B.2.2.46.
THUYẾT PHÁP BẤT NHƯ PHÁP GIỚI
(giới
thuyết pháp không đúng pháp)
Kinh
văn
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử thường ưng giáo hóa khởi Ðại Bi
tâm...” cho đến câu “..phạm khinh cấu tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
là Phật tử thường nên có lòng Ðại Bi phát tâm giáo hóa.
Lúc vào nhà đàn việt sang giàu cùng trong tất cả chúng hội,
không được đứng thuyết pháp cho hàng bạch y, phải ngồi
trên tòa cao trước chúng bạch y.
Vị
tỳ kheo Pháp Sư không được đứng dưới đất thuyết pháp
cho tứ chúng. Khi thuyết pháp, vị Pháp Sư ngồi tòa cao, dùng
hương hoa cúng dường, còn tứ chúng, hàng thính giả thời
ngồi bên dưới. Ðối với Pháp Sư phải như là hiếu thuận
cha mẹ, kính thuận sư trưởng như Bà La Môn thờ lửa. Nếu
Phật tử thuyết pháp mà không đúng như pháp thì phạm khinh
cấu tội.
Lời
giảng
Dạy
người phát Bồ Ðề tâm, thú hướng Phật đạo, dĩ nhiên
là điều tối yếu. Dạy người phải hết lòng cung kính,
tôn trọng pháp bảo tột độ cũng là việc làm hết sức
trọng yếu.
Chúng
ta nên biết Ðức Phật trải qua ba vô lượng kiếp, chịu
không biết bao nhiêu tân khổ, siêng năng tu học mới chứng
đắc được pháp bảo. Vì thế tội khinh mạn Pháp Bảo rất
lớn. Chúng ta là Phật tử, đối với Pháp Bảo phải hết
lòng tôn trọng thì mới tránh khỏi lỗi khinh mạn.
Nhưng
thông thường, chúng sanh vì không hiểu nên đối với Pháp
Bảo không biết tôn trọng. Vì vậy, bổn phận người Phật
tử phải vì người giảng rõ, để cho mọi người hiểu rằng
Pháp Bảo thật là hiếm có và rất khó gặp, nên phải hết
lòng tôn trọng mới gieo trồng được thiện căn.
Muốn
cho chúng sanh kính trọng Pháp Bảo, trước tiên người Phật
tử phải kính trọng pháp để làm gương cho chúng sanh. Nếu
tự mình không kính pháp thì dù có giảng nói, khuyến hóa
chúng sanh phải nên quý trọng pháp như thế nào, chúng sanh
cũng chẳng bao giờ vâng theo lời bạn dạy. Hơn nữa, tự
mình kính trọng Pháp Bảo chính là thực hành đúng theo lời
Phật dạy.
Giới
này thất chúng Phật tử đồng học, vì sa di cũng được
cho phép bước lên tòa cao để thuyết pháp. Nhưng sở dĩ trong
kinh chỉ nói tỳ kheo, vì trong thất chúng Phật tử đều lấy
chúng tỳ kheo làm thượng thủ chỉ đạo. Còn chúng tại gia
đối với vai trò làm sư phạm thì rất hiếm. Tuy tại gia
không làm pháp chủ (Pháp Sư thuyết pháp), nhưng lúc giảng
nói một câu, một kệ, cũng phải đúng như pháp, nếu không
đúng pháp cũng bị phạm tội.
Giới
này cả Ðại Thừa lẫn Tiểu Thừa đều bị cấm chế. Nhưng
trong trường hợp người nghe pháp bị trọng bệnh, hoặc vì
thế lực quốc vương khống chế, nên hành giả không đúng
như pháp để thuyết pháp thì không phạm giới.
Ðức
Phật dạy đại chúng rằng: “Nếu là một Phật tử đã
thọ Bồ Tát giới phải thường nên khởi tâm Ðại Bi giáo
hóa”.
Nghĩa
là phải y theo lời Phật dạy đi giáo hóa chúng sanh, khiến
chúng sanh đồng hướng về chân lý, đoạn hoặc, chứng chân.
Ðó là hành vi của Bồ Tát cần phải thực hiện.
Nếu
tâm Ðại Bi không sanh khởi thì hạnh hóa tha khó tiến hành.
Do đó, thường thực hành hạnh giáo hóa chúng sanh hay không,
hoàn toàn căn cứ vào động lực Ðại Bi tâm thúc đẩy như
thế nào?
Thực
hành hạnh Từ Bi vì mục đích lợi sanh, nhất định phải
có tâm tôn kính mới phát sanh pháp lành, không nên có ý niệm
khinh bạc mà sanh tội lỗi. Vì thế, lúc vào nhà đàn việt
thông thường tu phước, hoặc vào nhà quý nhân công khanh,
sĩ hoạn, hoặc vào trong tất cả hàng thứ dân, quần chúng,
Phật tử do tâm Ðại Bi vì chúng tại gia thuyết pháp là điều
rất tốt, nhưng cần phải đúng như pháp mà thuyết, không
được thuyết giảng không đúng tinh thần ý nghĩa của pháp.
Nếu
thuyết pháp không đúng pháp, chẳng những người nghe mắc
tội mạn pháp, mà chính người thuyết cũng mắc tội mạn
pháp. Trái lại, nếu đúng pháp thuyết pháp thì cả người
nghe lẫn người thuyết pháp đều được lợi ích kính pháp
rất lớn.
Về
lễ nghi thuyết pháp phải như thế nào?
Nghĩa
là không được đứng thuyết pháp cho hàng bạch y, phải ngồi
trên tòa cao trước chúng bạch y. Nếu hàng bạch y ngồi mà
mình đứng thuyết pháp là nhất định không được. Phải
biết rằng, quy định như vậy không phải vì người thuyết
pháp có tâm cao ngạo tự tôn, mà để chứng tỏ lòng tôn
trọng Pháp Bảo.
Trong
kinh nói “bạch y” là chỉ cho kẻ thế tục, vì người thế
tục thường thích mặc y phục trắng, nên gọi là “bạch
y”. Vị Bồ Tát tỳ kheo phải ở trước chúng bạch y, không
được ở phía sau. Lúc thuyết pháp phải ngồi trên tòa cao,
không được ngồi chỗ thấp. Nhưng nếu tạm thời khai thị
năm ba câu, thuyết giả và thính giả có thể đứng chung một
chỗ thì không tội, vì sau khi nói vài lời, cả hai đều chia
tay.
Trong
kinh Phạm Võng này chỉ nói về oai nghi thuyết pháp, còn theo
giới luật tỳ kheo và tỳ kheo ni dạy:
-
Người ngồi mà mình đứng thì không được thuyết pháp cho
họ, trừ lúc họ có bịnh phải học.
-
Người nằm mà mình ngồi thì không được thuyết pháp cho
họ, trừ lúc họ có bịnh phải học.
-
Người ngồi ghế mà mình ngồi phông phải ghế thì không
được thuyết pháp, trừ lúc họ có bịnh phải học.
-
Người ngồi chỗ cao mà mình ngồi chỗ thấp thì không được
thuyết pháp, trừ lúc họ có bịnh phải học.
-
Người đi trước mà mình đi sau thì không được thuyết pháp,
trừ lúc họ có bịnh phải học.
-
Người ở chỗ kinh hàng cao mà mình ở kinh hàng thấp thì
không được thuyết pháp, trừ lúc họ có bịnh phải học.
-
Người đi giữa đường mà mình đi trên lề đường thì không
được thuyết pháp, trừ lúc họ có bịnh phải học.
Ðấy
là những lễ nghi tôn trọng Pháp Bảo cần phải thực hiện.
Trong luật Phật dạy phải thực hành như vậy, trừ những
lúc có trọng bệnh. Nhưng chúng ta cần phải phân biệt rõ
ràng, tuyệt đối đây không phải là tướng trạng của người
cống cao, ngã mạn”.
Theo
luật Tăng Kỳ dạy: “Nếu tỳ kheo lúc có duyên sự lo cho
ngôi Tam Bảo, phải đến tiếp xúc với quốc vương, địa
chủ v.v... Nếu các vị ấy thưa rằng: ‘Xin tôn giả hoan
hỷ vì chúng tôi bố thí chút ít Phật pháp, chúng tôi rất
muốn nghe...’ Quý vị ấy dù đang trong tư thế ngồi, nhưng
không nên bảo họ đứng dậy nghe pháp, để tránh sự ngộ
nhận không cần thiết.
Nếu
lúc ấy có người đứng bên cạnh gần đấy, vị tỳ kheo
nên nghĩ trong tâm rằng: “Nay ta vì người đứng này mà thuyết
pháp”, như thế dẫu quốc vương hay địa chủ... ngồi nghe
pháp, vị tỳ kheo vẫn không có tội.
Lại
nữa, trường hợp vị tỳ kheo bị mù mắt, phải có người
cầm gậy dắt đi trước, người ấy muốn nghe pháp, vị tỳ
kheo có vì người ấy giảng nói Phật pháp cũng không có tội.
Hoặc
tỳ kheo lúc đi trên con đường nguy hiểm, đầy nỗi sợ hãi.
Lúc ấy có người cầm đao trượng bảo vệ nói rằng: “Xin
tôn giả vì tôi thuyết pháp, tôi muốn được nghe pháp”.
Trường hợp này dù có thuyết pháp cũng không có tội.
Lại
nữa, tỳ kheo pháp sư không được đứng dưới đất thuyết
pháp cho hàng tứ chúng và người bạch y chưa thọ giới. Nếu
đứng dưới đất thuyết pháp là hoàn toàn bất hợp pháp”.
Như
thế thì phải làm thế nào?
Nghĩa
là khi thuyết pháp, vị Pháp Sư phải ngồi ở trên tòa cao,
trước pháp tọa phải dùng hoa hương cúng dường, để chứng
tỏ hàng thính giả có tâm chí thành thỉnh cầu pháp bảo,
Pháp Sư mới có thể thay thế cho Phật, ứng cơ tuyên dương
chánh pháp.
Phần
tứ chúng thính giả, nhất nhất đều phải theo giai cấp,
thứ tự của mình mà an vị ở dưới, vì quy định bắt buộc
người lãnh thọ chánh pháp phải thực hành đúng như vậy.
Vị Pháp Sư ngồi ở trên tòa cao, với cương vị là người
thuyết pháp, phải theo đúng pháp và hàng thính giả ngồi
dưới ở cương vị người nghe, cũng phải theo đúng pháp.
Ðối
với Pháp Sư phải hiếu thuận như là đối với cha mẹ, vì
Pháp Bảo là cha mẹ Pháp Thân của tất cả chúng sanh. Cho
nên là thính giả phải kính trọng thầy như hiếu thuận đối
với cha mẹ mình, không được sơ suất khinh thường.
“Kính
thuận sư trưởng” là ý nói pháp bảo do chư Phật tuyên
thuyết, có công năng khai thị chúng sanh ngộ nhập tri kiến
của Như Lai, nên khi Pháp Sư thuyết pháp, hàng thính giả đối
với thầy phải hết lòng kính trọng, không được có bất
cứ hành động trái nghịch nào. Ví như “người Bà La Môn
thờ lửa” là một thí dụ. Trong kinh dạy: “Ðối với người
hiểu biết chánh pháp của Như Lai thì bất cứ già, trẻ,
lớn nhỏ... đều phải cúng dường như Bà La Môn thờ lửa
vậy”.
Vấn
đề người Bà La Môn thờ lửa, tương truyền vào lúc kiếp
sơ khai, khi thế giới này mới thành lập, chư thiên ở cung
trời Ðao Lợi từ thiên giới bay xuống, quan sát cảnh vườn
rừng, ao suối của cõi Diêm Phù Ðề.
Sau
khi quan sát xong, các thiên vương bay trở về thiên giới. Lúc
bay, quang minh trên thân các ngài sáng rỡ như lửa. Khi ấy,
các ngoại đạo tu trong rừng, xa trông thấy cho rằng người
đời do cúng dường lửa mà được sanh lên Thiên Ðường.
Bấy
giờ, hằng ngày lúc mặt trời sắp lặn, họ xúm nhau kiếm
củi chất thành đống lớn, đêm đến đốt lửa cháy bùng
lên, rồi cùng nhau hướng về đống lửa, chí thành cung kính
lễ bái, cho hình thức ấy là một sự kính thờ.
Ở
đây, viện dẫn việc này làm thí dụ. Ý nói hàng Phật tử
đối với bậc sư trưởng thuyết pháp cho mình nghe, phải
hết lòng hiếu thuận cung kính giống như Bà La Môn chí thành,
chân thiết kính thờ lửa.
Trong
Nhiếp Luận dạy: “Nếu người nào dù không giữ giới pháp
được trọn vẹn, nhưng có khả năng giảng nói chánh pháp,
lợi ích cho nhiều người, thì mọi người trên thế gian cần
phải cung kính cúng dường như Phật. Vì lãnh thọ lời thuyết
pháp của vị ấy cũng giống như được nghe Phật thuyết
pháp”.
Trong
kinh dạy, người nghe pháp đối với pháp sư phải hiếu thuận
như đối với cha mẹ, ấy là tôn trọng người. Như Bà La
Môn thờ lửa là tôn trọng Pháp Bảo vậy.
Nếu
Phật tử thuyết pháp trái với lễ nghi thuyết pháp, hoặc
không đúng như pháp mà thuyết pháp thì phạm khinh cấu tội.
Phải
biết rằng đại sĩ khi bố thí pháp, không phải là việc
tầm thường. Cho nên nếu đối với Pháp Bảo hết lòng kính
trọng thì cả người thuyết lẫn người nghe đều có lợi
và công đức không thể nghĩ bàn.
