B.2.2.45.
BẤT GIÁO HÓA CHÚNG SANH GIỚI
(giới
không giáo hóa chúng sanh)
Kinh
văn
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử thường khởi Ðại Bi tâm...” cho
đến câu “...phạm khinh cấu tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
là Phật tử nên có lòng đại bi, khi vào trong tất cả nhà
cửa, thành ấp:
-
Nếu gặp loài súc sanh, phải xướng lên rằng: Các ngươi
đều nên thọ Tam Quy và Thập Giới.
-
Nếu gặp trâu bò, chó, ngựa, dê, heo v.v... nên tâm nghĩ, miệng
nói: Các ngươi là súc sanh nên phát Bồ Ðề tâm.
-
Khi Phật tử đến núi rừng, đồng nội, tất cả các nơi,
đều nên làm cho cả thảy chúng sanh phát Bồ Ðề tâm.
Nếu
Phật tử không phát tâm giáo hóa chúng sanh thời phạm khinh
cấu tội.
Lời
giảng
Nếu
nói về hạnh “thượng cầu Phật đạo” thì phải luôn
có tâm tôn trọng Tam Bảo, còn nói về hạnh “hạ hóa chúng
sanh” thì quyết không được không tích cực hóa độ chúng
sanh.
Bồ
Ðề sở dĩ mệnh danh là Bồ Tát do chính phát đại Bồ Ðề
tâm. Vì Ðại Bồ Ðề tâm là động lực độ sanh và thành
Phật. Nếu không phát Bồ Ðề tâm thì không thể phổ độ
tất cả chúng sanh và không thể viên thành vô thượng Phật
quả.
Bồ
Tát nếu không hóa độ chúng sanh tức là trái ngược với
Bồ Ðề tâm đã phát. Chẳng những chính mình phát tâm Bồ
Tát hóa độ chúng sanh, lại còn phải giáo hóa tất cả chúng
sanh đều phát tâm Bồ Ðề. Nên kinh Pháp Hoa nói:
Nhược
dĩ Tiểu Thừa hóa,
Ngã
tắc đọa xan tham,
Thử
sự vi bất khả.
Dịch:
Nếu
đem Tiểu Thừa độ,
Ta
có lỗi xan lẫn pháp,
Việc
này không thể được.
Ðức
Phật ra đời hóa độ chúng sanh đều không dùng pháp Tiểu
Thừa để giáo hóa dẫn dắt. Vì thế, người Phật tử phải
thực hành theo tinh thần cao siêu của Ðức Phật. Tức là
phải dùng pháp Ðại Thừa hóa độ chúng sanh, tuyệt đối
không được đem pháp Tiểu Thừa mà giáo hóa. Có thực hành
được hạnh “thượng cầu, hạ hóa” mới được gọi là
Bồ Tát. Nếu đi ngược lại với tinh thần trên, thì Danh
và Thật trái nhau. Danh và Thật đã trái, thì còn tư cách
gì gọi là đại sĩ?
Việc
“thuyết pháp giáo hóa chúng sanh” thực hết sức quan trọng.
Vì chúng sanh dù có sẵn Phật tánh, nhưng nếu không đem ngôn
âm thánh giáo mà hóa độ, thì chúng sanh không thể thành Phật.
Vì thế, Bồ Tát cần phải thuyết pháp giáo hóa chúng sanh.
Ðức
Phật đối với đại chúng dạy rằng: “Nếu Phật tử đã
thọ Bồ Tát giới, phải thường sanh khởi tâm Ðại Bi”.
Vì nếu không khởi tâm Ðại Bi, thì không nương vào đâu
để hóa độ chúng sanh. Làm một vị Bồ Tát, nhất quyết
phải lấy tâm hóa độ chúng sanh làm bản hoài. Vì chúng sanh
bị bao nhiêu thống khổ buộc ràng, nên mới cần phải nhờ
Bồ Tát hóa độ. Vì ý niệm bạt trừ thống khổ cho chúng
sanh rất thiết tha, nên Bồ Tát phải sanh khởi tâm Ðại Bi
và phải khởi tâm liên tục, không được gián đoạn, dù
chỉ trong giây lát, nên trong kinh văn Phật dạy là “thường”.
Bồ Tát cần phải ban vui cho tất cả chúng sanh.
Tại
sao ở đây chỉ nói thường khởi Ðại Bi mà không nói là
Ðại Từ?
Nên
biết ban vui không bằng cứu khổ, vì cứu khổ là việc rất
khẩn thiết. Hơn nữa, khi khổ quả đã bị bạt trừ rồi,
thì tâm tự nhiên được an vui, nên không nói “thường khởi
đại từ”.
Bồ
Tát vì muốn bạt khổ cho chúng sanh mà du hành giáo hóa trong
nhân gian. Khi vào trong tất cả nhà cửa, thành ấp, thấy tất
cả chúng sanh phải xướng lên rằng: “Các người đều nên
thọ Tam Quy và Thập Giới”. Kinh văn trên đây nói “chúng
sanh” là bao hàm tất cả chúng sanh trong lục đạo. Vì Bồ
Tát chưa chứng được thiên nhãn thông, nên đối với chúng
sanh trong hai ác đạo: ngạ quỷ và địa ngục cũng như chư
thiên, a tu la, mắt thường không dễ gì thấy được, mà chỉ
thấy được chúng sanh ở nhân đạo và hàng súc sanh mà thôi.
Hiện
tại ở đây, trước tiên muốn độ cho chúng sanh nhân đạo
phát Bồ Ðề tâm và vì những người có giai cấp tôn, ty,
quý tiện khác nhau, cho nên dùng chữ “tất cả” để chỉ.
“Nên
xướng lên rằng” là lời kêu gọi sự thức tỉnh. Vì trong
bát phước điền của chúng sanh xưa nay đã sẵn có giới
Phật tánh, nhưng vì quý vị từ vô thỉ đến ngày nay đi
ngược lại giác tánh mà hiệp với trần lao, bị lục trần
che đậy cho nên không được bẩm thọ đại giới này mà
bước lên quả vị tối cao vô thượng Bồ Ðề. Nay tôi vì
quý vị lược thức tỉnh tất cả một phen. Quý vị phải
tự giác ngộ lấy giới Phật tánh này, xưa nay đã sẵn có
nơi mình. Chỉ cần quý vị thuận theo giác tánh, tức đã
đắc giới, không phải là việc khó khăn... Miệng xướng
khuyên bảo thọ Tam Quy, Thập Giới, dù không quyết định
mọi người đều được bẩm thọ. Vì Tam Quy, Thập Giới
mọi người đều tự sẵn có, không phải do tìm cầu bên
ngoài mà được, và chỉ có quy giới này là pháp chân thật,
ngoài ra có thể nói toàn là hư vọng mà thôi.
Kinh
Anh Lạc dạy: “Vị Pháp Sư trước tiên phải vì người phát
tâm thọ giới giảng nói khiến cho họ sanh tâm ưa thích, rồi
sau đó mới truyền trao quy giới”.
Thế
nên, điều tối yếu là vị giới sư phải vì người phát
tâm thọ giới, giảng rõ ý nghĩa của Tam Quy: quy y Phật, quy
y Pháp, quy y Tăng. Tam Bảo là phước điền chân thật quý
báu của thế gian, nên chúng sanh nào có tâm thành kính quy
y thì được Tam Bảo cứu hộ và được tăng trưởng phước
đức.
Nên
trong kinh Chiết Phục La Hán nói: “Vị thiên tử cõi trời
Ðao Lợi lúc sắp mạng chung, dùng thiên nhãn quán sát thấy
mình sau khi xả báo thân bị đọa làm heo. Thiên tử đau khổ
vô cùng, bèn suy nghĩ: ‘Trên cõi trời, dưới thế gian, không
ai có thể cứu khổ chúng sanh ngoại trừ Ðức Phật’. Nghĩ
như vậy, liền đến quỳ dưới chân Phật cầu cứu hộ.
Ðức Phật dạy rằng: “Con hãy thành tâm quy mạng Tam Bảo
Phật, Pháp,Tăng. Thiên tử vâng lời Phật, trong bảy ngày
đêm tinh cần quy y Tam Bảo, nhờ phước đức ấy được thoát
khỏi thai heo, sanh làm con nhà trưởng giả...”
Theo
trên chúng ta thấy Tam Bảo là chỗ quy y của tất cả chúng
sanh, là chiếc bảo thuyền cứu vớt tất cả chúng sanh trong
bể khổ. Tam Bảo là đại từ phụ của chúng sanh, có thể
cứu độ tất cả chúng sanh, không bị đọa lạc vào cảnh
đau khổ, ra khỏi biển khổ sanh tử luân hồi, đến bờ giác
Vô Thượng Bồ Ðề. Thế nên bất cứ chúng sanh nào cũng
đều cần phải quy y Tam Bảo, để cầu thoát ly sanh tử.
“Mười
giới” ở đây nói không phải là mười giới Sa Di thông
thường mà là mười giới vô tận Ba La Ðề Mộc Xoa của
Bồ Tát giới. Bồ Tát vì tất cả chúng sanh xướng lên rằng:
“Quý vị ai cũng sẵn đủ giới Phật tánh, nhưng vì từ
vô thỉ đến giờ mù mờ quên mất, mà luống phải chịu
khổ sanh tử luân hồi. Nay tôi muốn quý vị bẩm thọ mười
giới này, vì mười giới này là cơ bản của Bồ Tát, cũng
là chánh nhân thành Phật. Hôm nay, quý vị muốn thú hướng
đến quả vô thượng, trước tiên phải phát Bồ Ðề tâm,
thọ mười giới này...”
Trong
kinh nói: “Nghe danh tự của Tam Bảo sẽ không bị đọa vào
ác đạo”. Như thế thì quy y Tam Bảo công đức càng thù
thắng hơn.
Không
thọ giới pháp quy y thì không biết tự tánh Tam Bảo. Không
thọ mười giới thì không biết tự tánh giải thoát. Vì thế
vấn đề quy y và thọ giới đối với chúng sanh trọng yếu
vô cùng!
Bồ
Tát du hành giáo hóa trong nhân gian, ngoài việc xướng và khuyên
chúng sanh trong nhân đạo thọ Tam Quy và thập giới, ngay đến
lúc gặp trâu, bò, chó, ngựa, heo, dê v.v... cũng phải tâm
nghĩ, miệng nói như vầy: “Hiện tại các người dù là súc
sanh nhưng cũng có sẵn đủ tánh linh tri giác, chính là tâm
bản giác của giới tánh. Vì mê muội nên bản giác chơn tâm
này trở thành vọng tâm phân biệt. Nay chỉ cần bỏ vọng
thì tức khắc trở về chân”.
Vì
thế, Bồ Tát cần phải đặc biệt giáo hóa tất cả chúng
sanh phát tâm Bồ Ðề. Bồ Ðề tâm chính là giác tâm. Giác
tâm một khi đã phát thì vô minh, vọng niệm tức khắc tiêu
tan. Do đó mà các ngươi có thể vĩnh viễn xa lìa khổ báo
súc sanh. Làm như vậy thật có lợi ích rất lớn cho chúng
sanh.
Có
người hỏi rằng:
-
Súc sanh vốn không hiểu tiếng nói của người, cũng không
thể phát Bồ Ðề tâm, tại sao ở đây lại dạy nói như
vậy thì có lợi ích gì?
Ðáp:
- Sự thật thì đúng như vậy. Ðó là chứng tỏ bi tâm của
Bồ Tát bình đẳng và vì muốn làm viễn nhân cho nhiều kiếp
ở tương lai của tất cả chúng sanh nên đặc biệt nói như
vậy. Hơn nữa, có những loại như loài rồng v.v... trong thời
kỳ thuộc kiếp sơ khai, được gần gũi với nhân thiên nên
có thể hiểu tiếng người (Kiếp sơ là tiểu kiếp tối sơ
khai, khi thế giới mới thành lập). Thế giới có bốn thời
kỳ: Thành, Trụ, Hoại, Không. Mỗi thời kỳ dài 20 tiểu kiếp,
sau khi 20 tiểu kiếp hoại đã mãn, thế giới mới thành lập,
gọi là Kiếp Sơ.
Lại
nữa, súc sanh nghe kinh pháp được lợi ích có thể nói là
rất nhiều. Như vào thời quá khứ, có một vị tỳ kheo ở
trong khu rừng lớn ngày đêm thường tụng kinh, âm thanh thật
hòa nhã thật hiếm có.
Một
hôm, có một con chim đậu trên cây đại thụ nghe tiếng tụng
kinh, sanh tâm kính ngưỡng tột độ. Lúc nó đang chuyên chú
kiền thành nghe thầy tụng kinh, không để ý đến mọi việc
xung quanh, thì một người thợ săn chực sẵn dưới gốc cây,
giương cung bắn chết chim.
Sau
khi chết, chim liền được sanh lên cung trời Ðao Lợi.
Thiên
nhân quán sát thấy tiền thân của mình là một con chim, do
nhờ thiện căn nghe kinh pháp mà được sanh lên cõi trời.
Thiên nhân bèn mang hoa hương thiên giới đến chỗ thầy tỳ
kheo tụng kinh cung kính cúng dường, lễ bái. Thầy tỳ kheo
cảm động trước sự thành tâm của thiên nhân nên lược
giảng pháp yếu, thiên nhân liền chứng quả Tu Ðà Hoàn.
Lại
nữa, khi Phật còn tại thế, một hôm Ngài ngự trong đầm,
gần khu rừng nước Ba La Nại, vì các thiên nhân thuyết pháp.
Lúc
ấy, trên hư không có đàn nhạn năm trăm con đang bay ngang,
nghe âm thanh thuyết pháp của Phật du dương, thanh tao, thân
tâm vô cùng kính mộ. Ðàn nhạn liền đáp xuống chỗ Phật
đang thuyết pháp.
Ngay
lúc ấy, có một thợ săn trông thấy liền bủa lưới và
đàn nhạn vô ý sa vào lưới bị bắt giết. Sau khi xả thân,
chúng đều được sanh cõi trời Ðao Lợi. Năm trăm thiên nhân
liền đem hoa hương thiên giới cúng dường Ðức Phật. Phật
vì các thiên nhân thuyết pháp, tất cả đều chứng Tu Ðà
Hoàn.
Bồ
Tát khi du hành trong nhân gian giáo hóa cũng có lúc đi đến
núi rừng, đồng nội, tất cả những chỗ đi qua đều nên
làm cho tất cả chúng sanh phát Bồ Ðề tâm. Ðoạn kinh văn
cuối cùng này nói Bồ Tát đến nơi nào, thấy chúng sanh,
bất cứ người hay súc vật, thậm chí quỷ thần vô hình,
đều để tâm giáo hóa và khuyên bảo họ phát Ðại Bồ Ðề
tâm, khiến cho tất cả tương lai đều thành Phật đạo.
Phương
tiện giáo hóa chúng sanh như vậy, chẳng những thể hiện
bi tâm của Bồ Tát thật thâm thiết, lại còn thấy rõ sự
hóa độ chúng sanh của Bồ Tát rất rộng lớn. Bản hoài
của đại sĩ lấy việc lợi sanh làm chủ yếu nên cần phải
thực hành như vậy. Vị Bồ Tát nếu không phát tâm giáo hóa
chúng sanh thì phạm khinh cấu tội.
Giới
này thuộc về giá tội, thất chúng Phật tử đồng tuân giữ
và đồng học tập. Còn Ðại Thừa và Tiểu Thừa có sự
phân định khác nhau:
-
Vì hành giả Thanh Văn lấy việc tự độ làm mục đích, không
xem sự lợi tế là bản hoài nên không đi giáo hóa chúng sanh
thì không trái phạm giới luật.
-
Riêng hành giả Ðại Thừa nếu không phát tâm giáo hóa chúng
sanh thì trái phạm. Nhưng trong những trường hợp bản thân
lúc đang bệnh hoạn, hoặc tự mình không hiểu biết, không
có khả năng, hoặc nhận thấy chúng sanh khó hóa độ... Vì
những lý do đó nên không hóa độ chúng sanh cũng không vi
phạm.
Nếu
đem Tam Tụ Tịnh Giới phối hợp với giới này thì có sự
tương ứng như sau:
-
Khuyến hóa chúng sanh thọ Tam Quy thập giới là Nhiếp Luật
Nghi Giới.
-
Khởi tâm đại bi là Nhiếp Thiện Pháp Giới.
-
Giáo hóa chúng sanh là Nhiếp Chúng Sanh Giới.
Với
một giới này, cả Tam Tụ Tịnh Giới đều thâu nhiếp trong
đó, cho nên làm một vị Bồ Tát phải thường khởi tâm Ðại
Bi giáo hóa, phổ độ tất cả chúng sanh khiến tất cả đều
phát Bồ Ðề tâm.
