B.2.2.41.
VỊ LỢI TÁC SƯ GIỚI
(giới
vì lợi mà làm thầy)
Kinh
văn
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử giáo hóa nhân khởi tín tâm...” cho
đến câu “phạm khinh cấu tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
Phật tử giáo hóa người sanh lòng tin tưởng pháp Ðại Thừa
hay Bồ Tát làm Pháp Sư giáo giới cho người. Lúc ấy, có
người muốn thọ giới Bồ Tát, nên bảo người ấy thỉnh
cầu đại sư Hòa Thượng và A Xà Lê, và phải hỏi người
ấy có phạm tội thất nghịch không? Nếu người ấy hiện
đời có phạm tội thất nghịch, thời Pháp Sư không được
cho người ấy thọ giới. Nếu trường hợp không phạm tội
thất nghịch thì cho thọ giới. Nếu phạm một, hai hoặc ba...
trong số mười giới Trọng thì bảo người ấy phải sám
hối trước tượng Phật và Bồ Tát. Ngày đêm sáu thời tụng
giới Bồ Tát, tha thiết đảnh lễ Tam Thế chư Phật, cho đến
khi được thấy hảo tướng. Sám hối như thế trong bảy ngày,
mười bốn ngày, hăm mốt ngày, nhẫn đến trọn năm mãi đến
chừng nào thấy được hảo tướng. Sau đây là những trường
hợp gọi là hảo tướng: thấy Phật đến xoa đầu mình,
thấy quang minh, thấy hoa báu v.v... và các thứ cảnh tượng
tốt lạ. Thấy được những hảo tướng ấy là triệu chứng
tội đã tiêu diệt. Nếu không được thấy hảo tướng, dù
có sám hối cũng vô ích. Vì người này hiện đời không thể
nào đắc giới, nhưng được tăng sự lợi ích thọ giới.
Nếu
là người phạm một hay nhiều giới trong số bốn mươi tám
giới khinh, đối trước Tam Bảo sám hối thời đặng tiêu
diệt tội lỗi, không phải như trường hợp thất nghịch.
Vị
Pháp Sư giáo giới phải hiểu rõ những pháp này. Nếu không
hiểu kinh luật Ðại Thừa, những giới trọng, giới khinh,
hành tướng hay chẳng phải hành tướng, không hiểu Ðệ Nhất
Nghĩa Ðế, tập chủng, trưởng dưỡng tánh, tánh chủng tánh,
bất khả hoại tánh, đạo chủng tánh, chánh pháp tánh, những
quán hạnh đa thiểu xuất nhập trong các pháp đó và mười
chi thiền, tất cả pháp hạnh... nhất nhất đều không thông
hiểu. Trong tình trạng thiếu sự hiểu biết như thế, nhưng
Phật tử vì tài lợi, vì danh tiếng cầu việc sai quấy, cầu
số lượng nhiều, tham tài lợi, vì danh tiếng cầu việc sai
quấy, cầu số lượng nhiều, tham đệ tử đông nên giả
bộ mình là người hiểu biết tất cả kinh luật để được
nhận cúng dường. Ðó là tự dối mình, dối người. Nếu
cố làm giới sư truyền giới cho người, Phật tử này phạm
khinh cấu tội.
Lời
giảng
Chính
mình quả thật có chỗ nhận thức rõ ràng đối với kinh
luật Ðại Thừa, mà khi có người đến cầu pháp bạn lại
không chịu truyền trao, như thế đương nhiên là không được.
Còn tự mình thật không có tài đức, lại thích làm thầy
người một cách miễn cưỡng, cũng là điều không đúng.
Chúng
ta hãy nghĩ: Nếu những điều trì phạm trong kinh luật Ðại
Thừa dạy mà hoàn toàn không thông suốt, thì vị hành giả
làm sao có thể làm thầy cho người? Sự tu hành có thành tựu
mới có thể nói đến việc độ người. Còn quả thật mình
không biết gì, mà dám nói dối là hiểu biết tất cả thì
chẳng những không ích lợi cho người, mà chính mình cũng
bất lợi. Ðó là điều tuyệt đối không nên làm. Vì như
thế sẽ làm cho chánh pháp của Như Lai không được hoằng
truyền chính xác.
Trải
qua năm tháng dài lâu, chánh pháp của Từ Phụ sẽ bị mai
một. Hơn nữa, truyền trao giới pháp sai lầm, người thọ
giới không hiểu cứ tin đó là Bồ Tát đại giới, nên cứ
y theo đó mà thực hành. Họ không biết rằng thực hành như
vậy là hoàn toàn phi pháp và vô ý nghĩa. Thế là bạn đã
sai lầm dẫn dắt chúng sanh khiến chúng sanh không được đến
nơi chân thật giải thoát. Trường hợp như vậy thử hỏi
bạn có tội hay không?
Vì
tham cầu danh lợi mà làm việc sai lầm như thế, tự mình
trở lại phải bị hậu quả khốc hại. Nên trong kinh Hư Không
Tạng dạy: “Danh dự và lợi dưỡng là nguồn gốc các tội
ác”. Thật là lời vàng ngọc không sai mảy may.
Cổ
đức cũng dạy: “Tự mình thực không hiểu rõ, chỉ vì mong
được tiếng khen mà lừa mình, lừa người, tội không phải
nhỏ. Dù rằng có thực hiểu biết, nhưng nếu vì mong được
cúng dường làm hại mình, hại người, lỗi không phải nhẹ.
Như thế thực là không phải tư cách hóa đạo chúng sanh và
cũng là rất trái với hạnh tài thí, pháp thí”.
Lời
dạy trên có giá trị vô cùng, nên những ai thích là thầy
người, phải nên học thuộc và suy nghĩ kỹ.
Giới
này thuộc về tội khinh cấu, nhưng có mức độ nặng, nhẹ
khác nhau. Căn cứ vào sự không hiểu biết của bạn nhiều
hay ít, chúng sanh được hóa độ thuộc về hạng lợi căn
hay độn căn, tham tâm của bạn lớn hay nhỏ, giới pháp đã
truyền trao đủ hay không?
Nếu
có sự hiểu biết quá kém, chúng sanh được hóa độ là những
người lợi căn, bạn có tham tâm lớn, truyền giới đủ,
thì bị kết tội nặng; bằng ngược lại thì tội nhẹ hơn.
Trường
hợp học vấn của mình tuy chưa thành tựu, nhưng có người
đến thỉnh cầu giới pháp quá khẩn thiết, nếu không phải
vì tâm mong cầu lợi dưỡng mà truyền trao giới pháp cho người
thì không phạm tội.
Giới
này cả Ðại, Tiểu Thừa đều phải vâng giữ, còn thất
chúng Phật tử cốt yếu chỉ có 2 chúng tỳ kheo và tỳ kheo
ni là phải tuân giữ. Năm chúng kia vì không có nhiệm vụ
truyền trao giới pháp, nên không thuộc phạm vi của giới
này.
Nếu
đem phối hợp với Tam Tụ Tịnh Giới thì có sự tương ứng
như sau:
-
Không vì danh dự, lợi dưỡng thuộc về Nhiếp Luật Nghi Giới.
-
Nhất nhất mọi giới luật đều thông hiểu là Nhiếp Thiện
Pháp Giới.
-
Dạy người phát tâm tin tưởng giới pháp Ðại Thừa là Nhiếp
Chúng Sanh Giới.
Ðức
Phật đối với đại chúng dạy rằng: “Nếu là một Phật
tử thọ Bồ Tát giới, lúc hành hạnh lợi người, trước
tiên phải nhận định tín tâm là căn bản tối yếu. Vì tín
tâm là nền tảng đi vào Phật pháp, là người đứng đầu
để tiến lên thánh đạo, nên giáo hóa người sanh lòng tin
tưởng pháp Ðại Thừa là điều cần yếu không thể thiếu
được”.
Ở
đây nói tín tâm chính yếu là tin rằng tâm mình có thể làm
Phật. Những người muốn thọ giới, điều kiện trước tiên
là phải tín tâm ấy. Khi đã phát tín tâm rồi thì muốn pháp
lành từ đó phát sanh, chúng sanh cũng từ đó mà có thể độ,
Phật đạo cũng từ đó mà có thể thành.
Phải
biết rằng: Chúng sanh dù bên trong sẵn có Phật tánh chủng
tử, nhưng nếu không được gặp chư Phật, Bồ Tát, cùng
những lời dạy trong kinh luật và thiện tri thức dạy bảo,
dẫn dắt để phát khởi tín tâm, lại tự cho rằng chúng
sanh tự nhiên có thể thành Phật, thì nhất quyết không bao
giờ có đạo lý ấy.
Thọ
Bồ Tát giới cùng tỳ kheo giới có điểm bất đồng:
-
Giới tỳ kheo thì ở trong tăng đoàn mà thọ, nên phải có
thập sư hiện tiền, nếu không thì không thể thọ giới.
-
Giới Bồ Tát ở trước thập phương chư Phật, Bồ Tát mà
thọ.
Vì
thế, vị Hòa Thượng có nhiệm vụ tuyên giới chỉ tuyên
đọc giáo giới, nghĩa là vị Hòa Thượng vâng lời Phật
dạy, tuyên đọc khoa nghi giáo giới cho hàng hậu học. Thế
nên một vị Bồ Tát làm Pháp Sư giáo giới cho người, nếu
lúc thấy có người muốn thọ giới Bồ Tát, trước tiên
nên bảo người ấy thỉnh hai Ðại Sư, tức là cung thỉnh
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật làm Hòa Thượng Bổn Sư đắc
giới, thỉnh Nhất Sanh Bổ Xứ Di Lặc Bồ Tát làm giáo thọ
A Xà Lê.
Tại
sao không thỉnh Yết Ma và tôn chứng?
Vì
Bổn Sư Thích Ca là Phật hiện tại, Di Lặc Bồ Tát là Phật
tương lai, tượng trưng hiện tiền thọ Bồ Tát giới là nhân,
tương lai thành Phật là quả. Nhân quả đầy đủ nên Yết
Ma và Tôn Chứng giảm bớt, không cần thỉnh.
Lúc
làm lễ truyền giới ở trước hình tượng Phật, Bồ Tát
truyền trao giới pháp cho người thọ giới, vị Pháp Sư giáo
giới nên ngồi một bên, không được ngồi quay lưng vào tượng
Phật, Bồ Tát. Tất cả mọi người đều cần phải đúng
như pháp, không được trái với thánh giáo của Như Lai, để
tránh cho người thọ giới trọn đời không đắc giới.
Vị
Hòa Thượng truyền giới đã dạy người thọ giới lễ thỉnh
hai Ðại Sư trước rồi, kế tiếp phải ở trước hai Ðại
Sư, hỏi người thọ giới rằng: “Người có phạm tội thất
giá không?”
Ở
đây nói tội Thất Giá là tội Thất Nghịch trong giới trước
đã nói.
Nhưng
vì sao gọi là Giá Tội?
Vì
tội này làm chướng ngại thánh đạo không thể phát sanh
nên gọi là Giá, và vì tội ác này nghịch với bổn nguyên
tâm địa nên gọi là Nghịch. Nếu người thọ giới ấy hiện
đời có tội Thất Giá thì vị Bồ Tát làm Pháp Sư giáo giới
không nên cho người ấy thọ Bồ Tát đại giới. Nếu người
ấy hiện đời không có tội Thất Giá thì vị Pháp Sư giáo
giới được quyền cho người ấy thọ Bồ Tát đại giới.
Nếu
có người đã thọ Bồ Tát đại giới này, nhưng về sau hủy
phạm mười giới trọng thì phải làm sao?
Ở
đây nói “phạm mười giới trọng” không phải là phạm
tất cả mà là phạm một số trong mười giới vậy. Tuy phạm
trọng giới, nhưng Ðức Phật đại từ bi, không nỡ để
cho chúng sanh phạm giới kia, vì việc phạm giới này mà phải
bị luân trầm, nên Ngài đặc biệt khai ra một pháp môn phương
tiện, nghĩa là phải bảo người phạm trọng giới ấy thành
tâm sám hối để được tiêu trừ trọng tội đã phạm.
Nếu
không ân cần khẩn thiết sám hối thì do những tội nghiệp
đã gây ra, sau khi xả báo thân, chắc chắn phải bị đọa
tam đồ muôn kiếp, không có thời kỳ nào được thoát khỏi.
Về
việc sám hối phải làm thế nào?
Phải
ở trước hình tượng Phật, đúng theo pháp mà sám hối. Sám
hối không phải chỉ thực hành một lần là đủ, mà phải
mỗi ngày đêm sáu thời, dùng tâm chí thành khẩn thiết, tụng
mười giới trọng, bốn mươi tám giới khinh này. Phải biết
rõ giới của mình đã phạm và tướng tội của nó, phải
sanh tâm thật hổ thẹn và ân cần sám hối, mong mau được
khôi phục giới thể thanh tịnh.
Ngoài
việc tụng giới còn phải tha thiết đảnh lễ tam thế thiên
Phật. Tam thế thiên Phật nghĩa là ba đời đều có một ngàn
Ðức Phật. Cử chỉ tha thiết là hình ảnh người Phật trong
lúc lạy Phật, vì trót đã phạm giới, hết sức thành khẩn
chí thiết, dường như cứu lửa cháy đầu, như non Thái Sơn
sụp đổ, gieo năm vóc xuống đất, xưng niệm hồng danh chư
Phật, nghĩ nhớ bao nhiêu thống khổ của tội nhân trong địa
ngục, phát Bồ Ðề tâm mong cầu được thấy hảo tướng.
Sám
hối đỉnh lễ chư Phật như vậy, nếu trong bảy ngày không
thấy được hảo tướng thì phải tiếp tục sám hối mười
bốn ngày, hai mươi mốt ngày. Nếu vẫn không được thấy
hảo tướng thì phải tiếp tục sám hối nhẫn đến trọn
năm.
Nói
“hảo tướng” là chỉ cho điều gì?
Là
trong lúc tụng giới, hoặc trong khi lễ Phật, hay lúc tọa
thiền, hoặc trong giấc mơ thấy Phật đến xoa đầu mình,
hoặc thấy quang minh chiếu soi trên thân mình, hoặc thấy hoa
báu rải khắp tịnh địa, cùng thấy những cảnh tượng tốt
lạ khác.
Khi
được thấy những hảo tướng nói trên thì chứng biết tội
phạm trọng giới đã được tiêu diệt. Tội đã được trừ
diệt thì giới thể xa lìa các sự ngăn che, mới được trở
lại thanh tịnh.
Trong
lúc trường kỳ lễ Phật tụng giới, nếu không được thấy
hảo tướng hiện tiền thì tội trọng đã phạm chưa tiêu
diệt. Do đó, giới thể sẵn có chưa khôi phục, tất cả
thiện giới cũng không sanh, nên dù có sám hối vẫn vô ích.
Vì thế người này hiện đời cũng không thể đắc giới.
Tuy
nói “vẫn vô ích”, nhưng thực ra không phải hoàn toàn không
lợi ích, hoặc vĩnh viễn không được lợi ích, nhưng được
tăng ích lợi thọ giới. Nghĩa là hiện tại dù không đắc
giới, nhưng nhờ công đức lễ Phật sám hối, có thể tăng
trưởng sự lợi ích đắc giới cho tương lai. Cốt yếu là
tâm sám hối này không ngừng nghỉ, mãi tiếp tục ân cần
tha thiết, niệm niệm nối luôn. Sám hối đã trải qua ba năm,
năm năm, cho đến tám năm, mười năm một khi được thấy
hảo tướng thì liền được đắc giới.
Thấy
được hảo tướng là triệu chứng diệt tội, nhưng chớ
nên sanh tâm chấp trước hảo tướng. Vì nếu có tâm chấp
trước thì chẳng những tội phạm giới khó diệt trừ, lại
còn bị ma thừa dịp phá rối. Như thế thật vô cùng bất
lợi cho mình.
Vì
thế khi chưa thấy hảo tướng, phải hết lòng mong cầu được
thấy. Nhưng khi được thấy rồi, không nên sanh tâm chấp
trước.
Người
đã thọ Bồ Tát đại giới, nếu không phạm mười giới
trọng mà chỉ phạm bốn mươi tám giới khinh thì phải giải
quyết bằng cách nào?
Ðiều
này chỉ cần bảo người ấy đối thú sám hối. Nghĩa là
đối trước mặt một vị Bồ Tát tỳ kheo thanh tịnh mà tự
thú tội lỗi của mình, phát lồ sám hối, từ đó trở đi
thề không trái phạm thì tội ấy liền được tiêu diệt,
không giống trường hợp phạm tội trọng Thất Giá, phải
thấy hảo tướng thì tội mới được trừ diệt.
Ðiều
rất quan trọng là vị Pháp Sư giáo giới, đối với những
pháp này thuận cho người sám hối hay không sám hối, có thể
đắc giới hay không đắc giới v.v... nhất nhất cần phải
hiểu rõ mới có thể làm sư phạm cho người.
Ở
đây nói “khéo hiểu rõ nghĩa” là phải khéo léo vì người
phạm tội giảng giải chi tiết pháp thức sám hối, tuyệt
đối không được giảng qua loa, lấy lệ, để cho người
phạm tội không bị rơi vào trường hợp không biết phải
sám hối như thế nào. Vị Bồ Tát làm Pháp Sư giáo giới
cho người nếu không hiểu kinh luật Ðại Thừa, các giới
khinh, giới trọng, phải là hành tướng hay không phải là
hành tướng, thì điều đó nhất quyết là không thể được.
“Tướng
khinh” là chỉ cho tướng trạng của giới khinh. Nếu có vi
phạm thì đối thú sám hối liền được thanh tịnh.
“Tướng
trọng” là chỉ tướng trạng của giới trọng. Nếu đã
vi phạm cần phải sám hối cho thấy hảo tướng thì tội
lỗi mới được diệt trừ.
Làm
một vị Pháp Sư giáo giới cho người, với những việc ấy
cần phải phân biệt cho rành rẽ. Không được lẫn lộn cho
khinh là trọng, trọng là khinh. Lại cũng không được lầm
lẫn phải cho là không phải, không phải cho là phải, để
đến nỗi dẫn dắt hành giả một cách sai lầm.
Vị
Pháp Sư giáo giới đối với bốn điều khinh, trọng, phải,
không phải nói trên, phải biệt biện phân tích cho rõ ràng,
không được lộn xộn. Ðấy gọi là “khéo hiểu danh tướng
của giới pháp”. Nếu tội khinh cho là trọng, tội trọng
cho là khinh, hoặc phạm nói không phạm, không phạm nói phạm
thì không thể giúp cho người quyết nghi tiêu tội, làm cho
thân tâm hành giả không được thanh tịnh, lỗi ấy không
phải nhẹ!
“Không
hiểu Ðệ Nhất Nghĩa Ðế” như trong bộ Bồ Tát Giới Sơ
Tân, quyển tám, thuyết minh: “Tâm địa đại giới này bản
thể của nó vắng lặng, chẳng phải trọng, chẳng phải khinh,
nhưng khinh, trọng vẫn rõ ràng. Tánh của nó rỗng sáng, không
phải là phải, không phải là chẳng phải, nhưng phải và
chẳng phải vẫn rõ ràng, vượt ra ngoài hai thế đối đãi
có không mà vẫn song dẫn, song chiếu, hiển bày rõ ràng lý
Trung Ðạo, dứt hẳn sự nghĩ bàn. Cho nên gọi là Ðệ Nhất
Nghĩa Ðế. Ðây gọi là khéo hiểu nghĩa lý của giới (song
dẫn là chỉ cho tự thể của bổn nguyên tâm địa bặt dứt
sự có không. Song chiếu là chỉ cho sự diệu dụng của bổn
nguyên tâm địa có không đều rõ ràng).
Trong
Trí Ðộ Luận nói:
“Thế
nào gọi là Cụ Túc Giới?
Là
Bồ Tát hộ trì Trung Ðạo Ðệ Nhất Nghĩa Ðế giới, dùng
trí huệ Trung Ðạo mà vào khắp các pháp, thì không giới
nào chẳng đủ, nên gọi là Cụ Túc Giới.
Thế
nên vị Pháp Sư làm thầy truyền giới, chẳng những cần
hiểu rõ về giới tướng, lại còn phải hiểu rõ lý Ðệ
Nhất Nghĩa Ðế. Vì nếu không hiểu rõ giới tướng, thì
đối với vấn đề Trì, Phạm, lại càng mù mờ, không biết
thế nào là Trì, thế nào là Phạm. Nếu không hiểu rõ lý
Ðệ Nhất Nghĩa Ðế thì không thể hội được Bổn Nguyên
Tâm Ðịa, chỉ có thể phân biệt được các tướng bên ngoài,
chứ không thể nào chứng được Ðệ Nhất Nghĩa Ðế.
“Tập
chủng tánh” là chỉ cho địa vị Thập Trụ, tức là Thập
Phát Thú Tâm ở trước đã nói. Ðịa vị này lúc đầu từ
Thập Tín mà thú hướng tu tập Chơn Ðế lý. Do tu pháp Không
Quán mà trí huệ được phát khai thành Nhất Thiết Trí, chứng
ngôi vị Bất Thối, nên gọi là Trụ.
“Trưởng
dưỡng tánh” cùng với Tánh Chủng Tánh chỉ cho Thập Hạnh,
tức là Thập Trưởng Dưỡng Tâm. Ðịa vị này từ Chân Ðế
mà vào Tục Ðế, để làm lợi ích cho tất cả chúng sanh,
tiến tu pháp Giả Quán, phân biệt chủng tánh sai khác của
chúng sanh trong thập pháp giới, trưởng dưỡng Thánh Thai,
thấy lý Tục Ðế, pháp nhãn phát khai, thành Ðạo Chủng Trí.
Do địa vị Thập Trụ ở trước mà được ngộ lý Chân Ðế.
Từ đây tinh tiến, thú hướng tu hành cho nên gọi là Hạnh.
“Bất
khả hoại tánh” cùng với “đạo chủng tánh” chỉ cho
Thập Hồi Hướng tức là Thập Kim Cương Tâm ở trước đã
giảng. Ở trong địa vị này, tu pháp quán Trung Ðạo, nhậm
vận thi thiết, vô công dụng đạo (câu này ý nói sự tu tập
của Bồ Tát ở địa vị Thập Hồi Hướng không cần phải
dụng công phu. Việc này không thể dùng phàm trí suy tư được.
Ở đây chỉ tạm dùng thí dụ sự tu tập dụng công và không
dụng công như người đánh máy chữ, hay đi xe đạp, lúc mới
tập thì lưu ý dụng công, khi đã thuần thục thì không cần
dụng công). Hạnh nguyện, sự lý đều dung thông, lưu nhập
trong pháp giới, đem sự tu hướng về lý tánh, cho nên gọi
là Hồi Hướng.
Nhưng
tại sao gọi là Bất Khả Hoại Tánh và Ðạo Chủng Tánh?
Vì
tu hành đến trình độ này, tánh cứng rắn như kim cương
nên gọi là Bất Khả Hoại. Ðầu tiên từ trong Chánh Tu nên
gọi là Ðạo, về sau có thể phát sanh Phật quả nên gọi
là Chủng.
Chánh
Pháp Tánh cũng gọi là Thánh Chủng Tánh, còn gọi là Chánh
Giác Tánh. Là chỉ cho địa vị Bồ Tát Thập Ðịa, Ðẳng
Giác Ðại Sĩ, cùng với quả vị Diệu Giác. Nghĩa là từ
Sơ Ðịa trở đi, tu pháp quán Trung Ðạo, dùng trí để đoạn
nghi hoặc. Mỗi một địa phá một phần vô minh. Ðến Kim
Cương Vị trở về sau, đoạn trừ hẳn vô minh, tức được
thành Phật.
Vị
Bồ Tát làm Pháp Sư truyền trao giới pháp, đối với sáu
tánh trên cần phải hiểu rõ. Nếu không hiểu sự khác nhau
của sáu tánh ấy thì không thể nào chỉ bảo, dẫn dắt cho
hàng tân học Bồ Tát tiến tu.
Hiểu
rõ sáu tánh trên, điều tối yếu là phải hiểu rõ những
“quán hạnh đa thiểu, xuất nhập của các pháp ấy”. Như
ở Tập Chủng Tánh thì tu Không Quán vẫn còn ít. Ðến Trưởng
Dưỡng Tánh mới tu Không Quán nhiều. Ở Tánh Chủng Tánh,
tu Giả Quán còn ít. Ðến Bất Khả Hoại Tánh mới tu pháp
Giả Quán nhiều. Ở Ðạo Chủng Tánh tu pháp Trung Quán vẫn
còn ít. Ðến Chánh Pháp Tánh mới tu pháp quán Trung Ðạo nhiều.
Lại
có chỗ giải thích rằng: Trong Thập Ðịa, từ Sơ Ðịa đến
Tứ Ðịa, tu pháp quán Vô Tướng ít, Hữu Tướng nhiều. Từ
Ngũ Ðịa đến Thất Ðịa thì tu pháp quán Hữu Tướng ít,
quán Vô Tướng nhiều. Từ Bát Ðịa đến Ðẳng Giác, thuần
tu Vô Tướng quán. Ðến quả vị Diệu Giác tức là Nhất
Thiết Trí Quán. Về sự tu thập quán hạnh có sự bất đồng
ít nhiều như thế.
Kinh
văn nói “xuất nhập” nghĩa là xuất định và nhập định
vậy.
“Mười
chi thiền” là mười chi thuộc trong pháp Tứ Thiền gồm:
*
Pháp Sơ Thiền:
-
Giác chi.
-
Quán chi.
-
Hỷ chi.
-
Lạc chi.
-
Nhất tâm chi.
*
Pháp Nhị Thiền:
-
Nội tịnh chi.
*
Pháp Tam Thiền:
-
Xả chi.
-
Niệm chi.
-
Huệ chi.
*
Pháp Tứ Thiền
-
Bất khổ bất lạc chi.
Mười
pháp trên là pháp dụng trong lúc tu Thiền Quán, nên gọi là
mười chi Thiền.
Tứ
Thiền dù là Thiền Ðịnh thế gian, nhưng nương đó mà vào
giai cấp địa vị Hiền Thánh. Nên một vị Bồ Tát làm Pháp
Sư truyền giới, đối với mười chi Thiền ấy, cần phải
có chỗ nhận thức để chỉ dạy dẫn dắt cho hàng tân học
Bồ Tát.
“Tất
cả pháp hạnh” là tổng kết tất cả pháp môn tiến tu công
hạnh đã nói trước. Một vị Bồ Tát làm thầy truyền giới
pháp, theo đúng lý mà nói, phải có bổn phận hiểu rõ tất
cả pháp môn quán hạnh này.
Nếu
với pháp tiến tu thậm thâm vi diệu này, mỗi mỗi đều không
thông hiểu, tức là không hiểu rõ nghĩa thú trong các pháp
ấy, thì nên sanh lòng hổ thẹn không hết, sao lại còn dám
đi làm sư phạm cho người?
Nếu
nói về công hạnh tự lợi thì với hạnh tự lợi còn làm
không xong, thì làm sao nói đến việc lợi tha? Nếu không hiểu
mà miễn cưỡng đi làm việc lợi tha, chẳng khác nào một
người mù dẫn một đoàn người mù, chỉ dắt nhau đi vào
hầm lửa mà thôi.
Nhưng
nếu làm một vị Bồ Tát vì tài lợi, danh tiếng, không chịu
y theo giới luật tu hành để thọ sự cúng dường của đàn
việt. Trái lại, chỉ cầu quấy, cầu nhiều, tham đệ tử
đông, trong lúc chính mình không hiểu tất cả kinh luật, mà
lại giả bộ thông hiểu.
Thử
tìm xét kỹ nguyên nhân giả dối đó là do đâu?
Chính
là do ý muốn được cúng dường. Người làm như vậy chính
là tự dối mình và cũng là khinh dối người khác. Thế nên
người làm giới sư truyền giới cho người, nếu cố làm
như vậy đương nhiên phải phạm khinh cấu tội.
Trong
kinh Phật thường răn dạy các đệ tử rằng: “Tỳ kheo các
ông phải nghiêm trì giới pháp thanh tịnh, không nên tham cầu
lợi dưỡng. Ðối với người, các ông nói pháp như thế
nào thì phải thực hành như thế ấy”. Người thực hành
được như thế mới được Ðức Phật cho phép thuyết pháp.
Ngược lại, nếu có tâm mong cầu lợi dưỡng, muốn làm thầy
người, chẳng những không thể làm sư phạm cho người, mà
chính mình cũng không thể hộ trì giới hạnh được thanh
tịnh vậy”.
