Trong Luật gọi Truy Y (giống như
trái dâu chín).
Làm
cho thành hoại sắc như vậy cốt để cùng với năm màu tươi
đẹp, diễm lệ: xanh, vàng, đỏ, trắng, đen của thế tục
khác nhau.
Chẳng
những cà sa phải nhuộm thành hoại sắc, mà ngay đến tất
cả ngọa cụ v.v... đều phải nhuộm thành hoại sắc. Cho
nên kinh văn dạy: “Trong tất cả quốc độ, đối với y
phục của người trong nước mặc”, tức là mỗi quốc gia
đều có quốc phục khác nhau, nhưng đều dùng năm thứ màu
nhuộm thành. Còn “y phục của thầy tỳ kheo phải khác với
y phục của người thế tục”.
Vì
thế Tăng có y phục của Tăng, Tục có y phục của Tục, tuyệt
đối không được lộn xộn. Nếu tỳ kheo xuất gia mà mặc
y phục giống như người thế tục thì làm sao có thể thể
hiện hình ảnh thoát tục cuả một tăng nhân? Thế nên không
được trắng đen lộn xộn lẫn nhau.
Trong
Bồ Tát Giới Sơ Tân, quyển 7, nói: “Người xuất gia thời
bây giờ không hiểu ý nghĩa kinh luật, không phân biệt phép
tăng tục nên khi truyền trao Ngũ Giới cho nam nữ tại gia,
lại bảo các Phật tử này mặc y Ngũ Ðiều của tỳ kheo.
Khi truyền trao Bồ Tát giới cho Phật tử tại gia, lại bảo
họ mặc Tăng Già Lê 25 điều. Thế là tăng, tục lộn xộn,
trái với điều luật của Ðức Phật chế định”.
Lại
như Nghĩa Tịnh Tam Tạng Pháp Sư, khi sang Tây Vức chưa từng
thấy sa di mặc y ngũ điều, thất điều của tỳ kheo. Sa Di
chỉ được mặc mạn y, vì chưa được liệt vào số Tăng
Bảo, nên không thể mặc y phước điền. Nếu mặc thì phải
mắc tội. Xem như trường hợp sa di là chúng xuất gia mà còn
bị cấm không được mặc thì Phật tử tại gia là người
thế tục, mà lại có thể làm phước điền cho nhân thiên
hay sao?
Từ
phần này trở về trước, dù nói rằng đối với người
cầu thọ giới không được chọn lựa. Nhưng trong sự không
chọn lựa, vẫn có chút chọn lựa. Vậy phải chọn những
người như thế nào?
Nếu
có ai muốn thọ giới Bồ Tát, đích thân vị sư truyền trao
giới pháp phải hỏi người ấy trước rằng: “Trong đời
này, người có phạm tội Thất Nghịch chăng?” Nếu người
thọ giới nói không có thì phải sốt sắng truyền trao giới
pháp cho người, không được chọn lựa. Nếu người cầu
thọ giới đáp có, thì Bồ Tát pháp sư làm thầy truyền giới
không được cho người phạm tội thất nghịch thọ giới
trong đời này.
Nguyên
do là vì đời này nếu đã tạo tội thất nghịch thì người
ấy khi xả thân nhất định phải đọa vào địa ngục Vô
Gián, còn hiện đời, họ là một người bị chướng ngại
rất lớn cho việc thọ giới phẩm. Ðối với những người
này, chẳng những không nên cho thọ giới, vì dù có thọ cũng
không thể đắc giới. Ðây là việc vô cùng trọng yếu. Vì
vậy, vị thầy truyền giới phải luôn cẩn thận hỏi trước
cho rõ ràng.
Tội
thất nghịch:
1.
Ác tâm làm thân Phật chảy máu: vấn đề này thật ra không
cần phải làm thương tổn sinh mạng của Phật, mà chỉ làm
trên thân Phật chảy ra một giọt máu. Như thế đủ kết
thành tội nghịch.
2-3.
Giết cha mẹ: Cha mẹ có công ơn sanh thành, dưỡng dục xác
thân của chúng ta, nên chúng ta phải tận tâm báo đáp thâm
ân, trọng đức của người, còn không xứng đáng một phần
trong muôn một. Sao lại nhẫn tâm làm việc đại nghịch, giết
hại mẹ cha? Dù trong trường hợp kẻ nghịch tử bị tán
tâm, cuồng trí lỡ giết mẹ cha, làm cho cha mẹ không thể
sinh tồn thì cũng kết thành tội nghịch.
4-5.
Giết hòa thượng và giết a xà lê: Hòa thượng và giết a
xà lê là những vị có thâm ân, trọng đức sanh trưởng giới
thân huệ mạng cho chúng ta. Với ân đức ấy, dù nghiền nát
thân này như tro bụi cũng không thể đền đáp được. Thế
mà chẳng những không đền đáp ân đức của các Ngài lại
nhẫn tâm giết hại sanh mạng của các ngài, những việc làm
đó đương nhiên bị kết thành tội nghịch.
6.
Phá yết ma tăng, chuyển pháp luân tăng: Yết Ma, Trung Hoa dịch
là Tác Pháp Biện Sự, như hiện nay gọi là Hội Nghị. Tác
pháp hội nghị của Tăng đoàn, điều tối khẩn yếu là phải
hòa hợp, bảo đảm sự đoàn kết của Tăng đoàn. Nếu ai
phá hoại làm cho tăng đoàn ly tán, tội ấy rất lớn.
Như
thế nào gọi là phá Yết Ma Tăng?
Chẳng
hạn trường hợp trong một đại giới, tối thiểu phải có
tám tỳ kheo ở chung, và từ trước đến nay luôn luôn hòa
hợp, không bao giờ có sự mâu thuẫn nhau. Về sau, nếu do
một ý kiến nào đó làm chia rẽ, phân làm hai nhóm, tự tách
riêng làm Yết Ma tăng sự. Như thế gọi là “phá Yết Ma
tăng”. Trường hợp của chúng tỳ kheo như thế, tỳ kheo
ni nếu làm yết ma riêng cũng như vậy.
Thế
nào là “chuyển pháp luân tăng?”
-
Chữ Chuyển có nghĩa là tuyên thuyết, hoằng truyền.
-
Chữ Luân là bánh xe, có công dụng tồi phá, nghiền cán.
Ám
chỉ cho vị tăng hoằng truyền, tuyên thuyết chánh pháp của
Như Lai có thể nghiền nát hoặc nghiệp của chúng sanh nên
gọi là Chuyển Pháp Luân Tăng.
Thế
nào là “phá Chuyển Pháp Luân Tăng?”
Như
có chín tỳ kheo đang ở chung bỗng nhiên có một vị trong
nhóm tự xưng là Phật, dẫn dụ mê hoặc được bốn trong
tám người còn lại, kết thành một nhóm riêng, tuyên thuyết,
giảng nói kinh luật một cách điên đảo khiến cho người
bỏ chánh kiến, theo tà kiến.
Còn
bốn người kia biết rõ những lời nói đó là sai lầm và
tội lỗi rất lớn, nên không bị người ấy làm lay chuyển.
Do đó, chia thành hai nhóm chống đối nhau. Như thế dù ở
trong hay ngoài đại giới, đều gọi trường hợp này là phá
chuyển pháp luân tăng.
Ðiều
này chỉ có thể xảy ra trong giới tỳ kheo tăng, nhưng trong
giới tỳ kheo ni không thể xảy ra được. Vì bản thân tỳ
kheo ni có đủ ngũ chướng nên không ai dám đứng ra tự xưng
mình là Phật và cũng không ai tin các bà được làm Phật
(ngũ chướng là: không được làm Phật, không được làm
Chuyển Luân Vương, không được làm ma vương, không được
làm Ðế Thích, không được làm Phạm thiên vương).
Thời
nay các tăng nhân thay thế cho Phật tuyên duyên chánh pháp,
lợi ích quần sanh, cũng có thể gọi là Chuyển Pháp Luân
Tăng. Thế nên nếu có người nào dám tự xưng mình là Phật,
làm việc phá hoại các tăng nhân tức là phạm tội này.
7.
Giết thánh nhân: thánh nhân trong Tiểu Thừa là bậc chứng
Tứ Quả. Thánh nhân trong Ðại Thừa là bậc chứng từ quả
Thập Phát Thú trở lên. Các bậc này đều có lợi ích cho
thế gian nên đáng lý phải hết lòng cung kính tôn trọng cúng
dường. Nếu nhẫn tâm giết hại các ngài, đương nhiên tạo
thành tội nghịch rất lớn.
Trên
thế gian này, người nào phạm tội thất nghịch nói trên,
không hẳn phạm cả bảy tội, chỉ cần phạm một trong bảy
tội nghịch, cũng không nên truyền trao giới pháp cho người
ấy vì người ấy hiện đời không thể đắc giới.
Tại
sao vậy?
Vì
bổn nguyên tâm địa dù là bình đẳng, thánh phàm không sai
khác, thiện ác không phân chia, nhưng người đã tạo tội
thất nghịch, đã tự hành động trái với Bổn Nguyên Tâm
Ðịa của mình, nên giới thể không thể phát sanh, giới thiện
cũng không thể sanh khởi, cho nên không thể đắc giới.
Trừ
những người tạo tội thất nghịch, ngoài ra tất cả những
người khác đều thọ giới, không được có tâm lựa chọn.
Nếu có sự chọn lựa tức là phạm giới này.
Trong
Luật, Ðức Phật cho phép mọi người đều được xuất gia
không phân biệt lựa chọn. Như vậy, theo phép của người
xuất gia, phải làm như thế nào?
Như
có người trước kia làm tôi, làm con, làm tớ v.v... nếu đã
xuất gia rồi mà không biết quy luật của người xuất gia,
cứ tiếp tục đối xử với nhau như đường lối thế tục,
vẫn theo nghi thức của tôi đối với vua, tớ đối với chủ,
con đối với cha v.v...
Ðức
Phật cho điều ấy hoàn toàn là bất hợp pháp, vì trái với
đại đạo xuất thế vậy. Một người khi đã xuất gia rồi,
thì không được trở lại thực hành theo lễ nghi thế tục.
Nên
kinh Ưu Bà Tắc Giới thuyết minh: “Khi ưu bà tắc, ưu bà
di muốn thọ phép Tam Quy Ngũ Giới, trước phải trình thưa
và lễ bái quân vương, phụ mẫu, quyến thuộc cùng tổ tiên
quá cố trong gia đình, rồi sau mới có thể cầu thọ Tam Quy
Ngũ Giới”.
Còn
người xuất gia, ngay lúc xuất gia đã thực hành như vậy
rồi, nên khi thọ Ðại giới không được thực hành như vậy
nữa. Chỉ lấy Ðạo làm trọng và phải vâng giữ theo phép
của người xuất gia, cho nên không được lễ bái quân vương,
cũng không được lễ bái cha mẹ. Vì người xuất gia đã
xa lìa niệm quyến thuộc nên không được bày tỏ lễ kính
trọng.
Ngay
cả đến các quỷ thần cũng không được lễ bái. Vì một
người đã xuất gia không còn có tâm cầu xin, van vái quỷ
thần, phải biết rằng: một người đã xuất gia dù chưa
chứng thánh đạo, nhưng đã là một trong Tam Bảo. Thiên ma
thấy đều sanh tâm sợ sệt. Chư Thiên Ðế Thích thấy đều
phát tâm thành kính quy y. Thế nên, không được đối với
lục thân, quỷ thần lễ kính.
Nếu
trái phạm, lễ kính lục thân, quỷ thần thì làm mất hẳn
sự tôn nghiêm của ngôi Tăng Bảo, làm cho ngôi Tam Bảo không
được kiện toàn. Bấy giờ, thế gian này biến thành cảnh
đêm trường tăm tối, đầy hắc ám, không một ánh quang minh
và hàng nhân thiên biết dựa vào đâu để cầu giải thoát?
Quân
vương, phụ mẫu đối với chúng ta ân đức không gì lớn
hơn, nên bất kỳ xuất gia hay tại gia đều phải tận tâm
báo đáp. Ðây cũng là việc thiên kinh địa nghĩa, không thể
phủ nhận. Nhưng sự báo đáp của người xuất gia không phải
theo hình thức lễ kính của người thế tục, mà là phải
đúng như pháp tinh tấn tu hành. Lại phải thay thế quân vương,
phụ mẫu lễ bái Tam Bảo, cầu nguyện cho quân vương, phụ
mẫu thân tâm được khang kiện an vui. Ðấy mới là tận trung
tận hiếu, là đại lễ kính của người xuất gia.
Nếu
đem so sánh với tinh thần trung hiếu theo quan niệm thông thường
của thế gian thì thật là khác biệt. Thế mà có nhiều người
không hiểu được ý nghĩa đại trung, đại hiếu của Phật
pháp, vội cho rằng Phật pháp không quân vương, phụ mẫu.
Thật là sai một ly đi một ngàn dặm vậy. Quân vương, phụ
mẫu hãy còn không lễ bái thì với quỷ thần dĩ nhiên không
cần nói. Nếu Phật tử còn thích lễ kính chư thiên, quỷ
thần thì có khác gì ngoại đạo và còn tư cách gì để gọi
là Phật tử?
Nên
kinh Phương Ðẳng dạy: “Người Phật tử không được cúng
tế, lễ bái quỷ thần, nhưng cũng không được phép có tâm
khinh khi quỷ thần”.
Ðối
với Phật tử tại gia, trong kinh Ưu Bà Tắc dạy rằng: “Nếu
ưu bà tắc vì thân mạng và trong gia đình mà cúng tế quỷ
thần thì vẫn được và không mất giới thể. Còn nếu có
tâm chí thành cung kính lễ bái quỷ thần, ngoại đạo thì
bị mất giới”.
Theo
lời dạy trên, thì cúng tế là một việc mà lễ bái là một
việc. Dù trong kinh Phật cho phép cúng tế nhưng chỉ được
dùng hương, hoa, trà quả v.v... chứ không được sát sanh hại
vật!
Người
phát tâm thọ Bồ Tát giới chỉ cần có thể hiểu được
lời nói của Pháp Sư, đều được thọ giới, bất kỳ hạng
người nào. Vì thế, nếu khi có người từ trăm ngàn dặm
đến cầu pháp, vị Pháp Sư làm thầy truyền giới phải sốt
sắng truyền giới pháp cho người ấy, Người cầu giới pháp
từ trăm nghìn dặm đến là chứng tỏ tâm chí thành tha thiết
cầu pháp của người ấy. Nếu Bồ Tát vì tâm bất thiện
hay do sân tâm giận ghét mà không mau mắn truyền giới Bồ
Tát cho người ấy, thế là phụ lòng thành của người và
làm thối thất Phật chủng của họ. Tội lỗi ấy không phải
lớn hay sao? Vì thế nên phạm khinh cấu tội.
Nên
biết Bồ Tát đại giới vốn là giới mà tất cả chúng sanh
đều nên bẩm thọ. Vì thế, người nào có tâm muốn thọ
thì bổn phận vị Bồ Tát làm giới sư phải cho họ thọ
giới, không được bỏ qua mà trái với từ ý của người
Phật tử vậy.
